Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

Trần Dzạ Lữ : HỒ TRỌNG THUYÊN-NGƯỜI LÃNG MẠN CỦA THẾ KỶ


 

Hình : Hồ Trọng Thuyên năm 2017

Tôi nói câu này về Hồ Trọng Thuyên không ngoa ngôn chút nào bởi vì anh ta sinh ra là để ôm choàng lấy chất lãng mạn từ nơi chôn nhau cắt rún là Huế cho đến vùng đất lành chim đậu như SàiGòn hay Hoa Kỳ xa hun hút.Quen nhau từ thập niên 60.Thuyên là một anh chàng đẹp trai, đàn hay hát giỏi nhưng không hiểu sao trời bắt anh ta luôn thất tình.Lũ chúng tôi của thập niên 60 hồi ấy ở Huế gồm Lê Văn tài, Viêm Tịnh,Nguyễn Miên Thảo, Từ Hoài Tấn, Huỳnh Ngọc Thương, Ngụy Ngữ...thường tụ hội nhau đàn ca xướng hát, viết báo, làm thơ dù tuổi trẻ chúng tôi không khỏi bị chi phối bởi chiến tranh.Thời ấy, lang thang đường Trần Hưng Đạo Huế ,anh nào cũng kè kè tờ bán nguyệt san Văn –để khoe với nhau mình có bài đăng ở đó.Tờ tạp chí nổi tiếng chọn bài khó nhất.Hồ Trọng Thuyên không viết bài nhưng luôn đồng hành cùng chúng tôi.Và anh ta thất tình ai, dù có giấu giếm chúng tôi cũng biết( Thuyên trái ngược với Viêm Tịnh-anh chàng này có tiếng đào hoa ở Huế)Cũng do trời phú, cũng bởi thất tình mà Hồ Trong Thuyên hát những tình khúc buồn rất truyền cảm và da diết.Đó là những tình khúc của Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Phạm Duy. Phạm Đình Chương...Cho dù ở những quán cà phê nổi tiếng của Huế hay nhà riêng của bạn bè “mệ” Thuyên luôn phơi bày lãng mạn và trái tim đa cảm của mình qua tiếng hát.Thường thì những anh chàng nghệ sĩ ôm đàn hát rất dễ chinh phục trái tim của những thiếu nữ ( cho dù thiếu nữ đó có kín cổng cao tường hay có một chút hư thân chăng nữa) Vậy mà với mệ Thuyên tôi không tìm ra dấu tích của ái ân mật ngọt nào.Đời chàng cứ trôi đi như thế cho đến lúc bị động viên vào quân trường Thủ Đức.Ra trường, chàng cũng may mắn hơn người là về đơn vị ngay chính quê nhà.Thời gian này tôi cũng như lục bình trôi.Một ngày của thập niên 70, khi về thăm lại Huế tôi lại gặp mệ Thuyên với cấp bậc thiếu úy làm phân chi phu trưởng.Vẫn lãng mạn như thường.Anh kéo tôi tới đơn vị chơi.Vẫn giọng hát da diết ấy khiến tôi bùi ngùi nhớ người yêu thương cũ học trường Kiểu Mẫu ngày nào.Được biết mệ Thuyên vẫn chưa có ai để mặn muối cay gừng.
Sau năm 75, vẫn như mọi người mệ đi cải tạo.Khi về, không sống nổi ở Huế Hồ Trọng Thuyên vào Nam.Thời gian này, Thuyên lang thang và gặp bạn đồng hương cũ như Nguyễn Miên Thảo, Từ Hoài Tấn, Vương Kiều,Nguyễn Văn Trai, Quý Lê Thị Ngọc...Họ thường tụ lại ở quán cà phê đầu đường Sương Nguyệt Ánh.Ngoài chuyện văn nghệ ,họ thường phơi bày tâm tư mình về một nơi yêu dấu nhất -Huế.Huế ở dễ giận mà đi thì nhớ đến quắt quay ,đúng không mệ Thuyên? Nhắc đến quán cà phê thì cũng phải nhắc đến cơ sở tăm nhang ớ gần ngã ba Ông Tạ.Đó là cơ sở làm tăm nhang của vợ chồng Tập-Kiều Huệ.Ôi thời gian ấy khó mà quên.Đời sống tuy không khấm khá gì nhưng cặp đôi này rất thích bạn văn nghệ-nhất là bạn bè Huế.Do đó ,anh em quần tụ về đây như Vương Kiều, Tôi,Song Đầu Lân,Nguyễn Thu,Nguyễn Duy Công,Hồ Trọng Thuyên...Kỷ niệm còn mãi để nhớ nhưng tôi quên mất ngày, tháng năm nào ...Một đêm trăng đẹp( tôi gọi là đêm thu SG ) sau chầu nhậu quất cần câu ở nhà Tập,anh em ra về hết chỉ còn tôi và Hồ Trọng Thuyên ở lại.Tôi kiếm cái võng ngả lưng...Thuyên vì vẫn ôm đàn hát những bản tình ca một mình.Chợp mắt đâu được nửa tiếng,Thuyên lay tôi dậy: “Ui chao ơi! Trăng tuyệt vời rứa mà mi ngủ hí” Tôi làu bàù: “Xỉn rồi đẹp chi mà đẹp! Để tau ngủ.Mi muốn như thi bá Lý Bạch thì cứ ôm trăng mà chết đi..” Nói là nói vậy nhưng tôi cũng trở dậy thức cùng Thuyên đến tàn khuya.Có ai lãng mạn như Thuyên không ? chắc có anh chàng Trần Thoại Nguyên nhỉ.Nửa đêm leo lên mái chùa nhìn trăng rồi ứa ra thơ đó.
Vì sinh kế tôi phải trôi cùng cơm áo.Bẵng đi một thời gian thì nghe tin Hồ Trọng Thuyên lấy vợ.Có một công chúa tình nguyện thề hẹn trăm năm với chàng Hoàng Tử thất tình rồi.Ngạc nhiên chưa? Thế là mệ Thuyên giã từ những ngày tháng ngao du cũ để làm chồng...
Với tôi đó đó là niềm vui thứ nhất để được chia sẻ với bạn. Niềm vui thứ 2 là sau mấy năm Hồ Trọng Thuyên và công chúa sang sinh sống ở Mỹ.
Thời gian sinh sống ở Mỹ, qua tin bạn bè là Hồ Trọng Thuyên và họa sĩ Nguyễn Đình Thuần như bóng với hình.Cũng văn nghệ đình đám...Con người tình cảm dù sống nơi đâu, làm gì cũng luôn chân tình và lồ lộ cái tâm.Mệ Thuyên không quên bạn bè.Mỗi năm đều gửi về cho Anh em Huế ở SG tí ít tiền để lai rai ba xị ( và dĩ nhiên là nhớ mệ) và cũng có vài lần Thuyên về thăm quê.Có lần thấy tôi thích cái áo thun Mỹ anh đang mặc trên người.Mệ cởi ra tặng ngay.
Mới đây tôi được hung tin từ Từ Hoài Tấn ,Hồ Trọng Thuyên đã qua đời bên Mỹ vì bạo bệnh.Sẽ hỏa thiêu và chị Thuyên cùng con gái mang tro cốt về quê nhà. ở Huế.Lá rụng về cội mà.
Tôi sửng sờ thật.
Rồi nhớ một câu nói của ai đó: “ Kẻ ác thì sống lâu.Người hiền thì mau chết..” mà xa xót lòng!
Cầu mong hương linh mệ Thuyên sớm an nhiên nơi cõi vĩnh hằng...

 
Trần Dzạ Lữ

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

nguyễn đình thuần: sự vật vỡ vụn trong một thế giới hỗn mang


♦ 20.07.2018
Màu sắc có sức mạnh trực tiếp chuyển hóa tâm hồn.
 Wassily Kandinsky [1866-1944]
Không hề có nghệ thuật trừu tượng. Bạn luôn luôn phải bắt đầu với cái gì, rồi sau đó mới có thể xóa bỏ tất cả các dấu vết của hiện thực.
 Pablo Picasso [1881-1973]
image
Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần
1.
Có lẽ từ rất sớm trong sự nghiệp hội họa của mình, họa sĩ Nguyễn Đình Thuần đã chọn con đường phi biểu hình, bởi ông thấy đó chính là phương tiện thích hợp nhất cho ông biểu đạt cảm xúc từ trái tim và khối óc. Nghệ thuật Nguyễn Đình Thuần có chủ ý tiếp lực khả năng gợi cảm của hội họa hầu biểu hiện những cảm xúc, cảm quan, cảm thức nằm ngoài đường biên của ý thức hằng ngày. Ở chừng mực nào đó, Nguyễn Đình Thuần là họa sĩ nhưng tâm hồn ông lại là một thi sĩ. Ông làm thơ không bằng hai mươi mấy con chữ mà bằng vô lượng màu sắc, đường nét, ánh sáng, và một lược đồ bố cục của riêng ông. Ông không miêu tả sự vật, sự vật được ông thổi bùa phép tiếp nạp cảm xúc, một cảm xúc trữ tình và hình như đều được biểu đạt bằng trực quan, bằng cái nhìn có tính vô ngôn, như một công án Thiền, khó có thể sử dụng văn tự để giải thích hay bình phẩm. Hình thái ngôn ngữ hội họa của Nguyễn Đình Thuần là một hệ thống tín hiệu được hình thành từ thực tại, cách điệu hóa và cùng lúc trừu tượng hóa để trở nên khái quát, nhờ thế nó không còn là “cái cụ thể” nữa và có khả năng chuyển tải một nội dung hàm súc lớn hơn, cô đúc hơn. Trong khi hiện thực có những giới hạn không thể tránh, trừu tượng giúp nghệ sĩ “nhìn thấy” cái gì thị giác khiếm khuyết, cảm nhận cái gì nằm ẩn giấu bên dưới tầng ý thức. Nó là sự khai phóng tâm trí người nghệ sĩ, giúp thăm dò những vùng ẩn mật của hiện tồn, rút tỉa từ cái hữu hạn để nhìn thấu cái vô hạn. Tương tự như âm nhạc, hội họa trừu tượng không có sức mạnh miêu tả hay biểu hiện thế giới ngoại tại với sự vật hữu quan, nhưng bù vào đó nó có một khả năng thâm hậu biểu đạt cảm xúc nội tại. Tranh Nguyễn Đình Thuần, hiện thực tự nhiên nhường chỗ cho hiện thực trừu tượng, các biểu tượng đời sống cụ thể được biểu hiện dưới một khía cạnh trừu tượng tích cực. Nhờ đó, cảm xúc về cái đẹp là một cảm xúc toàn nguyên, bao quát. Và trong mắt nghệ sĩ sáng tạo Nguyễn Đình Thuần, cái đẹp đó chỉ có thể tìm thấy nơi sự vật dưới dạng tinh tuyền, phổ quát nhất. Chính Piet Mondrian, danh họa bậc thầy của thế kỷXX, người đề xuất họa phái Tân tạo hình, đã phát biểu như sau:
Tôi mong muốn tiến đến sự thật càng gần càng tốt, và bởi thế tôi trừu tượng hóa tất cả cho đến khi nào tôi đạt đến phẩm chất nguyên sơ của sự vật.
Đối với Nguyễn Đình Thuần, tư duy ngôn ngữ hội họa không hơn nhau ở đôi bàn tay khéo léo mà chính là ở tâm hồn nhạy cảm, phong phú của chủ thể. Ông không xử lý sự vật từ góc độ hiện thực, chuẩn xác. Bằng một tâm thế muốn vượt thoát, trong một bề sâu hội họa gần như vô hạn, với một tính khí tự do, phóng khoáng, ông hình dung cái ấn tượng sự vật tạo ra nơi tâm trí rồi phổ lên mặt bố không phải sự vật mà ấn tượng của sự vật. Xem tranh Nguyễn Đình Thuần, người ta có cảm tưởng cái bề mặt hời hợt, sáo rỗng, giống nhau như khuôn đúc của sự vật đã bị ném vào bãi phế thải, để thay thế vào là cảm xúc nội tại được biểu hiện bởi một thế giới muôn hình trạng không ngừng chuyển động trong ống kính vạn hoa được thực hiện bởi một tư duy chín muồi, một tâm hồn khao khát sáng tạo, một con người hoàn toàn đặt niềm xác tín vào sự khai phóng. Điều đó không dễ dàng chút nào, nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có lòng can đảm – như danh họa Henri Matisse có lần phát biểu – lòng can đảm dám tự hủy, chết đi để hồi sinh trong nghệ thuật, không phải một lần mà nhiều lần trong suốt quá trình sáng tạo.
Đi vào bất cứ ngôi nhà nghệ thuật nào cũng có nhiều cánh cửa, người xem tranh Nguyễn Đình Thuần chỉ có thể chiêm nghiệm không phải bằng cánh cửa phân tích lý trí mà bằng cánh cửa cảm nhận trực quan, cánh cửa của thần cảm, linh cảm. Một khi đã xác định rạch ròi cánh cửa nào đúng, phá bỏ các quán tính, tháo dỡ các định kiến lỗi thời để nhìn ra các biểu hiện đặc thù trong hình thái ngôn ngữ hội họa của ông, ta sẽ vô cùng sung sướng theo ông mà thong dong bay bổng.
2.
Bước sang thế kỷ XX, với những cảm thức mới trong Chủ nghĩa Hiện đại Tây phương, thi ca, hội họa, âm nhạc, tiểu thuyết… đã có những nỗ lực cách tân có tính cách mạng, hoặc nói theo thuật ngữ là sự dịch chuyển hệ hình, một paradigm shift. Nó thường được đánh giá như là sự quyết tâm của mỗi loại thể nghệ thuật tiến đến càng gần càng tốt bản chất đặc trưng của chính nó, nói cách khác, bản thể của nó. Thí dụ, thi ca trữ tình từ khước bất cứ cái gì dính lýu đến biện pháp tu từ, tính mô phạm hay sự trau chuốt, để nguồn suối tinh tuyền của giấc mơ tiên trong thơ khơi chảy không ngừng. Tương tự như thế, hội họa từ bỏ nhiệm vụ ghi nhận, sao chép, tả chân, vẽ y như thật – nói chung bất cứ điều gì có thể biểu hiện bằng loại thể khác (nhiếp ảnh chẳng hạn) – để bước lên một thực tại khác cao hơn, một siêu-thực-tại, nơi sự vật được nhìn dưới luồng sáng khác để những khả thể bất ngờ (và thú vị) bật mở trong tâm hồn người xem tranh. (Xin đừng đánh đồng siêu-thực-tại với Chủ nghĩa Siêu thực của Salvador Dali).
Trong phạm vi hội họa, sự dịch chuyển hệ hình đã manh nha khởi động từ họa phái Ấn tượng vào nửa sau thế kỷ XIX, nhưng có lẽ chính Pablo Picasso với bức Les Demoiselles d’Avignon (1907) và Marcel Duchamp với bức Nude Descending a Staircase (1912) đã quyết liệt thay đổi diện mạo hội họa Tây phương, bằng mọi giá thoát ra khỏi ao tù của mấy trăm năm hội họa từ thời Phục hưng. Đây là lúc ý thức con người từ bỏ những ý niệm hiện thực tự nhiên để trang bị cho tri thức những ý niệm hiện thực trừu tượng. Đây là lúc tư duy phát triển, hình thái ngôn ngữ chuyển thể theo ý thức chủ quan, và kết quả là mỗi khách thể có một cách tiếp nhận, cảm thụ khác nhau, không nhất thiết phải giống tư duy của chủ thể sáng tạo ra nó. Nhờ thế, nghệ thuật như được chắp thêm đôi cánh mặc sức mặc tình thăng hoa, bay bổng, chỉ bầu trời cao rộng trên kia là giới hạn mà thôi. Và đừng quên câu nói của Mondrian, cái trừu tượng chính là cái phổ quát. Trên một trăm năm trôi qua, người ta vẫn gộp chung những chuyển đổi cách tân ấy – đôi lúc nổ tung gay gắt với những tuyên ngôn nẩy lửa như trường hợp ra đời của các họa phái Vị lai, Biểu hiện, Lập thể, Dã thú, v.v… – là thời Hiện đại, và hiển nhiên nó có tầm ảnh hưởng cao rộng bao phủ toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Sinh năm 1948 và tốt nghiệp trường Mỹ thuật Huế năm 1974, Nguyễn Đình Thuần không có mặt khi Hội Họa sĩ Trẻ thành lập năm 1966 với sự tham gia của hầu hết các họa sĩ tài danh lúc đó như Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nguyễn Lâm, Nguyên Khai, Đinh Cường, Ngy Cao Nguyên, Hồ Hữu Thủ, Rừng, La Hon, Đỗ Quang Em, Hồ Thành Đức, Nguyễn Phước, Hoàng Ngọc Biên… Mặc dù với hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, đây là bước ngoặt lớn định hình cho diện mạo hội họa Việt Nam nói chung vì nó dám đương đầu với vô vàn khó khăn để tiếp nhận những thử thách mới qua Chủ nghĩa Hiện đại. Mặc dù sinh sau đẻ muộn, không cùng các bậc đàn anh nô nức gầy dựng cao trào có một không hai trong lịch sử hội họa nước nhà đó, Nguyễn Đình Thuần đã sớm nhận thức con đường hội họa ông dấn thân vào phải là con đường mang tên Hiện đại, con đường duy nhất có thể cho ông ghé chân lên tầng siêu-thực-tại, và ông muốn có tiếng nói nơi cõi siêu-thực-tại ấy. Tiếng nói của ông tuy không lồng lộng âm vang nhưng nhờ hướng vào một không gian không có đường biên hay tường thành rào chắn, nó bay xa và có tiếng dội vọng về. Chính cái âm vọng ấy đã khiến tranh Nguyễn Đình Thuần có những điểm độc sáng, riêng biệt. Cảnh giới tranh của ông là một thế giới vụn vỡ, những mô-típ không giữ hình thể nguyên thủy mà vỡ vụn trong một không gian mờ mịt, hỗn mang. Chúng vỡ vụn nhưng không tan biến mà quay về như những nốt nhạc láy rền vang mãi trong tâm tư người xem. Chúng hiện hữu như một âm vọng, quay về mãi, và mỗi lần quay về lại chuyên chở thêm một ý nghĩa khác, tất cả tuôn chảy, cộng hưởng, hòa nhập trong dòng sông của Heraclitus. (“Bạn không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông.”) Xem tranh Nguyễn Đình Thuần, chúng ta chẳng thể nào xem qua một lần rồi quay lui, mà phải xem đi xem lại nhiều lần, bởi mỗi lần xem, cảm xúc dấy lên lần sau không giống lần trước. Mỗi lần xem là một chiêm nghiệm khác nhau, một trải nghiệm khác nhau.
Đừng bao giờ hỏi những đường nét, hình diện khó hiểu trong tranh Nguyễn Đình Thuần nghĩa là gì, có hàm chứa một tư tưởng gì không! Hỏi như thế là chưa hiểu ông. Kỳ thực, ông không quan tâm lắm về mặt tư tưởng, thậm chí ý tưởng cũng chỉ dành chỗ đứng rất mờ nhạt trong nghệ thuật của ông. Ông vẽ vì cảm xúc, nhưng đó là cảm xúc thẩm mỹ chứ không phải cảm xúc ý niệm. Nó không là gì cả nhưng cũng có thể là tất cả. Hơn nữa, hội họa nói chung là để cảm chứ không phải để hiểu, nói cho chính xác hơn: cảm bằng tri thức thị giác. Đối với Nguyễn Đình Thuần, sự định hình, định vị trong tranh là không thiết yếu. Ý định dành quyền quyết định cho ý nghĩa. Ý định bảo đó là mây, nó sẽ là mây; ý định bảo đấy là nước, nó sẽ là nước. Trong một thế giới phiếm định, sự vật vỡ vụn, không tồn tại như nó là, mà đều có thể chuyển thể thành bất cứ cái gì bất chợt đọng lại trong tâm tưởng, tùy vào tâm trạng và tâm thế nghệ sĩ lúc đó. Sự bất định không bắt nguồn từ hư vô mà từ cái hỗn mang của vũ trụ. Sự vật không bao giờ bất biến, nó thay đổi hoài hoài, như dòng chảy miên man của cuộc sống hay vòng quay bất tận của vũ trụ. Cái quý giá hôm nay, ngày mai có thể trở thành đồ phế thải, hay ngược lại. Bởi thế, Nguyễn Đình Thuần không đi tìm chân lý, và hiển nhiên ông cũng không tin vào cái phi lý ở thái cực bên kia, có lẽ ông chờ đợi những tín hiệu đến từ cái khả lý thì đúng hơn, những tín hiệu giúp ông đặt niềm tin vào những khả thể mà con người có khả năng dung nạp nhờ vào ngọn nguồn năng lượng sinh động nằm bên dưới tầng ý thức.
3.
image
Cổng vườn xưa, 65 cm x 65 cm, sơn dầu trên bố, 1992
Không quan tâm miêu tả sự vật hữu quan như nó là, Nguyễn Đình Thuần đặt hết cảm xúc của mình vào tinh thần họa phẩm, do đó, tính biểu cảm trong tranh ông luôn luôn là cao độ, điển hình là bức Cổng vườn xưa vẽ năm 1992. Bức họa được phân bố hài hòa, tinh tế, bố cục không gian cân xứng, chuẩn mực, màu sắc xướng họa nhịp nhàng trong bản giao hưởng nhiều giai điệu và tiết điệu, những vết màu đỏ, vàng chấm phá, nhấn nhá làm điểm vịn, tất cả thỏa mãn tri thức thị giác của người xem tranh. Bố cục ánh sáng tạo nên một vũng sáng ở giữa rồi lan tỏa vào bóng tối xung quanh, tan dần vào gam màu đen xanh làm nền. Ngắm kỹ hơn, bạn có thể nhìn thấy cổng vườn ẩn hiện lờ mờ tại góc dưới bên phải, và ở góc trên bên trái là một con chim (hay con cò, điều đó không quan hệ) đang sải cánh bay vút lên trời cao. Nếu thả cho óc tưởng tượng bay bổng thêm chút nữa, có thể bạn còn thấy những đóa hoa, vài áng mây trắng và những tàn cây rậm rạp phủ kín cái cổng ngôi nhà, mà có lẽ đó chính là hình bóng của quá khứ u hiển hiện về trong tâm tưởng họa sĩ lúc vẽ tranh. Vụt sáng. Vụt tối. Vụt hiện. Vụt biến. Ở bức tranh này, họa sĩ đã sử dụng những biểu tượng hữu quan – những mô-típ cụ thể: cái cổng, con chim, hoa lá – để nói lên cái trừu tượng. Hình thái ngôn ngữ hội họa ở bức tranh là tượng trưng, nhiều ẩn dụ, nó mang nhiều sắc thái thi vị, trữ tình của một bài thơ, và cũng như thi ca, hội họa nơi đây đã vượt qua thế giới hữu hình để đặt chân lên cõi siêu-thực-tại. (Tôi rất thích bức tranh này của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, và đã “mượn” nó làm tranh bìa cho tập thơ Phế tích của ảo ảnhcủa mình.)
Có thể nói tính thơ chiếm một phần trọng đại trong hội họa Nguyễn Đình Thuần. Kỳ thực, hội họa và thi ca thường được xem là một. Chính danh họa lỗi lạc bậc nhất của thời Phục hưng (có thể là lớn nhất của nhân loại từ trước đến nay) Leonardo da Vinci đã nói, “Hội họa là thi ca được nhìn thay vì cảm, và thi ca là hội họa được cảm thay vì nhìn.” Bởi thế chẳng có gì quá đáng nếu tôi bảo Nguyễn Đình Thuần là một thi sĩ. Vài họa phẩm mang nặng dấu ấn thi ca trữ tình của ông tôi có thể liệt kê ra như sau: Vườn địa đàng, Vườn quên lãng, Màu thời gian, Trăng ở quê nhà, Nhật nguyệt, Hoài niệm xanh, v.v… Những nhan đề nghe rất thơ. Họa sĩ chuộng gam màu xanh gợi cảm cho những bức này, xanh tím, xanh dương, xanh lục, xanh xám, xanh da trời, xanh nâu, xanh lam, xanh ngọc bích, xanh ngọc thạch… tùy theo cảm xúc mà sắc độ đậm nhạt khác nhau, và luôn luôn gợi mở một nét buồn hoài vọng.
image
Thủy tinh vỡ, 60 cm x 60 cm, sơn dầu trên bố, 2007
Nếu bức Cổng vườn xưa có thi sắc tượng trưng, vẫn cho người xem tranh một liên kết nào đó giữa thực tại với tâm lý thị giác trên mặt biểu cảm hình thức, thì bức Thủy tinh vỡ đã phá vỡ cấu trúc đó để đặt cảm xúc toàn nguyên vào hình thái ngôn ngữ trừu tượng. Bố cục ánh sáng vẫn tương tự như bức Cổng vườn xưa, nghĩa là vũng sáng ở giữa lan tỏa, len lỏi, tìm cách thâm nhập vào bóng mờ xung quanh, nhưng sự tương tự giữa hai bức tranh chấm dứt ngay đó. Trong khi người xem vẫn tìm thấy một vài mô-típ cụ thể trong bức Cổng vườn xưa thì ở bức Thủy tinh vỡ, tất cả còn lại chỉ là màu sắc và đường nét, cả hai đều được sử dụng như phương tiện biểu cảm. Hình thái ngôn ngữ trừu tượng được biểu đạt từ nhiều góc độ với một bút pháp phải nói là “thần sầu.” (Không biết diễn tả sao cho đúng, bèn dùng ngôn từ hè phố ở đây, biết đâu lại chính xác?) Mọi dấu vết của hiện thực đã bị xóa sạch! Quán niệm về trừu tượng của Picasso được Nguyễn Đình Thuần đem ra thực hiện một cách triệt để. Tất cả còn lại chỉ là hình và bóng bên trong một cảnh giới màu sắc tinh tuyền. Ở đây màu vàng làm chủ đạo, nhưng chính những biến tấu gần như vô tận, vô hạn của màu vàng, từ vàng tươi cho đến vàng đất, cả một quang phổ vàng, đã khiến cảm xúc khi xem tranh gia tăng bội phần. Màu sắc có sức mạnh trực tiếp chuyển hóa tâm hồn. Vâng, chính họa sĩ trừu tượng bậc thầy Kandinsky đã bảo thế. Phần còn lại là đường nét, những đường nét tung tỏa theo những lực hướng phiếm định tạo nên cảm xúc chủ quan là không có khởi đầu mà cũng không có chung cuộc, vô thủy vô chung, mọi thứ như trôi đi trong cõi hỗn mang phiếm bạc.
Thủy tinh vỡ. “Dựa vào nhan đề bức tranh, bạn tưởng tượng nghệ sĩ đang muốn diễn tả điều gì?” “Sự vật vỡ vụn trong một thế giới hỗn mang.” “Not bad đấy, bạn ạ. Bạn cho tôi mượn làm nhan đề bài viết này nhé, nghe rất kêu và rất thời thượng, cảm ơn bạn.” Vâng, trong khoảnh khắc, tôi đồng ý và sẽ nghĩ như bạn. Chưa hết, nghĩ xa thêm chút nữa, tôi còn có thể liên tưởng đến cuộc sống phù du, vô thường này, đẹp đẽ (như thủy tinh) nhưng chóng vỡ, chóng tàn. Vân vân và vân vân. Ôi thôi! Thiếu gì cảm nghĩ và cảm xúc cho tôi và bạn mặc tình, mặc sức tưởng tượng! Thế nhưng, thú thật cùng bạn, tôi tuyệt đối không muốn suy diễn bất cứ điều gì về bức tranh, tôi muốn tâm trí mình hoàn toàn trống rỗng để buông thả hết tâm hồn theo con đường trừu tượng với những tìm tòi về cái đẹp trong một bố cục hài hòa (đừng quên vết đỏ be bé cùng vài nét chấm phá nhấn nhá gần trung tâm làm điểm vịn cho bố cục). Và nếu có hình tượng (thủy tinh, cứ cho như vậy đi) thì nó đã được khái quát hóa và cách điệu hóa để chỉ còn thấy chuyển động và nhịp điệu của sự vật nhịp nhàng trong một không-thời-gian miên viễn. Cái đẹp lạ thường như một thứ ánh sáng nội thân lấp lánh từ thiên đỉnh. Tôi “mê” bức Thủy tinh vỡ đến độ “rinh” nó về nhà treo giữa phòng khách để nghía mỗi ngày cho đã!
image
Thành phố, 30” x 24”, sơn dầu trên bố, 2018
Hiện thực cũng hoàn toàn tan biến trong bức Thành phố Nguyễn Đình Thuần vẽ năm 2017 và hoàn tất 2018. Nếu đó là thành phố Huế thơ mộng (không chắc đúng, nhưng chẳng hề chi), nơi ông mở mắt chào đời và lớn lên, thì tất cả người lạ, người quen, sông núi, thành quách, mồ mả, đường sá, nhà cửa, chợ búa, trường học, thuyền bè, chiến tranh, hòa bình, vòng hoa, khăn tang, tình yêu, thù hận, hạnh phúc, thương đau… trong đó đều đã chuyển thể thành bóng, hình và những bóng, hình ấy mặc thị có một khuôn mặt mới, không, một đời sống mới thì đúng hơn, một đời sống không còn đường biên phân cách, không còn những tranh giành phân liệt, không còn dòng sông chia rẽ. Cảm xúc ở bức Thành phố có vẻ “khốc liệt” hơn, cường độ mạnh hơn bức Thủy tinh vỡ do những khối màu đậm nhạt đan xen, xô đẩy, va chạm nhau bởi những lực hướng năng lượng mãnh liệt như muốn vỡ tung. Nhưng rồi tất cả tan chảy vào một tâm thế nhiêu dung muốn vượt thoát, vượt thoát để mơ tìm về cõi an bình, tĩnh lặng. Về mặt bố cục và gây cảm xúc thì cả hai bức Thủy tinh vỡ  Thành phố đều có hiệu ứng giống nhau mà người xem tranh dễ dàng cảm nhận.
image
Dưới ánh trăng, 45” x 40”, sơn dầu trên bố, 2018
Hiếm thấy những mô-típ cụ thể trong tranh Nguyễn Đình Thuần, ngoại trừ thiếu nữ, như bức Dưới ánh trăng trên đây. Ánh trăng giọi lên nửa khuôn mặt và bờ vai thiếu nữ, màu vàng chanh, thật tuyệt hảo. Màu vàng diễm ảo, huyễn hoặc, mê đắm, tạo cảm xúc nhẹ nhàng, phiêu hốt. Màu vàng không hiện thực, không phải màu ánh trăng tự nhiên, dĩ nhiên, nhưng nhờ cái màu vàng xuất thần, xuất cảm đó mà tâm hồn chúng ta như được chuyển hóa. Khuôn mặt dịu dàng, thanh thản của cô gái ngước nhìn lên trời đêm làm tăng thêm cảm giác an bình, thư thái.
Mô-típ thiếu nữ cũng xuất hiện trong nhiều bức khác của Nguyễn Đình Thuần như Dòng sông ký ức, Sinh nhật, Hoài niệm xanh… Những hình tượng thiếu nữ đều đẹp, nhưng ông chủ ý vẽ nét đẹp của người nữ chứ không phải người nữ đẹp. Nơi đây, người nữ hóa thân làm cái đẹp, hòa nhập vào một tâm cảnh nào đó như hoài tưởng, chờ mong, nhớ nhung, thao thức… Và cũng chính nơi đây, Nguyễn Đình Thuần đã không bứt phá ra khỏi cái đẹp ước lệ đã có từ trên nửa thế kỷ trong hội họa Việt Nam.
Có một kiểu thức chung về hình tượng phụ nữ trong tác phẩm hội họa của những họa sĩ Việt Nam thời kì 54-75 ở miền Nam như Duy Thanh, Ngọc Dũng, Nghiêu Đề, Trịnh Cung, Đinh Cường, Nguyễn Trung, Nguyên Khai… Có lẽ do ảnh hưởng Modigliani, trong mắt những họa sĩ này, hình tượng phụ nữ Việt Nam là một dáng dấp mảnh dẻ, một khuôn mặt thon dài, đôi mắt to u huyền, cổ cao, miệng nhỏ, đôi vai gầy guộc xuôi xuống thân mình vóc hạc xương mai, lẫn với chiếc áo dài mỏng mảnh không biết đâu là da thịt đâu là làn vải áo. Tùy bút pháp của họa sĩ, hình tượng này có thể khác biệt đôi chút về tiểu tiết nhưng đại thể thì không khác. Những kiểu thức hình tượng như thế có lẽ biểu hiện giấc mơ, một giấc mơ ngày chứ không phải giấc mơ trôi ra từ tiềm thức hoặc vô thức của họa phái Siêu thực. Và bởi là giấc mơ nên nó hàm chứa tính nghịch lý nào đó.
Nguyễn Đình Thuần không đi lệch ra ngoài ước lệ đó khi đem hình tượng phụ nữ vào tranh. Nhưng nếu hiểu đây chỉ là biểu hiện cái đẹp thì tính nghịch lý của biểu tượng trở nên thi vị. Cái đẹp đến từ màu sắc, đường nét, bố cục nhưng cũng đến từ biểu tượng. Tuy vậy, ở bình diện khác, qua hình tượng thiếu nữ đẹp, tôi nghĩ Nguyễn Đình Thuần vẫn không quyết liệt từ bỏ thế giới ngoại tại như Mark Rothko, như Lê Tài Điển đã bỏ, vẫn không quay lưng lại quá khứ như Picasso đã làm khi ông vẽ bức Les Demoiselles d’Avignon. Một lần nữa cho thấy Nguyễn Đình Thuần tuy không mấy tin tưởng vào chân lý nhưng cũng không xem cái phi lý là cứu cánh của nghệ thuật. Ông chọn trung đạo, con đường của những khả lý.
4.
Có không một phong cách hội họa Nguyễn Đình Thuần?
Phong cách nghệ thuật, nếu nhìn từ góc độ hình thức, chỉ giản dị là phương thức biểu đạt nghệ thuật. Nó là phương tiện nhưng cũng chính là nghệ thuật sáng tạo, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của nghệ sĩ. Nhưng đấy là giai đoạn phát triển dựa trên thao tác kỹ năng. Nhìn rộng hơn, phong cách nghệ thuật là sự thể hiện hình thái ngôn ngữ trong biểu hiện ý tưởng có tính đặc thù, định hình bởi thiên tư nghệ sĩ, nó đòi hỏi nghệ sĩ phải có một tâm hồn phong phú. Nhà văn quá cố Võ Phiến, khi định nghĩa thế nào là một tác phẩm nghệ thuật, đã bảo: “… Mỗi nghệ phẩm thành công có một linh hồn Cái nhìn [lên sự vật] biểu thị tâm hồn của mỗi nghệ sĩ, cái nhìn là linh hồn của mỗi nghệ phẩm.” Nói chung, mục đích của nghệ thuật là tìm kiếm cái đẹp. Nhưng cái đẹp lại thường ẩn nấp ở những ngõ ngách khó tìm, càng đẹp càng khó tìm, và nhiệm vụ của người nghệ sĩ sáng tạo là khám phá cái đẹp mà người bình thường không nhìn thấy. Nhưng cái đẹp sẽ trở nên không đẹp nếu người nghệ sĩ sáng tạo không có một tâm hồn đẹp. Tác phẩm nghệ thuật thường chứa đựng nhiều bí ẩn của cái chung lẫn cái riêng. Nó là thao tác của tư duy, tâm lý, cảm xúc của người nghệ sĩ sáng tạo, và tùy vào trình độ, tư chất, năng lực, thế giới quan, nhân sinh quan của nghệ sĩ, tác phẩm bao giờ cũng có nét riêng tư. Nó là biểu hiện tâm hồn người nghệ sĩ sáng tạo. Chúng ta bồi hồi, rung cảm trước một bức tranh không phải vì đường nét, màu sắc hay bố cục từ bức tranh đập vào đôi mắt chúng ta mà vì có cái gì đó truyền cảm xúc từ đôi mắt xuống trái tim. Cảm xúc ấy chính là biểu hiện tâm hồn người nghệ sĩ ẩn nấp bên trong ngôi nhà nghệ thuật, và với cảm quan nhạy sắc của người thưởng ngoạn, cánh cửa đi vào ngôi nhà nghệ thuật ấy rộng mở cho phép chúng ta có thể hòa nhập vào tâm hồn người sáng tạo để biết đâu chúng ta khám phá ra một siêu-thực-tại bên trên cái thực tại thường ngày. Phải chăng đấy chính là cứu cánh của hội họa?
Kỳ thực, các nghệ sĩ lớn qua mọi thời đại đều có riêng cho mình cái phong cách đặc trưng này và nó có yếu tính như một dấu ấn khắc họa chân dung nghệ sĩ, cái làm nên nghệ sĩ, cái khiến người nghệ sĩ có một không hai trong thế giới nghệ thuật. Hai nhà soạn nhạc Claude Debussy và Maurice Ravel sinh cùng thời, đều là người Pháp, cùng sáng tác dưới luồng sáng của nhạc phái Ấn tượng, nhưng nhạc của hai ông khác nhau lắm, người nghe không thể lẫn lộn được. Đó là nhờ mỗi ông đều thành công trong việc tự tạo cho mình cái dấu ấn đặc trưng. (Đôi lúc tôi nghĩ nghệ thuật phải chăng chỉ có thế, kẻ thành công lưu danh muôn thuở chẳng qua chỉ là kẻ có tài năng vượt trội biết sáng tạo nên cái khác thường, độc đáo, mà sau khi công bố người đời nhìn vào đều phải bật ngửa, ngẩn ngơ thầm nghĩ: có thế thôi mà sao từ nào đến giờ mình không nhìn ra!)
Một trong những lợi ích to tát của Chủ nghĩa Hiện đại là nó đã thúc đẩy sự sáng tạo đến tới hạn và bởi thế nó giúp không ít danh họa tạo nên cái độc sáng, mà khi nhìn vào tranh của họ, ta biết ngay của ai, không cần nhìn tên tác giả. Picasso, Kandinsky, Matisse, Miro, Klee, Munch, Pollock… có ném vào giữa một rừng tranh thì cũng không sao nhầm lẫn được. Điều này cũng đúng với các danh họa Việt Nam như Bùi Xuân Phái, Thái Tuấn, Đinh Cường… Cố họa sĩ Võ Đình có lần bảo điều làm ông sung sướng nhất là có kẻ ngắm tranh ông, không nhìn chữ kí mà nhận ra ngay bức tranh là của ông. Xem thế, đối với họa sĩ hay bất cứ nghệ sĩ bộ môn nghệ thuật nào, phong cách là cốt yếu cho nghệ thuật của mình. Và cái giá phải trả không rẻ chút nào, như họa sĩ Lê Tài Điển có lần bộc bạch:
… nghệ sĩ tạo hình dựng cho mình một “kiểu thức” của chính mình, điều không thể một sớm một chiều đạt được, là sự trả giá, là đột phá, định tâm… Cuộc thách thức bằng máu, tủy, xương giữa cuộc sống và nghệ thuật.
Tôi đồ họa sĩ Nguyễn Đình Thuần đã hơn một lần đối diện, trong niềm cô đơn tuyệt đối, với nỗi khiếp hãi ghê rợn của “cuộc thách thức bằng máu, tủy, xương giữa cuộc sống và nghệ thuật.”
*
We must go on searching. Chúng ta phải tiếp tục lên đường tìm kiếm. Câu nói của Paul Klee nghe như một châm ngôn. Đúng vậy, thuộc tính bất biến của nghệ thuật là luôn luôn đi tìm cái mới. Chẳng riêng gì hội họa, ở bất cứ bộ môn nghệ thuật nào khác, người nghệ sĩ lúc nào cũng bị ám ảnh bởi cuộc hành trình xuyên vũ trụ không bao giờ đến đích mà mình đang dấn bước. Con đường ấy không có mục đích. Nó cũng chẳng có sứ mệnh, mọi sứ mệnh gán ghép lên nghệ thuật đều dẫn đến nghĩa trang hoặc bãi phế thải ngoài rìa thành phố. Con đường không đưa ta đến chân-thiện-mỹ bởi làm gì có chân-thiện-mỹ trên đời. Nó không màng đến thành công hay thất bại. Và nó nhận thức rất rõ một điều là nếu nó bắt gặp cái gì mới thì sớm muộn cái mới đó cũng sẽ trở nên cũ kỹ và chìm vào quên lãng. Theo tôi, đấy chính là bản chất muôn đời của nghệ thuật. “We must go on searching.
Trên con đường đó, tôi vẫn thấy bóng dáng Nguyễn Đình Thuần, cô độc hơn bao giờ, lặng lẽ cất bước đều.
– Trịnh Y Thư, 6/2018
(Cảm nhận nhân xem loạt tranh Nguyễn Đình Thuần chuẩn bị cho kỳ triển lãm hội họa solo của ông, 20-23 tháng 7 năm 2018, tại hội trường Việt Báo, Orange County, California.
http://damau.org/archives/50135

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2018

Ngọc Lan - Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần: ‘Hội họa là con đường đi không tới’


blank
Ngắm tranh sơn dầu của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần tại phòng tranh Việt Báo. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


WESTMINSTER, California (NV) –
 Giới họa sĩ và những người yêu thích hội họa, nhất là những ai sống quanh vùng Orange County, thêm một lần nữa có cơ hội gặp gỡ, hàn huyên và bàn luận với nhau về màu sắc, về kỹ thuật, về ý tưởng, về cả nhân tình thế thái nhân đợt triển lãm tranh sơn dầu của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần đang diễn ra tại phòng tranh Việt Báo, Westminster, từ Thứ Năm đến Chủ Nhật, 19 đến 22 Tháng Bảy.
Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần sinh năm 1948, tốt nghiệp đại học Mỹ Thuật Huế, là thành viên của Hội Đồng Văn Hóa Đông Hawaii.
Sự “tái xuất” của ông sau tám năm “ham chơi,” mê bạn hữu có lẽ cũng là lý do để cuộc triển lãm mang nhiều ý nghĩa hơn về sự chờ đợi, nhớ nhung, thúc hối của những tâm hồn lấy màu sắc làm ngôn ngữ.
Đứng giữa khán phòng, nơi đang hiện diện 28 bức tranh sơn dầu lớn nhỏ của chính mình, người họa sĩ bước vào tuổi 70, nói như tâm sự, “Nói thật ra thì mình ham chơi. Mình ngưng lại tám năm, kể từ năm 2010 sau triển lãm với Đinh Cường ở Paris, để về nhà với bạn hữu, đông lắm. Ban ngày thì uống rượu cùng bạn hữu, vẽ vào ban đêm cho tâm được tĩnh. Rồi mới chắt chiu từng khoảng màu, từ từ thôi.”
“Có điều phải ghi nhận là bạn hữu rất quý mình, thấy mình ham chơi quá nên họ cứ thúc hoài bên lưng suốt cả hai năm nay, nhất là nhà thơ Trịnh Yên Thư. Mình cứ hẹn lần lữa. Đến lúc thấy mình cũng già rồi, mà con đường này là con đường đi không tới, thì cũng phải cố mà thực hiện buổi triển lãm này,” họa sĩ chuyên về tranh trừu tượng nói.
https://i1.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2018/07/Nguyen-Dinh-Thuan_03.jpg?ssl=1

Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần (trái) giữa bè bạn trong buổi triển lãm tranh sơn dầu của chính ông. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Cái đằm thắm, sâu sắc của người họa sĩ vốn ham chơi, mê bạn này còn chất chứa trong cả việc chọn nơi triển lãm, phòng tranh Việt Báo chứ không phải một nơi nào khác. Bởi “hồi xưa tôi làm triển lãm với anh Đinh Cường ở đây, năm 2005, cũng là do anh thúc hối. Năm 2010 tôi sang Paris triển lãm với anh lần nữa và ngưng tới giờ. Đinh Cường mất hai năm rưỡi rồi. Giờ tôi làm triển lãm ở đây là để nhớ anh, để kỷ niệm với Đinh Cường.”
Có mặt tại buổi triễn lãm trưa Thứ Sáu, họa sĩ Phan Chánh Khánh, hiện ở Santa Ana, nhận xét, “Dưới góc của một người thưởng ngoạn chứ không phải một họa sĩ, tôi thấy tranh của Thuần luôn giữ được nét cá biệt, đó là điều tiên quyết của người sáng tạo. Cho nên mỗi lần nhìn thấy tranh, cho dù không có chữ ký, tôi vẫn dễ dàng nhận ra đâu là tranh của Thuần.”
“Chiều hướng của Thuần đi về trừu tượng, bởi qua tranh trừu tượng Thuần gửi gắm được nhiều điều hơn là vẽ hình ảnh cụ thể. Tranh trừu tượng của anh rất súc tích, súc tích về nội dung, về kỹ thuật, về màu sắc,” ông cho biết.
Hỏi họa sĩ Thuần “làm sao để người ngoài hiểu được ý niệm của người họa sĩ, khi xem đây là loại hình nghệ thuật có ngữ không có ngôn?”, ông diễn giải, “Tranh trừu tượng là theo thưởng ngoạn của người xem. Cùng bức tranh, có người nhìn thấy sao giống ngôi nhà tôi ngày xưa, đó là do bức tranh gợi được dĩ vãng ký ức; người khác xem lại thấy sao giống đồng cỏ nào đó mà họ từng bắt gặp.”
“Điều đầu tiên của hội họa là nhìn thấy đẹp không cái đã, từ dẫn dắt cảm quan mới đi vào nội tâm. Còn trừu tượng thì bỏ qua hình thức đó. Nó đi trực tiếp vào tâm cảm của người thưởng ngoạn. Nhưng nói vậy trừu tượng không có nghĩa là quơ đại từ mảng này qua mảng kia. Trừu tượng có động có tĩnh, có nguyên lý âm dương, nó đánh động tâm hồn mình là do những đậm nhạt của màu sắc. Khi mình nhìn, cảm quan mình thấy rung động liền, không cần hiểu. Đó là ngữ không ngôn. Cảm không cần phải lý giải gì hết, cảm chỉ là cảm,” người họa sĩ nói như đang được khơi đúng sở trường của mình.
Quan sát tranh của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, họa sĩ Nguyễn Thị Hợp cho rằng “tranh của ông thể hiện sự tìm tòi, công phu.”
Họa sĩ Nguyễn Việt Hùng thì lại nhìn thấy “sức làm việc của anh Thuần thật là tốt” qua những gì trưng bày tại buổi triển lãm.
blank

 
 
“Tranh trừu tượng đi trực tiếp vào tâm cảm của người thưởng ngoạn.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Nhà văn Phạm Phú Phong, người từng có những bài viết về sự độc đáo trong tranh Nguyễn Đình Thuần, nhấn mạnh, “Loạt tranh này của ông Thuần là một sự thay đổi, một biểu hiện mới trong lối vẽ của ông, phần nhiều ông dùng màu xanh. Màu sắc trong tranh Nguyễn Đình Thuần luôn mãnh liệt mà tôi phải dùng đến chữ ‘bạo liệt,’ dù là màu nào cũng vậy.”
Không là người thích đùa với màu sắc, cô Nhã Hương, người bạn đời của nhân vật chính trong cuộc triển lãm, có cách thưởng thức tranh riêng: “Tôi thấy tranh anh vẽ màu đẹp, tên đặt cho những bức tranh rất ‘thơ,’ như Cổng Vườn Xưa, Trăng và Thiếu Nữ…”
“Làm bạn đời của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, tôi thấy anh rất khác. Tính anh phóng khoáng, nghệ sĩ lắm, không giận hờn, chấp nhất ai hết, mà cũng không ghét ai. Người ta nói xấu anh, anh vẫn chẳng để bụng, gặp vẫn chào hỏi, bắt tay như thường. Tính anh hay lắm. Tôi nể anh là nể vừa cả tánh tình lẫn tài năng,” cô nói với ánh mắt ngời hạnh phúc lẫn tự hào.
“Hội họa là con đường đi không tới. Đừng nghĩ hôm nay mình bôi mấy miếng màu là nó xong việc. Chỉ là cái duyên, là số phận đẩy đưa mình tới với hội họa, rồi mình cứ đi thôi. Có những đoạn mình tạm dừng là vì mình gặt hái được một bông hoa nào đó. Có lúc mình lại hơi nản tại vì đời sống mình ngắn hạn quá mà cứ làm nữa làm nữa thì nó cũng không tới. Nhưng rõ ràng nó là con đường vô định.” Tôi thích ý niệm đó của người họa sĩ “mê chơi” này.
Ngắm “Thạch Động Hoa Vàng,” “Trăng Cao Nguyên,” “Nỗi Buồn Xanh,” “Ẩn Hoa” hay “Thủy Tinh Vỡ,” “Thiên Thạch,” “Dưới Ánh Trăng,”… của Nguyễn Đình Thuần trong những gam màu, những ẩn dụ, những đường nét khi thanh thản, nhẹ nhàng, lúc như rối bời, hỗn loạn, mỗi người sẽ có những cảm nhận của riêng mình, có thể chẳng giống ai, chẳng liên quan gì đến tên gọi tác phẩm. Nhưng tranh có gợi được gì để níu chân người xem phải dừng lại, ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, mới là điều quan trọng.
Và, nhiều người đã phải đứng lại ngắm nhìn trong cách đó khi đến với phòng triển lãm Nguyễn Đình Thuần.


Ngọc Lan
(từ: NV)
Chép lại từ trang https://www.banvannghe.com

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

THƯƠNG TIẾC HỒ TRỌNG THUYÊN

Kết quả hình ảnh cho vòng hoa tang


                                                                       TIN BUỒN

Bạn bè ở Việt Nam vừa được gia đình báo tin bạn HỒ TRỌNG THUYÊN vừa qua đời ở Cali - Hoa Kỳ vào hồi 13 giờ trưa nay giờ VN (khoàng 1 giờ khuya Mỹ) ngày 22/7/2018 do bệnh nặng không qua khỏi, thọ 74 tuổi.
Thương tiếc người bạn thân thiết đã ra đi bạn bè ờ VN và Hoa Kỳ thành tâm chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc bạn tiếp tục rong chơi ở cõi khác

Viêm Tịnh (Vo Cong Danh Ngoc​) - Nguyễn Miên Thảo - Từ Hoài Tấn​ - Huỳnh Ngọc Thương - Nguyễn Đình Thuần - Lê Ngọc Thuận - Cao Huy Vinh​ - Vợ Văn Viết Lộc - Phạm thị Như Lê - Lê thị Ngọc Quý - Phan Lệ Dung - Trần Dzạ Lữ - Giang Hải - Cao Hữu Điền - Phạm Tấn Hầu - Đưc Phổ - Trương văn Tri ....và tất cả bằng hữu giang hồ của bạn Hồ Trọng Thuyên
 


Hình cũ chụp năm 1968 ở Gia Định nha dì Ba ỡ đường Bạch Đằng. Trong ảnh : Từ Hoài Tấn, Hồ Trọng Thuyên, Nguyễn Miên Thảo, Viêm Tịnh (khi nhập ngũ ở Sài Gòn)


Hình bạn Thuyên chụp với cô cháu gái khi về thăm VN năm 2016
 

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018

Từ tính trẻ thơ tới cổ tích trong tranh Nguyễn Đình Thuần

1.

Tôi không biết có phải linh hồn họa sĩ Đinh Cường, sinh thời, rất thương mến người em văn nghệ của ông là Nguyễn Đình Thuần; hay vì sự thôi thúc của một số bằng hữu, đã dắt tay Nguyễn, trở lại, đứng trước giá vẽ, sau một thời gian dài lâu chia tay khung vải?

DongSongKyUc40X40-content-content


Tôi không biết! Và cũng không bận tâm bởi, với tôi, sự trở lại với hình tượng và, màu sắc của Nguyễn, là điều đáng nói, hơn bất cứ một điều gì khác.

Theo tôi, bất cứ một trở lại, quay về nào, sau một thời gian chia tay dài lâu, đều mang đến cho kẻ trở lại, một trong hai trạng huống: Lúng túng, ngỡ ngàng nơi những giây phút ban đầu. Hoặc mừng rỡ, hân hoan như gặp được, sống lại với tình yêu thứ nhất.

Ở Nguyễn Đình Thuần, tôi cho là trường hợp thứ hai.

Em-NgDinhThuan-content
Xem những bức tranh mới nhất của Nguyễn, tôi cảm được niềm hân hoan, tiếng chuông reo vui, ngân nga trong từng đường cọ, từng nhát dao. Tôi cũng nghe được những trở mình trên cưu mang đằm đằm của những lượng màu sắc vươn vai, tỏa, ngát trên những nẻo đường lắng, sâu nghệ thuật.
Không cần ghé sát khung vải, tôi cũng ngửi được mùi thơm của sơn dầu tuồng đã ngưng đọng trong từng phân vuông hạnh phúc, có lại.

Tôi cho, đó là sự tái sinh hay nụ cười đằm thắm, hiếm hoi, một lần nữa của định nghiệp Nguyễn Đình Thuần.



2.

Tôi không biết ký ức ngàn năm của những vầng trăng mang tên chinh phụ, hay tấm lòng thủy chung vàng mười của những thiếu phụ Nam Xương, của những người mẹ bồng con chờ chồng chinh chiến phương xa, những tượng-đài-tinh-thần của những phụ nữ Việt Nam tiêu biểu,… đã linh ứng trong những tranh thiếu nữ hôm nay, của Nguyễn? Hay đó là linh giác của họa sĩ gặp được tố nữ, bước ra từ trong tranh hoặc, đó là một thứ công chúa ngủ trong rừng, do nợ duyên chưa dứt, thức dạy giữa biếc xanh thương yêu, vàng ươm kỷ niệm, đáp đền tình tri kỷ với họa sĩ?

Tôi không biết. Tôi chỉ thấy, hình tượng thiếu nữ quen thuộc của quảng trường hội họa Nguyễn Đình Thuần, một lần nữa, lại trở về với trái tim mẫn cảm nắng, gió, sương mù của Nguyễn.

NDT-03-HatGiong-content

Tôi không biết. Tôi chỉ cảm nhận, mỗi chân dung thiếu nữ của Nguyễn Đình Thuần là một khắc-họa hoan lạc (hay phiền muộn chân trời?).

Nhưng dù trạng thái nào, tính tinh khiết vẫn là ngọn hải đăng soi sáng cho những tìm thấy bến, bờ nghệ thuật của Nguyễn.

Tùy vị trí, góc độ, tâm cảnh mỗi người mà, chúng ta sẽ có được cho riêng mình một nhan-sắc-vũ-trụ (trừu tượng) hay, một chân dung thiếu nữ (cụ thể)…



3.
Để có được cho riêng mình, dòng chảy nằm ngoài biên độ khung vải, điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta, theo tôi là: Hãy trực tiếp đối diện (đắm mình) vào hình tượng và, sắc màu của Nguyễn. Một trở lại, như tin vui, sau dài lâu, bằn bặt. Một trở lại hạnh phúc, mưng, mưng trên nơi từng thớ thịt, da mang tên hội họa của Nguyễn.

Tôi nhấn mạnh “…điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta là, hãy trực tiếp đối diện (đắm mình) vào hình tượng và, sắc màu của Nguyễn…” Vì mọi trích dẫn, phát biểu của những bậc thầy hội hoa thế giới, theo tôi không hề là đường dẫn, là khuôn vàng, thước ngọc vĩnh viễn sau hàng trăm năm dòng sông nghệ thuật này, không ngừng chảy tới.



Tôi muốn nói, những trưng dẫn đó, chẳng giúp ích bao nhiêu cho giới thưởng ngoạn trình độ trung bình mà, đôi khi còn khiến họ ngơ ngác, rối rắm…

Tôi muốn hỏi, liệu đã tới lúc chưa, ta nên chiết, giảm hoặc ngưng lại thói quen dùng một trừu tượng này (đoạn văn chữ viết), để giải thích một trừu tượng khác (sắc màu, hình tượng)?

Tôi muốn hỏi, có phải phương Tây cho chúng ta kỹ thuật, nhưng không ai có thể cho chúng ta linh hồn, hơi thở của tác phẩm, ngoài thổ ngơi của đất nước?

Thực tế, hôm nay, theo tôi, chưa có một phát biểu (coi như) có tính chân lý vĩnh cửu nào, tồn tại mãi với thời gian.

Chưa kể, phương tây từng có một nhắc nhở rất đáng cho chúng ta lưu ý rằng: Chân lý bên này dãy núi Pyrénées không là chân lý ở bên kia dãy núi.

https://dutule.com/images/file/8AeuZy2e0wgBAMAK/ndt-11-ngaythangcu-content.jpg

4.
Để chấm dứt bài viết ngắn này, từ kinh nghiệm của một người-ngoại-đạo, từng nhiều lần đứng trước tranh Nguyễn Đình Thuần, tôi thấy, dù ở vị trí nào, nếu tôi có được cho mình tâm-thái trẻ thơ, tôi đều nhận được nhiều thú vị bất ngờ, như những ngày ấu thơ được nghe chuyện cổ tích vậy.

Có phải?

Du Tử Lê
 https://dutule.com/p119a8866/tu-tinh-tre-tho-toi-co-tich-trong-tranh-nguyen-dinh-thuan

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

HIỂU VỀ MẠNG XÃ HỘI TỪ GÓC NHÌN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN GIAN


   Lê Thị Thanh Vy
 
Theo quan điểm của các nhà folklore học Hoa Kỳ thế kỷ XX, chủ thể của văn hóa dân gian không còn được hiểu theo nghĩa chung chung hoặc những nông dân không biết chữ nữa, mà là các “nhóm dân gian” (folk group) gồm từ hai người trở lên và chia sẻ với nhau một “văn hóa phi chính thống” (folk culture) nào đó. Một trong những “folk group” sôi nổi nhất của xã hội đương đại là các “folk group” trên mạng Internet/ “folk group” trong môi trường kỹ thuật số (Internet/ Digital folk group). Bài viết này khảo sát một bộ phận của “Internet folk group” đó tại Việt Nam là “folk group” trên mạng xã hội. Dựa vào các cách hiểu đương đại của Folklore học Hoa Kỳ về “văn hóa dân gian” (folklore), “truyền thống” (tradition), “nhóm dân gian” (folk group), chúng tôi vạch ra những “luật chơi” của môi trường dân gian trên mạng xã hội, từ đó lý giải cho sự say mê (và kèm theo cả sự e dè) đối với mạng xã hội tại Việt Nam.
 
“Truyền thống” bao hàm cả cái đang diễn ra, và “dân gian” có thể là tất cả mọi người, mọi thành phần xã hội
Folklore học (tạm dịch là ngành nghiên cứu văn hóa dân gian) là một ngành học phát triển mạnh ở Hoa Kỳ ngày nay. Lynne S. McNeill trong một giáo trình ngành Folklore học đã định nghĩa folklore như sau: “Folklore là văn hóa truyền thống và phi chính thống. Đó là tất cả những gì thuộc về văn hóa - như phong tục, truyện kể, trò đùa, nghệ thuật - mà chúng ta học lẫn nhau; bằng đường truyền miệng hay bằng cách quan sát, hơn là từ những tổ chức chính thống như trường học hay phương tiện truyền thông” (1).
Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ngộ nhận về văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian thường được gắn với những gì xưa cũ, thuộc thế hệ ông bà cha mẹ của chúng ta, hay gắn với tầng lớp nông dân ít học. Tuy nhiên, ngành nghiên cứu văn hóa dân gian trên thế giới thế kỷ XX đã chỉ ra rằng: đặc tính của văn hóa dân gian là truyền thống chứ không phải cổ truyền, và dân gian cũng không đồng nghĩa với bình dân (2).
Khái niệm “truyền thống” tại Việt Nam thường được hiểu theo chiều kích lịch đại và theo thời gian; nhưng thật ra truyền thống còn có cả chiều kích đồng đại và trong không gian nữa. Từ năm 1893, nhà folklore học người Anh là Joseph Jacobs trong công trình The Folk (Dân gian) đã chỉ ra rằng [1] folklore liên tục được cập nhật (update) và sáng tạo ra (invent), và vì vậy mà folklore bao hàm sự đổi mới (innovation), và hệ quả là nó bao hàm cả sự chủ động và mang tính cá nhân; [2] “folk” không phải là một cấp bậc (level) của xã hội, mà là một nhóm người chia sẻ với nhau một truyền thống, và họ có thể thuộc về bất kỳ tầng lớp nào; và [3] truyền thống không phải là tri thức thuộc về những người không biết chữ/ thất học (illiterate), mà là một quá trình mà các thành viên trong đó hiểu các quy tắc ứng xử bằng cách làm theo những khuôn mẫu có tính không gian và tâm lý (3).
Như vậy, truyền thống là cái chúng ta đang tạo ra mỗi ngày, đang thích nghi những di sản của cha ông vào trong những điều kiện hiện đại và đương đại của chính chúng ta. Truyền thống không phải là cái cố định, tĩnh tại, đã qua; mà là cái đang vận động, đang biến đổi. Đồng thời, những biến đổi đó không phải ngẫu nghiên, rời rạc, cá thể mà là sự biến đổi được dân gian (folk) đồng thuận ở cấp độ xã hội. 
“Dân gian” ngày nay không chỉ có nghĩa là những nông dân không biết chữ, ít học; dân gian (folk) ngày nay được hiểu là tất cả mọi người, họ tạo thành các folk group (nhóm dân gian) theo nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau (folk group nghề nghiệp, folk group tôn giáo, folk group công sở, folk group trường đại học, folk group trẻ em, folk group kỹ thuật số - các “cư dân mạng” theo cách gọi hiện nay). Các thành viên trong folk group này chia sẻ với nhau một folk culture bên cạnh một văn hóa chính thống (institutional culture). Và bất cứ khi nào có con người, có sự giao tiếp thì có folklore hay văn hóa dân gian! (4) 
 
“Cư dân mạng” là một nhóm dân gian và chia sẻ với nhau một văn hóa dân gian
Như đã trình bày ở trên, văn hóa xã hội bao hàm văn hóa chính thống và văn hóa phi chính thống (tức văn hóa dân gian). Chúng ta không thể hiểu thời đại của mình nếu bỏ qua phần văn hóa dân gian đó. Và mạng xã hội cũng là một môi trường dân gian như thế. Ở đó, chúng ta có một “cộng đồng” đang giao tiếp và tương tác mạnh mẽ với nhau mỗi ngày, đang sản sinh ra những “luật chơi” (rules) riêng cho họ, sản sinh ra một nền văn hóa phi chính thống, tươi trẻ và đầy tính phản biện.
Ở phương diện nội dung và hình thức biểu đạt của nền văn hóa dân gian đó, chúng ta thấy một bức tranh phong phú bề bộn: các câu chuyện cười chính trị-xã hội-văn hóa, truyền thuyết đô thị, chuyện kể kinh nghiệm cá nhân, truyện ma…; các thông tin và kiến thức được chia sẻ hàng loạt: kĩ năng sống, nuôi dạy con, làm đẹp, sơ cấp cứu…. Cộng đồng mạng sử dụng những cách diễn đạt rất “dân gian”: vừa rập khuôn theo công thức (hay còn gọi là mô-típ), vừa sáng tạo trong việc tạo ra các dị bản đa dạng (“Chỉ có đàn ông mới mang lại hạnh phúc cho nhau”, “Chỉ có phụ nữ mới mang lại hạnh phúc cho nhau”; “Người yêu không có nhưng chó phải có một con”, “Người yêu không có nhưng bạn thân phải có một đứa”…); và một “kho” những biểu tượng cảm xúc (emoticons), những hình động, những từ viết tắt (lol, kaka, hehe, ahihi, ahuhu) để tăng tính biểu cảm chính xác hơn khi không thể giao tiếp mặt đối mặt. Văn hóa mạng xã hội có sự kết hợp của ngôn ngữ, hình ảnh và âm thanh. Rất phổ biến trên mạng xã hội là các Internet meme (thường gọi là “ảnh dìm”, “hình troll”) - một hiện tượng sống động của văn hóa dân gian thời đại kỹ thuật số. Các meme này sử dụng những hình ảnh có tính phổ biến (các nhân vật quen thuộc như Doraemon, Bạch Tuyết, Tổng thống Trump, Obama, “Cô giáo bọ cạp…”) và lắp ghép vào đó các câu châm ngôn hài hước theo một công thức nào nó được biến tấu lại (5).
“Cộng đồng mạng” chính là nhóm dân gian (folk group) và đây là môi trường dân gian đúng nghĩa. Không có một văn bản chính quy nào dạy chúng ta phải ứng xử ra sao trên facebook, chúng ta chỉ việc quan sát người ta làm và làm theo thôi. Quan sát và làm theo là một đặc thù của văn hóa dân gian. Trong đời sống dân gian, nếu chúng ta ngoáy mũi khi đứng trước mặt sếp, hay chạy đến ôm hôn thắm thiết cha mẹ của bạn mình, hay vào tiệm thức ăn nhanh và ngồi lên bàn, đưa tay vẫy người phục vụ đến ghi món… thì chẳng ai phạt tiền hay tống giam chúng ta cả, nhưng chúng ta sẽ bị nhìn như người ngoài hành tinh. Các khu vực dân gian đều có những quy định bất thành văn của nó. Trong nghệ thuật dân gian thì quy định này còn rõ ràng và chặt chẽ hơn. Chẳng hạn như, ca hát Quan họ - đỉnh cao của nghệ thuật ca hát dân gian - có những quy định rất nghiêm túc và đôi khi ngặt nghèo. Việc các liền anh, liền chị chỉ có thể giãi bày tình yêu dành cho nhau trong nghệ thuật nhưng trong cuộc đời thực thì không được tiến đến hôn nhân là một quy định rất “trái ngang” như thế, nhưng những người tham dự đều tự nguyện chấp nhận và làm theo. Tuy có những luật lệ nghiêm khắc và chặt chẽ nhưng ca hát quan họ vẫn không trở thành biến thành văn hóa chính thống mà vẫn trong địa hạt văn hóa dân gian; vì những quy định đó được xây dựng trên hạt nhân cốt lõi là sự tự nguyện của mỗi cá nhân khi muốn gia nhập vào cộng đồng đó (khác với thể chế chính thức - không có vấn đề tự nguyện hay ý muốn cá nhân).
Tuy nhiên, do thiết chế mạng xã hội quá mới mẻ (so với các thiết chế cổ truyền) nên những “rules” này cũng gây tranh luận gay gắt ngay trong chính những thành viên của mạng xã hội: người thì bảo chỉ nên chia sẻ những nội dung vui vẻ tích cực, người thì bảo facebook là trang cá nhân nên tôi toàn quyền sử dụng; người thì bảo đừng tranh luận trên facebook vì vô bổ, đầy rẫy ngụy biện, tốn thời gian, người lại bảo không góp tiếng nói gì hết thì sử dụng facebook làm gì, v.v..
 
Những “luật chơi” của mạng xã hội
Là một cộng đồng, không gian văn hóa đặc thù, mạng xã hội cũng có những “rules” (luật chơi) của riêng nó. Để hiểu về mạng xã hội không thể không vạch ra được các “rules” này; đồng thời để đánh giá khách quan về nó, không thể lấy “luật chơi” của những khu vực văn hóa khác để áp đặt và phê bình nó.
“Luật chơi” đó phải được thiết lập dựa trên những đặc thù của môi trường mạng xã hội và phải do các thành viên đồng thuận (một cách phi chính thức) chứ không thể do một cá nhân riêng lẻ nào thiết lập. Chẳng hạn như, nếu một người nào đó tham gia mạng xã hội rồi hùng hồn đưa ra quan điểm từ nay sẽ không tranh luận trên mạng xã hội vì cho rằng nó vô bổ, đầy rẫy ngụy biện và tốn thời gian. Lúc đầu, có thể anh/chị ấy sẽ được mọi người khen ngợi, đồng tình (vì mạng xã hội rất thích các tiếng nói trái chiều). Nhưng nếu về lâu dài, anh/chị ấy cứ tiếp tục “không bình luận” trên mạng xã hội thì các quan hệ mạng xã hội của anh/chị ấy sẽ dần dần biến mất; và tự bản thân anh/chị ấy cũng sẽ chán nản và cảm thấy bị đẩy ra rìa của mạng xã hội. Đặc trưng này là điều làm nên tính dân chủ và tươi trẻ của mạng xã hội.
Dù chưa định hình một cách cụ thể như đã nói ở trên, nhưng bước đầu chúng ta có thể nêu ra một số “rules” phi chính thức trên mạng xã hội, nhưng hầu hết mọi người sử dụng mạng xã hội đều ít nhiều thừa nhận, như sau:
Tính chất chính của mạng xã hội là giải trí, và nhiều ứng xử trên mạng sẽ tuân thủ nguyên tắc này. “Vui là chính” nên nhiều người sẽ không ngại ngần đăng rất nhiều ảnh (có thể đăng liên tục, ảnh tự chụp hoặc người khác chụp, “nghệ thuật” hoặc “báo chí” hoặc “bình dân/ đời thường”). Giải trí là quan trọng nên một bài viết cũng không quá dài (nhiều khi vài dòng là đã có một trạng thái), ngắn gọn, rõ ràng, kèm theo ảnh minh họa. Đó là nguyên tắc dựa trên tính chất của mạng xã hội, nên hoặc là bạn chấp nhận (có thể lặng lẽ bỏ theo dõi tin về người đó như một giải pháp không còn thấy về người đó trên “tường” của mình), còn nếu bạn phê bình trực tiếp thì bạn sẽ trở nên lạc lõng hoặc mất lòng bạn bè.
Tính chất quan trọng thứ hai của mạng xã hội là tương tác. Tương tác gồm nhiều hình thức: bày tỏ sự yêu thích, tiếc nuối, phẫn nỗ; hoặc bình luận đơn giản xã giao, hoặc bình luận thân mật…; và khi người khác bình luận về bạn thì bạn không thể không trả lời. Bởi vì là tương tác nên nó cũng tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp thông thường: hô - ứng và hồi đáp, hài hước đúng chỗ, tùy vào quan hệ thân sơ mà có thái độ phù hợp,v.v..
Một đặc tính quan trọng nữa làm nên sức thu hút của mạng xã hội là tính chất dấn thân và ý muốn cải tạo xã hội. Đây chính là khía cạnh thực tế, cụ thể nhưng được xây đắp trên nền móng đượm màu sắc bay bổng, lãng mạn không thể thiếu của bất kỳ một nền văn hóa dân gian nào. Mạng xã hội là nơi tập hợp những con người có một lý tưởng hành động trên rất nhiều lĩnh vực đa dạng, tụ hội họ vào những nhóm lớn nhỏ khác nhau chia sẻ cùng một vấn đề nào đó: chính trị, làm đẹp, sức khỏe, nuôi dạy con cái, du lịch, tiêu dùng thông minh, bảo vệ môi trường… Đặc tính này được thể hiện qua hai hình thức: cá nhân (facebook cá nhân) và tập thể (fanpage). Đây là một môi trường mà sức cạnh tranh của facebook cá nhân nhiều khi còn mạnh mẽ hơn fanpage của một tổ chức. Các cá nhân có thế mạnh về một số lĩnh vực nào đó (lịch sử, nuôi dạy con, làm đẹp…) tập hợp xung quanh họ một lượng tương tác rất đáng kể. Do bị chi phối bởi đặc tính tương tác nói trên nên mọi người nhiều khi thích tương tác với một nhân vật mạng xã hội cụ thể, sống động hơn là một tổ chức chung, phi cá nhân nào đó được quản lý bởi một hoặc một đội admin (người quản lý) giấu tên.
Theo chúng tôi, ba thuộc tính nổi trội trên hình thành các “luật chơi ngầm” trên mạng xã hội mà các thành viên trong cộng đồng muốn tham dự phải tuân thủ nếu muốn có một đời sống trên mạng xã hội lành mạnh, tích cực: tôn trọng sở thích, khuynh hướng, lý tưởng của các thành viên khác của cộng đồng mạng; không thể từ chối tranh luận và khi giao tiếp phải tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp như một giao tiếp ngoài đời thực,v.v..
Dù ngày nay đã có sự tham dự mạnh mẽ của tổ chức, tập đoàn, thậm chí phòng ban, chính phủ; nhưng chúng tôi nghĩ đặc điểm căn cốt, làm nên bản sắc và sự sống còn của mạng xã hội vẫn là tính cá nhân, trong đó tính giao tiếp, sự tương tác cá nhân trực tiếp là tối quan trọng để duy trì sự tồn tại của môi trường này (Đó là lý do chính mà chúng tôi tự tin gọi mạng xã hội là một hình thức của môi trường văn hóa dân gian đương đại). Các tổ chức văn hóa xã hội, các hình thức kinh doanh online, các fanpage chính phủ, fanpage các thương hiệu hàng hóa… nếu muốn gia nhập môi trường này thì họ phải tuân theo những “luận chơi” đó: phải giao tiếp và tương tác, phải có tính giải trí, phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. 
 
Niềm yêu thích mạng xã hội tại Việt Nam và những “lấn cấn” của người Việt về ích lợi và tác hại của mạng xã hội
Tại sao mạng xã hội phát triển mạnh ở Việt Nam? Theo thống kê của Hootsute và We Are Social vào tháng 4/2018, mạng xã hội có đông người dùng nhất là Facebook với 2,23 tỉ người dùng; trong đó Việt Nam là nước có số lượng người dùng Facebook lớn thứ 7 thế giới với 58 triệu tài khoản (6). Dĩ nhiên có nhiều lý do để lý giải cho hiện tượng này. Trong bài viết này, chúng tôi thử lý giải dựa trên văn hóa và nếp sống “cổ truyền” của người Việt đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và các hành vi, quan hệ văn hóa ngày nay.
 
Người Việt Nam là dân tộc yêu thích đời sống làng xã, những quan hệ thân tình. Vì thế mà phải chăng khi xã hội đô thị hóa và không gian sống bị thu vào những căn hộ chung cư, những ngôi nhà phố, cảm thức tiếc nuối về không gian “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, hay gần đây hơn là những khu “ngõ nhỏ, phố nhỏ/ nhà tôi ở đó” - những tổ dân phố - đã phần nào dần dần chuyển dịch lên mạng xã hội. Nơi đó có một đời sống sôi nổi những mối quan hệ từ họ hàng đến thân thiết, hơi thân thiết, và thậm chí không quen biết ngoài đời nhưng ít nhiều cảm mến nhau qua mạng.
Tại sao mạng xã hội bị phê phán tại Việt Nam (song song với sự say mê mạng xã hội tại Việt Nam)? Theo chúng tôi, đó là khi người sử dụng chưa ý thức được sự rạch ròi giữa các môi trường tương tác, dẫn đến sự chồng lấn giữa các môi trường. Có nhiều loại biểu hiện của sự chồng lấn này, xin đơn cử hai trường hợp: 
1) Chồng lấn giữa không gian của quan hệ cá nhân và không gian của quan hệ mạng xã hội. Có những hình ảnh mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu: gia đình đi ăn tối, bạn bè đi chơi, tình nhân hẹn hò nhưng mỗi thành viên trong nhóm đó lại mỗi người sử dụng một chiếc điện thoại thông minh để lên mạng xã hội;
2) Chồng lấn giữa không gian công việc và không gian mạng xã hội. Chúng ta có thể bắt gặp cảnh vào những giờ làm việc ở văn phòng, khu dịch vụ… nhưng máy tính của nhân viên luôn mở Facebook hoặc đang trò chuyện trên Messenger. Đó là sự lấn sân của không gian mạng xã hội sang không gian làm việc. Ở một hướng ngược lại là sự lấn sân của không gian làm việc sang không gian mạng xã hội: Với một chiếc điện thoại bật 3G 24/24, nhân viên có thể nhận chỉ đạo của sếp 24/24, học trò có thể hỏi han thầy cô 24/24, và một số thầy cô nhiều khi cũng chọn hình thức mạng xã hội để làm mới các hoạt động giảng dạy của mình.
Những sự lấn sân này hình thành một sự ác cảm về mạng xã hội (song song với sự tôn vinh mạng xã hội): mạng xã hội là nơi làm đứt gãy các quan hệ gia đình, cá nhân; mạng xã hội khiến chúng ta mệt mỏi vì đến thời điểm nghỉ ngơi vẫn phải trả lời các tin nhắn về công việc, khi việc học hành và làm việc lấn sang cả những giây phút thư giãn, giải trí. Tuy nhiên, cũng phải nhận thức rằng: những phân tích trên cho thấy tự thân mạng xã hội không tiêu cực. Nếu chúng ta biết cách khu biệt các không gian này và tránh sự chồng lấn kể trên thì mạng xã hội nhiều khi lại là phương tiện làm đầy thêm và sâu sắc hơn các quan hệ xã hội và cá nhân của chúng ta, trong điều kiện không gian sinh sống và tương tác thực tế đang thu hẹp như hiện nay. 
 
Lời kết
Một trong những vấn đề của nghiên cứu văn hóa là ranh giới giữa văn hóa trung tâm và văn hóa ngoại vi, hay sự chuyển dịch từ văn hóa từ trung tâm sang ngoại vi. Hiện tại, mạng xã hội là khu vực văn hóa ngoại vi, nhưng dần dần, nó đang chuyển vào trung tâm: ngày nay, nhiều người không đọc báo giấy mà đọc báo mạng (vì có nhiều comment tương tác thú vị hơn dưới các bài báo mạng), thậm chí không vào website của báo để đọc mà chỉ xem cư dân mạng chia sẻ những vấn đề thời sự gì vì thường cư dân mạng rất nhanh chóng và rất “thực” (theo quan điểm của người đọc những thông tin loại này); ngày nay, nhiều người không xem ti vi nữa vì mạng đã trở thành một kênh giải trí chính; mạng xã hội là công cụ giám sát của người dân, và nhiều quyết định của chính quyền hay tổ chức ngày nay đang bắt đầu dựa trên những phản hồi và những tiếng nói rất mạnh mẽ từ cư dân mạng.
Sâu xa hơn nữa, với điều kiện làm việc, học tập, ăn ở và giao thông đi lại ngày nay, tương tác mạng đang tăng dần lên; các mối quan hệ trên mạng đang dần trở thành một phần trong các quan hệ của con người: mạng không còn “ảo” nữa, mạng có những quan hệ bạn bè đích thực giúp đỡ nhau khi hoạn nạn ốm đau, chia sẻ với nhau những thời điểm đặc biệt (và cả không đặc biệt) của mỗi thành viên, trên mạng có những cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc (lẫn thiếu nghiêm túc) mà những người tham gia không có quan hệ ngoài đời thực. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về môi trường “dân gian” này.
 
Lê Thị Thanh Vy, ThS.
 
Chú thích
(1) Lynne S. McNeill (2013), Folklore Rules, Utah State University Press, tr.16.
(2) Xem thêm:
- Mamie Harmon (1949), “Folklore”, Funk and Wagnalls Standard Dictionary of Folklore, Mythology, and Legend, 2 vols., ed. Maria Leach, New York: Funk & Wagnalls, tr.399-400.
- Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19. 
(3) Joseph Jacobs (1893), “The Folk”, Folk-Lore 4, tr. 233-238, dẫn theo Simon J. Bronner, Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group, tr.18.
(4) Xem thêm Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19 và Lynne S. McNeill (2013), “Types of Folk Groups”, Folklore Rules, Utah State University Press, tr.65-88.
(5) Có thể tra cứu trên Google với các từ khóa như “Internet meme”, “Viet Nam” để tìm hiểu thêm.
 
Tài liệu tham khảo
1. Bronner, Simon J. (2017), Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group.
2. McNeill, Lynne S. (2013), Folklore Rules, Utah State University Press.
3. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số thuật ngữ đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
 
Nguồn : http://www.viet-studies.net/LeThiThanhVy_HieuMangXaHoi.html