Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

Thơ TỪ HOÀI TẤN (Trích lại từ blog tanmanvanchuongthephong.blogspot.com)

 

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016

đôi bài thơ đáng đọc của từ hoài tấn / blog tuhoaitan)

tựa chính bài 'mấy bài thơ đầu năm 2016'
blog tuhoaitan


       đôi bàthơ đáng đca t hoài tn
                                                      thơ  từ hoài tấn

                                              từ hoài tấn :" cuộc đời này có bao nhiêu kẻ tử đạo như thế ..."
                                                                                                      (ảnh: internet)




  MỘT NGÀY THÁNG GIÊNG VÀ SỰ TRỞ LẠI CỦA BẦY CÁO


Tôi sẽ không nói với bạn bè
Tháng giêng đã đi qua
Và tôi không làm gì được
 Bởi sự nối tiếp liên tục của thời gian
Và cuộc sống cũng không nghỉ được


Trong khi bạn muốn tôi nói về
 Tình yêu đẹp 
 Và cô gái đẹp
 (sự thật thì dễ thương cũng được) 
 Tôi sẽ không nói được gì với bạn
 Vì tôi đâu có tình yêu
 Cô gái của tôi cũng không có thật


Bạn muốn tôi nói về cuộc sống là một cuộc đấu tranh
 Nhưng bạn ơi
 Chuyện không bao giờ có
 Bởi không thể có một cuộc đấu tranh như bạn muốn trong thời đại này
 Thời đại giả tạo


Tôi sẽ không nói gì được với bạn về
Tất cả mội chuyện 
Vì sao vì sao
Những câu hỏi không kết thúc
Bởi bầy cáo đã trở về




BÀI TƯỞNG NIỆM KỀN KỀN


Những bãi đáp của chiến tranh không còn là nơi dung thân của lũ kền kền ngày đêm túc trực
Chiến tranh đã lùi sâu
Nhưng không phải chấm dứt
Đấy là một cuộc chiến khác
Sẽ không có súng đạn
Thay vào những thứ khác
Cũng vẫn là những phương tiện của tội ác
Và như thế không thể chấm dứt được
Không bao giờ chấm dứt được những cuộc chiến
Khi còn loài người
Không thể có bài tưởng niệm kền kền
Lũ kền kền lúc nào cũng có việc để làm
Lúc nào cũng nhiều thức ăn dành cho chúng


Chỉ có những kẻ mơ mộng và huyễn hoặc mình
Bằng bài tưởng niệm kền kền tưởng tượng


Cho nên
Và vì thế
Không có bài tưởng niệm nào
Trong nghĩa địa đen
Kền kền vạn tuế




NGƯỜI QUYẾT LIỆT


Có cuộc cách mạng nào không phảu hy sinh
Hy sinh sự tự do
Để đi tìm sự tự do khác
Đó cũng là sự hy sinh một thời đại này
Để đổi lấy một thời đại khác


Những kẻ đã lên giọng ví von
Thuyết phục bằng những lời đẹp đẽ về một cuộc đời mới
 Bằng hy vọng và niềm tin của chúng ta
Về sự thay đổi cần thiết


Chỉ có những người quyết liệt
Không bao giờ tin rằng
Có cuộc cách mạng
Không bao giờ có cuộc cách mạng
Của những người chân thật
Không bao giờ có được sự tự do
Khi vắng những người quyết liệt




KẺ TỬ ĐẠO


co những người tự vinh danh
tự buộc mình vào một ý tưởng cao cả
tự thỏa mãn mình bằng sự vượt lên trên kẻ khác như hành động không giống ai
tự cho mình là người đi trước
tự mình xây dựng một niềm tin khác lạ (sự huyễn hoặc thần bí)
tự cho rằng ta là kẻ khai sáng
tự xưng tụng mình là người phản kháng
và thế giới này đang cần môt vị dẫn đường về trong khi loài người thất lạc


cuộc đời này có bao nhiêu kẻ tử đạo như thế


có những người không ai muốn gọi tên
tự cho cuộc sống mình mất tích
tự ru hát vi vu như đám lau sậy bên biền sông
tự buộc mình lên đỉnh cao kêu gọi sự vắng mặt của tự do
tự mơ mộng về một thời xuân của hoa lá
tự nuôi mình bằng khát vọng của người đấu tranh
tự đập vỡ những bước tường đã cách ngăn của quá khứ
và viết lại lịch sử


cuộc đời này có bao nhiêu kẻ tử đạo như thế


nhưng có chăng người tử đạo ?

TỪ HOÀI TẤN
(blog tuhoaitan)

THƠ NGUYỄN THANH VĂN

 


1.   TRẢ LỜI MỘT NÀNG

 

Anh đã xế nhìn thu không buồn nữa

Ngửa bàn tay trắng đủ cả hai tay

Xa xôi lắm, ít hành trang càng nhẹ

Gom gió đủ rồi sẽ cất cánh bay

 

 

2.   VỚ VẨN  

    

Vũ trụ thấy qua đầu mười ngón tay dọ dẫm

Nguyên tố nào ám ảnh một đời ta

Đầu rũ xuống đòi thấy trời xanh thắm

Phận ăn khuyết, ăn non

Sao uống được trăng rằm!

 

 

3.     MÙA THƠ CUỐI  

                                           

Trời đã xám

Chiều buồn như lục bát

Nghiến răng bứt thành từng mảng ngũ ngôn

Hồn chùng xuống 

Quờ quạng tìm tri âm

Huyên thuyên tự do 

Sá chi vần với điệu

Nhưng mùa thơ sắp mãn rồi

Bám chi nữa ngũ ngôn, thất ngôn, tự do hay

 lục bát

(Không đọc nổi Khế Iêm

không đủ thời gian luyện kung-fu tân hình

 thức)

Náu trong xó xỉnh

Thử yên ắng dỗ hồn thấm mỏi

Nhìn hoa lá văn chương lả tả rụng rơi rồi!

 

 

4.   LẠI TỰ VẤN

 

Đi làm về… ngủ

Ăn rồi… ỉa

Uống rồi… đái

Sống rồi… chết

Còn gì khác không!

Còn gì mới hơn không!

 

 

5.   RU TA RU ĐỜI

 

Đôi lần tôi chợt vắng tôi

Mái hiên mưa dột đất trời rụng theo

Vẳng nghe ngựa hí lưng đèo

Mà không thấy bóng giữa chiều in sương

Trong tâm thăm thẳm vô lường

Gió rung cột sống vô thường thân côi

Rằng trong một khúc ru đời

Bao nhiêu tiền kiếp thôi đòi nợ xưa!

 

 

6.  AN ỦI BẠN LÚC SA CƠ 

 

Ban công đổ tí nắng chiều

Thiu thiu ngủ, đếm ít nhiều trăng sa

Sương lành lạnh, mắt nhập nhoà

Lòng nay không mộng, trăng tà bóng xiêu

Thoáng hồn ai dáng cô liêu

Chú chim lỡ độ nằm liều ghế bên

Ta vờ như kẻ ngủ quên

Đã nghe quờ quạng, tiếng rên rỉ chào

Khuya chia tay, nhớ bay cao

Giữa hư vô lạnh níu sao bay cùng

 

 

7.  CỬA CHƯA BAO GIỜ KHÉP    

                

Ta từng dừng lại

Hiên mờ cửa khép

Quá nửa đời người chờ một phút thăng hoa

Thật hay mơ 

Loạng choạng  đứng lên 

Sờ soạng tìm ổ khoá

Ai dám tin 

Cửa chưa khép bao giờ!

 

 

8.   LẠI NGUỴ TÍN

 

Sóng triều đang dâng

Hồn rút vào vỏ ốc

Tự vỗ về còn vị mặn đại dương

Thơ ầm ào sóng thần và dông bão

Ta cô sơn lẫm liệt nhất trên đời

Vỏ ốc thay tên

Nay gọi là lâu đài của hàng tân vương giả

(Chủ nhân vượt biên rồi

Hộ khẩu đã làm xong!)

Nhả chất nhờn bít cổng vào

Chỗ vỏ sứt biến thành cửa sổ

Vui niềm vui kịp chia phần tí ti cùng phe 

chiến thắng

Dẫu mái hồn chưa hết lè tè

Đêm đêm xong vài trang hồi kí 

Không quên hé cửa tò vò 

Lén ngắm biển và trăng!

 

 

9.   HÁT LÚC SOI GƯƠNG

 

Người đã già rồi trên mặt gương

Ngó ta không hẳn nhận người quen

Nét nhăn kẻ dọc nhàu mặt đá

Tóc bạc ta hay tóc bạc người

Định nhắc chuyện buồn hay chuyện vui

Thời hân hoan hay thuở ngậm ngùi

Tuyết bay lất phất trên màn mắt

Một góc môi đang tủm tỉm cười

                                

                              ***

 

“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn”

Không vườn nương, sao nói chuyện điền viên

Lòng ta còn đủ bao nhiêu gió

Lồng lộn ca trong một góc chiều

Người vẫn dòm ta không chớp mắt

Nhớ mùa hiu quạnh níu tri âm

Kỉ niệm cuộn tròn vừa túi xách

Đêm mưa xoay làm gối kê đầu

Còn chi không mắt cứ đăm đăm

Trăng sơ còn khuyết gọi trăng rằm

Hoa lay cười nụ sầu muôn kiếp 

Hồn nhểu thành mưa ướt nhẹp tâm.

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

Mỹ nhân xứ Huế - Kỳ 5: Giai nhân Huế đưa ẩm thực Việt ra thế giới

 


13/05/2021 10:15 GMT+7

TTO - Sau gần 20 năm, bà Hoàng Anh vẫn nhớ niềm vui từ bữa tiệc giữa không gian đặc biệt trên đất khách, nơi thường tổ chức các đợt giao lưu văn hóa khác biệt với văn hóa nước sở tại thể hiện sự giao lưu và tính chất đa dạng của văn hóa nhân loại.

Mỹ nhân xứ Huế - Kỳ 5: Giai nhân Huế đưa ẩm thực Việt ra thế giới - Ảnh 1.

Nghệ nhân ẩm thực cung đình Hồ Thị Hoàng Anh - Ảnh: TỰ TRUNG

Một người phụ nữ có vẻ đẹp gắn liền với sự cổ kính, sang trọng và đài các của chốn hoàng cung, lại là một nghệ nhân ẩm thực cung đình cự phách. Đó là bà Hồ Thị Hoàng Anh, người từng quảng bá ẩm thực Việt ra với thế giới.

Mời khách quốc tế du ngoạn ẩm thực Huế

Ngày 2-1-2003, trên trang nhất số đặc biệt dành cho năm mới của tờ báo Ouest France đăng bài viết: "Tại Le Lieu Unique, sự tinh tế của các món ăn Huế dành cho năm mới" - một buổi dạ tiệc vương giả do bà Hoàng Anh thực hiện". Đó là buổi dạ tiệc giao thừa dành cho 400 thực khách diễn ra tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển văn hóa tại TP Nantes, Cộng hòa Pháp. 

Bài viết giới thiệu khá kỹ lưỡng về gốc gác ẩm thực của bà Hoàng Anh: "Gia đình và quê hương của bà Hoàng Anh có truyền thống chuyên môn về nấu ăn. Ông của bà nguyên là đội trưởng đội thượng thiện chuyên lo việc tổ chức yến tiệc trong cung thời cuối triều Nguyễn. Chính bà đã mở một quán ăn Huế cao cấp tại Sài Gòn. Ở đó bà giới thiệu một số món ăn sang trọng từng phục vụ cho giới quyền quý ở Huế ngày xưa"... 

Thực đơn trong buổi tiệc đặc biệt ấy gồm có tám món, đều được diễn tả thực hiện một cách rất tinh vi, cầu kỳ. "Tuyệt vời trong các món tuyệt vời là món hải sâm nấu gân nai. Nguyên liệu đem từ Việt Nam qua, đây là món ăn quý hiếm phục vụ yến tiệc ngày xưa" - bài báo hết lời ca ngợi. Một món đặc biệt khác được tả đáp ứng nguyên tắc âm dương chính là bánh ram-ít: "Nó gồm hai viên bột có nhân tôm và thịt heo. Một cái thì rán giòn, một cái được hấp chín rồi cặp lại. như vậy một cái tượng trưng cho sự cứng rắn và một cái tượng trưng cho sự mềm mại cũng như trời và đất, như nam tính và nữ tính. Mà không phải chỉ khi nấu ăn thôi, bà Hoàng Anh đã chăm sóc từng li từng tí đến mỗi chi tiết, từ cái chén, dĩa, liễn đựng cháo...". 

Bài báo dài kết thúc bằng lời khen ngợi của thực khách rằng sẽ "giữ mãi khẩu vị đặc biệt trong chuyến du ngoạn về nghệ thuật ẩm thực của một xứ bên Viễn Đông. Thật là vừa xa xôi lại vừa tinh tế". Buổi tiệc độc đáo ấy xuất phát từ chính đầu bếp cự phách Hồ Thị Hoàng Anh, một giai nhân cốt cách sang trọng và đằm thắm. 

Năm 2000, Huế tổ chức Festival lần đầu, nhiếp ảnh gia Đào Hoa Nữ đã triển lãm ảnh trong hành lang Tử cấm thành, người mẫu chính là bà Hoàng Anh. Đến xem triển lãm, ông Jean Blaise, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển văn hóa tại TP Nantes, vô cùng thích thú trước hình ảnh người mẫu có vẻ đẹp sang trọng, quý phái hoàn toàn ăn nhập với cổ phục và khung cảnh cung đình Huế. 

Nhà thiết kế Minh Hạnh giới thiệu thêm: người đẹp Hoàng Anh còn có tài nghệ ẩm thực cung đình được truyền lại từ tổ tiên, nhất là người ông Hồ Văn Tá. Ông Jean Blaise nói: Điều này quá tuyệt vời. Nếu mời được người đẹp này sang tổ chức một buổi tiệc kiểu cung đình Huế xưa tại trung tâm nghiên cứu của ông thì còn gì tuyệt vời hơn nữa... 

Sau gần 20 năm, bà Hoàng Anh kể vẫn còn nhớ như in niềm vui lạ lùng từ bữa tiệc giữa không gian đặc biệt trên đất khách, nơi thường tổ chức các đợt giao lưu văn hóa khác biệt với văn hóa nước sở tại thể hiện sự giao lưu và tính chất đa dạng của văn hóa nhân loại. 

Mỹ nhân xứ Huế - Kỳ 5: Giai nhân Huế đưa ẩm thực Việt ra thế giới - Ảnh 2.

Bà Hồ Thị Hoàng Anh

Thẩm thấu tự nhiên 

Thời còn học Trường nữ Đồng Khánh, nữ sinh Hoàng Anh là một người đẹp nổi tiếng, trên đường từ trường về nhà ở Bến Ngự thường các chàng trai "một đoàn theo đuôi"... Khi lớn lên, bà theo học chuyên ngành vật lý Trường ĐH Đà Lạt, sau đó về Huế làm ở Đài truyền hình Huế. 

Bà nói sự việc nấu nướng đến với bà rõ nét hơn ngay chính những tiết học nữ công gia chánh, từ năm lớp 6 đến lớp 10, mà người dạy chính là cô Hoàng Thị Kim Cúc, tác giả nhiều sách dạy nấu ăn và là "nàng thơ" Đây thôn Vĩ Dạ nức tiếng. Nhưng sự tiếp thu, thẩm thấu sâu xa hơn, có lẽ từ chính gia đình và dòng họ ở làng Phước Yên (huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), nơi các thế hệ đàn ông nối tiếp vào phòng ngự thiện trong hoàng cung chế biến thức ăn. 

Khởi sự việc nấu ăn trong chốn hoàng cung của làng kể từ khi chúa Nguyễn chọn đất Phước Yên làm thủ phủ xứ Đàng Trong (giai đoạn 1626-1636). Ngôi làng được dòng sông Bồ ấp ôm, bồi đắp làm cho đất đai trù phú, rau trái tươi ngon, hương vị đặc biệt. Điều đặc biệt hơn là làng sản sinh ra nhiều gái đẹp, nhiều giai nhân được cung tiến vào phủ chúa, cung vua. Đó cũng là cơ duyên nhà chúa chọn lựa người làng sung vào đội nấu ăn. 

Công việc đó kéo dài cho đến thời Nguyễn. Giai đoạn cuối Khải Định và Bảo Đại, chính nhờ mối liên hệ quê hương, thân thích với các bà trong nội cung mà triều đình cử ông Hồ Văn Tá, ông của bà Hoàng Anh, giữ chức đội trưởng đội thượng thiện nấu ăn trong cung. 

Khi bà lớn lên, không còn triều Nguyễn, nhưng những lần ông Tá sang cung An Định chuẩn bị mâm cỗ để đức Từ Cung (vợ vua Khải Định) dâng cúng tổ tiên nhà Nguyễn, khi về lúc nào ông cũng đem vài thứ cho con cháu, khi thì gói xôi đường, khi thì bánh lá chả tôm, khi thì lọn nem... 

Bà cũng thường được ăn lọn tré thịt nai, miếng chả quế nướng trên ống lồ ô, món gắp tư, món vịt lọng... do các ông chú, ông bác trong dòng họ "tái hiện" món làm trong cung. Rồi những dịp cúng tế trong làng, trong họ, dù chỉ là những miếng thịt phay nhưng cũng được xắt vừa vặn, đều tăm tắp như những quân cờ; những món ăn được bày biện tỉ mỉ, đẹp mắt... 

Đến thời cha của bà: "Chế độ quân chủ chấm dứt, trai tráng trong làng không còn ai làm trong đội ngự thiện nữa, ba tôi chuyển sang làm ngành y dù không theo nghề nấu ăn và định cư ở nước ngoài nhiều năm rồi nhưng ký ức ẩm thực chốn cung đình vẫn không phai nhạt...". 

Mẹ bà là phụ nữ Huế truyền thống, vén khéo đảm đang việc nội trợ, đặc biệt bà nấu món chay rất ngon. "Ẩm thực Huế từ những điều mình đã được thấy, đã được ăn, đã được nếm, như thẩm thấu tự nhiên vô người mình như rứa" - bà Hoàng Anh nói. 

Không chỉ kế thừa gia đình, việc nấu ăn đến với bà Hoàng Anh như một thứ duyên nghiệp, bởi người chồng rất đặc biệt. Đó là nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Sơn, người chuyên nghiên cứu và sưu tầm đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn. "Bên cạnh việc nghiên cứu các lãnh vực văn hóa mỹ thuật khác, anh Sơn còn nghiên cứu và sưu tầm rất nhiều thứ liên quan đến ẩm thực cung đình, cho nên giúp rất nhiều cho công việc tôi đang thực hiện" - bà nói. 

Sau nhiều năm thực hành quảng bá ẩm thực khắp nơi, đồng thời viết về món chay cho một tờ báo Phật giáo, bà Hoàng Anh cho biết hiện đang nghiên cứu sâu hơn về ẩm thực cung đình, hướng đến nắm vững và có thể phục hồi phần lớn những buổi yến tiệc trong chốn cung xưa... 

"Tôi thấy vui khi giới thiệu ẩm thực Huế đi nhiều nơi, mình cảm thấy họ đón nhận, tôn trọng văn hóa ẩm thực của mình. Đôi khi ở nước ngoài, mình mà nhiều người khác nữa cũng thường mặc cảm với sự nghèo khó, lạc hậu. Nhưng khi bày lên các món ăn, cách họ đón nhận và khen ngợi như thế, làm tôi thấy những giá trị văn hóa nước mình không hề thua kém. Chính ẩm thực mình làm cho tôi tự tin về sự ngang hàng, có khi còn hơn thế, từ những điều riêng biệt, độc đáo mà những nền văn hóa khác không có được" - giai nhân, nghệ nhân ẩm thực cung đình Hồ Thị Hoàng Anh.  Nguồn: tuổi trẻ.vn 


Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2021

Bài viết DU TỬ LÊ: Giới thiệu Thơ TỪ HOÀI TẤN

 

Du Tử Lê giới thiệu: Hành trình thơ Từ Hoài Tấn trong hơn nửa thế kỷ

Hành trình thơ Từ Hoài Tấn  trong hơn nửa thế kỷ 
người giới thiệu: Du Tử Lê

1- Mưa, chiếc bóng thứ hai, trong hành trình thơ Từ Hoài Tấn?

Kể từ giữa thập niên 1960, tiếng thơ Từ Hoài Tấn đã được nhiều người biết tới, qua những bài thơ tình trên các tạp chí, tuần báo văn chương như Văn, Nghệ Thuật, Trình Bày, Khởi Hành v.v… Nhưng bản chất khiêm nhường, kín đáo, trong đời thường rất ít người biết ông là nhà thơ (ngay cả những bạn thân tình). Với tôi, đây là một tâm-thế-sống, chọn lựa lui vào, ẩn sâu trong cõi riêng, rũ bỏ phồn tạp đời thường – – Phong cách trực diện với nín lặng, cô đơn thường thấy ở một số thi sĩ? Hay đó là hiệu ứng, “phản cung” những tra khảo, cay nghiệt của xã hội?
Không rõ, nhưng tôi trân trọng tính “lui vào, ẩn sâu cõi riêng” rất thi sĩ của ông.
Về tính khiêm cung của Từ Tấn Hoài, nhà thơ và cũng là họa sĩ Võ Công Liêm (*), hiện cư ngụ tại Canada, từng cho biết:
“Tôi thân quen với Từ Hoài Tấn hồi năm 1968. Sau Tháng Tư 1975 thì chúng tôi được đời chọn cho mỗi người một cuộc sống khác nhau. Thuở ấy tôi chưa biết Từ Hoài Tấn là nhà thơ. Mặc dù anh đã có thơ đăng rải rác trên các tạp chí ở miền Nam. Chúng tôi trao đổi những chuyện thế sự qua tách cà phê hoặc nhiều khi họp mặt anh em. Tuyệt nhiên không nghe ai nói anh làm thơ. Tôi thường gọi tục danh anh mỗi khi xưng hô, đâu có biết, về sau này người bạn thân tôi là thi sĩ. Từ đó tôi thường hay đọc thơ anh và yêu thơ anh.
“Khi sống gần gũi những năm tháng sau nầy mới nhận ra được nhân cách sống của anh rõ nét hơn. Anh trầm lắng hơn trước đây hay đời biến đổi anh, tôi nghĩ như thế. Nhưng không, anh vẫn hài hòa như ngày nào, tuy nhiên vẫn không giấu được nỗi thầm kín trên gương mặt anh, không phải vì làm thơ mà anh trở nên thơ thẩn để cho ra ‘thi sĩ’. Cái bản chất anh là thế! Bởi vì xưa nay anh không tỏ một ‘dấu yêu’ nào là anh làm thơ và không chứng minh điều gì về thơ cả, anh ung dung trong tư thế đó. Tôi đem lòng khâm phục đức tính nhân hậu, khiêm tốn của một nhà thơ như anh…” (*)
Có dễ khởi đi từ tình thân trải dài nhiều năm trong đời thường, nên khi nhận định về cõi-giới thơ Hoài Tấn, họ Võ đã có những ghi nhận khá sâu sắc, cụ thể:
“Thuở đó và ngay cả bây giờ có rất nhiều người làm thơ, làm thơ vần lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ, thơ tự do, thơ mới và thơ tân hình thức. Tôi thích thơ Từ Hoài Tấn dưới mọi thể anh làm. Thơ anh phản ảnh nhiều mặt tình cảm, đời sống, quê hương đất nước và tình người. Tất cả chứa đựng chất hiện thực và hiện sinh trong thơ anh, có nhiều bài thơ đọc lên thấy được đôi điều mà anh trút hết sự thầm kín đó vào thế giới nội tâm hơn là thế giới ngoại hình, rồi từ đó anh phá lệ, vượt thoát qua mọi thể thơ anh viết. Thơ anh tiềm ẩn và sáng tạo, dòng thơ đi lần vào dạng thơ siêu thực, đó là khuynh hướng siêu thực thơ (surrealism poetry) mà rất ít tìm thấy ở những nơi khác. Anh muốn vượt ra khỏi hiện hữu để trở về bản chất cố hữu của riêng anh.
“Từ Hoài Tấn dồn hết những xúc cảm nội tại vào thơ qua những tình huống xảy ra trong đời tác giả. Những tai ương, những khốn cùng mà anh tiếp cận với cuộc đời, đặc biệt về mặt tình cảm nói chung là nỗi ray rứt không nguôi trong dòng đời anh đi qua và anh nhủ thầm điều bất hạnh đó chỉ dành cho anh. Chính những băn khoăn với đời, với tình mà biến anh trở nên trầm lắng, trầm lắng của bản chất hay trầm lắng bởi tuyệt vọng? Ðó là cái nhìn dưới mắt tôi qua đôi mắt sầu muộn của Từ Hoài Tấn.
“Gởi vào em một cơn mưa
Cơn mưa đổ hết canh khuya khoắt nầy.
(Gởi tặng Ph.1970)
“‘Canh khuya’ Từ Hoài Tấn chưa thấy đêm sâu, anh cho thêm chữ ‘khoắt’ để thành ngữ nầy gói trọn nỗi nhớ của anh. Cho nên anh mượn thiên nhiên để gởi gắm nỗi thầm kín đó, thơ Từ Hoài Tấn nặng hình dung từ và ẩn dụ vì thế ngâm lên cũng thấy được cái chất lãng mạn riêng của Từ tiên sinh.
“Anh sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến (**) , anh đối đầu với lửa đạn. Anh nuốt đau thương của vận nước trong tim gan anh. Từ Hoài Tấn không ta thán hay phẫn nộ. Anh điềm nhiên tự tại như dòng sông trôi về biển mẹ, trước những khắc khoải đó anh không oán, không trách mà coi như đó là thân phận làm người. Anh nuôi dưỡng tất cả những biến cố đời trong tâm trí anh để anh phát tiết những câu thơ hàm chứa đầy đủ yếu tố nhân sinh quan và chính là con đường giải thoát tâm hồn của một nhà thơ. Nỗi trăn trở đó hiện diện trong thơ Từ Hoài Tấn là thảm kịch đời mà hình như anh gánh chịu, một cảnh đời bề bộn, xung đột giữa nội quan và ngoại quan đã làm cho Từ Hoài Tấn quặn mà không nói nên lời, điều ấy anh luôn luôn hoài niệm cho tới ngàn sau.
Ðọc bài thơ ‘Mạ’ anh nói lên cái tình của người mẹ nuôi con, nghe rất cảm động, anh sử dụng thể thơ 7 chữ, đọc lên nghe phảng phất lục bát của Tú Xương; nghe thử:
“Hai sương một nắng nào đâu sá
Con bầy một lứa phận nữ nhi
Lều tranh cuối vườn nương nhà ngoại
Tháng chờ năm đợi buổi người đi
… 
“Thương nhớ một đời ta là mạ
Nhưng hồn ta vất vưởng vẫn lệ nhòa
(Mạ 1998)
“Ðọc thơ Từ Hoài Tấn cho tôi một cảm giác lâng lâng, lạc vào thế giới huyền ảo của mộng mơ, lúc chơi vơi, lúc chìm đắm giữa một khung trời lập thể đầy sắc màu. Anh thả xuống những câu thơ nghe lạ tai, nhưng lại truyền cảm, cái hay của Từ Hoài Tấn là ở chỗ đó!
“Trong tập ‘Hành Tinh Phiêu Lạc’ trang đầu ‘Mở’ thay lời tựa, tác giả chỉ nói lời giản dị (16 chữ) nhưng trọn cả hành trình anh đi. Ðó là cái chân tình của nhà thơ như anh, không phải anh tiết kiệm ngôn ngữ để nói về đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang, chắt chiu. Có lẽ, Từ Hoài Tấn cho rằng có nói cũng không cùng; ai nghĩ sao thì nghĩ, có sứt môi méo miệng cũng là con anh, nhưng phải nghĩ một cách sâu xa, chính trong cái ‘khác đời’ đó là cái đẹp chân phương ‘Le laid peut etre beau, le joli jamais’ (P.Gauguin). Ðúng! Từ Hoài Tấn chấp nhận cái đẹp một ít hơn cái gì trau chuốt cho đẹp. Vì thế mà tôi mến cái thủy chung của anh, thiết tưởng người đọc sẽ tìm gặp một cảm nhận như tôi.
“Quay về – một mối
Ra đi – muôn đường
Tìm em – nguồn cội
Mấy trời – tang thương.”

2- Thơ Từ Hoài Tấn, những game màu khẩm nặng trầm tích

“Tôi thích cái lối chơi thơ của anh. Từ Hoài Tấn chế cái gạch ngang (-) như nhấn mạnh cho người đọc hiểu cuộc đời anh là thế đó. Du Tử Lê thì chặt (/) xuống mỗi con chữ, thành thử khi đọc hay ngâm thơ ông có cái gì như bóp cuống họng mình lại, nhưng làm quen hình thức đó rồi, đến khi đọc thì thấy thơ của Du tiên sinh hay siêu việt và bay bổng. Cho nên thơ nó nằm ở cõi phi ấy nhưng phải khởi từ cõi thực. Cho dù gạch ngang hay gạch dọc, chưa phải xác định được một bài thơ đặc thù, bởi một bài thơ không phải là muốn nói một cái gì mà hiện-hữu (a poem should not mean but be) ngoài ra có những siêu lý của thơ nghĩa là thơ phải đi lạc đường mới là thơ hay! Tôi nói dông dài về thơ, tại vì thơ của Từ Hoài Tấn tợ như thơ Thiền. Nghe thiền sư Cổ Ðức làm bài thơ 4 chữ này:
“Khi đói ta ăn
Khi mệt ta ngủ.”
“Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhứt thể của đạo Phật. Từ Hoài Tấn là đệ tử chân chính của những nhà thơ thiền (?) cho nên bài thơ mở đầu cho tập thơ “Hành Tinh Phiêu Lạc” cũng được ngắn gọn và thâm hậu như lời nhắn gởi với muôn trùng…
“Tôi nghĩ, chính lối sống vô tư của anh đã giúp anh vượt qua những thử thách, những gian khổ từ trong trại học tập cho đến khi trở về nguyên quán. Từ Hoài Tấn không muốn ai quản chế mình một lần nữa, anh cho rằng tự-giác-giác-tha, anh tự khắc phục anh, hội nhập với đời, thích nghi kịp thời như anh đã lao mình; chính sự dấn thân của anh là những dòng chảy bất tận trong thơ. Từ Hoài Tấn một con người nhạy cảm về tình cảm (sentimental) về tình người cũng như thiên nhiên. Do đó thơ Từ Hoài Tấn phong phú và dồi dào. Từ làm thơ đa dạng, có khi niêm luật, có khi tự do… theo tôi nghĩ thơ anh xây dựng dưới dạng thức nào, tiết điệu trong thơ anh là tiết điệu của thời thượng hôm nay.
“Thơ lục bát Từ Hoài Tấn làm nghe điệu và mềm, chữ dùng rất Huế. Ðan cử bài thơ nầy:
“Ngày dài lóc cóc ngoài hiên
Ngựa xe qua hết một miền còn lưa
Ngày ngồi nắng đổ chưa bưa
Như sầu ai thắp canh khuya chưa tàn.”
(Dáng Thơ)
“Từ Hoài Tấn có những bài thơ tự do, thơ không vần (blank verse) nhưng đọc lên vẫn thấy như có âm hưởng của thơ vần đó là cái vi vu theo tiết nhịp vần xoay mà cuộc sống là biến động miên man theo mảnh lòng người hoài mong; tự do và thoát tục.
“Tôi đứng bên kia con đường
Một ngày đầu đông
Ðợi người tình quá khứ
Và mong đời nhẹ gót qua đây…”
(Huế-1968) (Nđd.)
Trên đây là chân dung thơ Từ Hoài Tấn, vẽ bằng chữ viết của Võ Công Liêm, qua thi phẩm đầu tay “Hành Tinh Phiêu Lạc” xuất bản năm 2003, bởi Nhà XB Thuận Hóa. Gần mười năm sau, năm 2012 Từ Hoài Tấn cho ra đời thi phẩm “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” – – Như tôi biết, đó là thi phẩm mới nhất của ông, tính tới hôm nay.
Vẫn là những cảm quan, cái nhìn đi ra từ trái tim mẫn cảm của một nhà thơ chọn ăn, ở một đời với cô quạnh, nhưng với “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” Từ Hoài Tấn đã cho thấy, dường ông bước lùi sâu hơn vào cõi riêng của mình. Tôi hiểu, khi chọn tựa đề “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” cho thi phẩm mới của mình, tác giả cho thấy dòng đời vẫn xuôi chảy, dù chúng ta có chạy, đi theo hay đứng lại. Nhưng tâm thức của mỗi cá nhân vốn độc lập.
Nó nằm ngoài định luật tự nhiên này – – Hiểu theo nghĩa chúng ta có toàn quyền chọn cho mình một thái độ ứng hợp: Xuôi theo hay đứng lại, bên lề…
Với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” mà thơ ông còn cho thấy quá khứ, thiên nhiên những bức tranh tĩnh lặng, tựa những game màu cũng đã khẩm nặng trầm tích qua những liên tưởng sắc, buốt, xỉa-xói-vết-thương:
“Ly thủy tinh trong vắt như nỗi buồn không soi đáy
Khuôn mặt em hình quả mãng cầu gai
Ta nhảy múa với niềm vui cô độc
“Một kẻ lạ đi qua
Lời nguyền rủa
Như thanh kiếm chém vào mặt
“Một cô nàng đi qua
Tiếng cười vỡ
Ly thủy tinh ném xuống mặt đường
“Ngày đi qua
Thì thầm điệu ru tội lỗi
Ðôi tình nhân hôn nhau cuối hẻm”
(Trích “Trong Quán Rượu”)
Hoặc:
“Ta thử khóc và cười mỗi ngày
Hình như không ai nhìn thấy
Ngày đi và đêm xuống
Không có nghĩa gì với gã ăn mày mù lòa tự nhiên đi qua công viên
Hay ngồi lặng lẽ trên băng ghế
“Ngày đi và đêm xuống mối tình em mang rơi theo
Sao viên đá nặng vẫn đeo trên cổ.”
(Trích “Khúc Ban Chiều”)
Hoặc nữa:
“Trong một cố gắng không dừng lại
Tôi hẹn hò em
Ám hiệu ngắn
9 giờ sáng – góc ngã tư – bờ tường tím – đội nón xanh
Tin đi
Người đi
Cuộc hẹn đi
Thời gian đi
“Và như thế
Trong một cố gắng không dừng lại
Tin mất
Người mất
Thời gian mất
“Chỉ còn lại
Tôi.”
(“Cuộc Hẹn”)
Vẫn với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” mà ông còn cho thấy chia ly và bóng tối từ những tháng, năm khuất lấp vẫn tìm về trong thơ ông, tựa những game màu ám-dụ, đầy những liên tưởng sắc, buốt; mang theo những lát dao lạnh lùng đào-xới-những-vết-thương cũ, mới:
“Trả lại cho tình em vì không còn cách nào giữ lại em
Khi em đã là người khác
Khi đôi mắt em là ngọn lửa khác
Khi lời tình yêu đã là tiếng vang vọng
Và khi ngày đã trở qua đêm”
(Trích “Chỗ Không Cùng”)
Hoặc:
“Vào những đêm khuya khi vầng trăng không còn
Sao Hôm dần biến mất
Anh tìm em trong bóng mây qua
Ðôi mắt em ẩn chứa niềm bí mật
“Chúng tôi sống lặng lẽ mơ ước trong gió bụi của khốn khổ
Hàng đêm nhìn lên khoảng trời xanh
Thì thầm cầu nguyện và mong đợi phép lạ…”
(Trích “Những Ngôi Nhà Thuê ở Ðường Số 37”)
Tuy nhiên, có dễ mưa mới người bạn hoặc, nói một cách thậm xưng, là người tình thủy chung nhất của nhà thơ này.
Với tôi, mưa là hiện tượng thời tiết quen thuộc, thân thiết của rất nhiều thi sĩ Việt Nam. Nhưng, nếu có một nhà thơ cho thấy mưa hiện diện cùng khắp các trang thơ của họ thì, một trong những người đó là Từ Hoài Tấn:
“Tháng mười hai năm ấy
Mưa trở lại
Trong hẻm nhỏ có quán cà phê
Bà chủ bốn mươi tuổi
Em trở lại ngồi bên ta
Lời tình ái dài và đều như mưa ngoài cửa”
(Trích “Kỷ Niệm”)
…….
“Mùa mưa anh không thoát khỏi chiếc bóng em
Sự suy tư mòn gặm
(…)
“Buổi sáng theo cơn mưa đầu ngày
Một chút nhớ làn khói bay
(…)
“Em thiên nhiên đóa hoa mùa hạ
Những giọt mưa đầu mùa sóng sánh chiếc ly không
(…)
“Ai đi ngang che giấu mặt nõn nường
Mưa vang âm dòng suối”
(Trích “Khi Yêu”)
……
“Buổi chiều mưa bất thường trái mùa
Khúc trầm bên chén trà
Người phụ nữ bước qua bên kia đường đón xe buýt
Dưới tàng cây che phủ vệ đường núp mưa những cô gái nhỏ xì sầm
Cảnh tượng chiều xám”
(Trích “Thơ Cuối Năm”)
……
“Những ngày này thường có cơn mưa đêm về sáng
Ðều đều như lời kinh dịu dàng cám dỗ
Mùa mưa chưa qua sao”
(Trích “Lời Cám Dỗ Dịu Dàng”)
……
“Cơn mưa đi qua ánh sáng của ngày
Khúc hát ru chiều sẩm tối
Người thanh niên đứng trong hẻm cụt nói rằng
Môi hôn trên cây và nụ cười trên gió”
(Trích “Khi Mùa Mưa Bắt Ðầu”)
……
“Buổi chiều về qua ngõ
Không nghe tiếng dương cầm
Vị mặn ở đầu lưỡi
Mưa và em”
(Trích “Là Khi Em Ði”)
……
“Chiếc dù che góc quán nhỏ vệ đường ngồi hai người
Những chiếc ly không đầy nước
Ngày mưa qua
Ðôi mắt ẩm ướt em nhìn ngắm giọt đều không tạnh…”
(trích “Thành Phố Mưa”)
…….
Ngay với những trang thơ không có một chữ “mưa” nào của Từ Hoài Tấn, nhưng ngữ-cảnh toàn bài, cũng cho tôi cảm được đâu đó, hơi hướm những cơn mưa chờ đợi.
Tôi nghĩ, có dễ “mưa,” chiếc bóng thứ hai, đeo đẳng hành trình và, cũng là định mệnh thi ca của tác giả này?
Du Tử Lê
(Calif. Tháng Giêng 2017)
———–
Chú thích
(*) nguồn: Võ Công Liêm: “Dòng chảy không ngừng ở Từ Hoài Tấn,” Bạt, thi tập “Ði, Ðứng và, chạy… với thời gian,” (2012)
(**) Từ Hoài Tấn là tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Khóa 3/70 Trường Bộ Binh Thủ Đức