Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Tản mạn văn hóa văn nghệ và … văn gừng (7)

Tài năng sáng tác và ứng tác “tuyệt chiêu” của những người vô danh
Nguyễn Thanh Văn

Trên dưới 30 năm rồi từ cái buổi dẫn tới câu chuyện ngồ ngộ chia sẻ với các bạn hôm nay xảy ra trong một quán rượu nhỏ ở Biên Hòa. Kể cũng xa xôi thiệt, đến độ không rõ người chung bàn, chung chuyện có nhớ cho chăng – lỡ người ta lên tiếng phủ nhận thì quê phải biết. Bàn thịt cầy – thưa thiệt trước, riêng người viết đã bỏ hẳn cả cầy lẫn rượu mười lăm năm hơn rồi – chỉ có ba mạng: Cao Xuân Sơn, Võ Đắc Danh và tôi. Dạo đó Sơn và tôi cùng bỏ nghề dạy học qua biên chế Hội Văn nghệ Đồng Nai – Sơn giữ trang Thơ, tôi trang Nghiên cứu Phê bình. Danh (một nhà báo xông xáo, có tên tuổi, rất tiếc từ lâu tôi không gặp) làm báo, từ miền Tây lên chơi. Hôm đó qua Sơn, tôi và Danh gặp nhau lần đầu, nhưng chỉ nửa chén rượu là biết nói chuyện được, thú vị là khác. Đều là “hảo hán” cả – đấy là chúng tôi tán nhau như vậy – và còn trẻ (Sơn chưa tới hăm lăm, có lẽ Danh hơn Sơn ít tuổi và tôi vừa quá ba mươi) nên khỏi nói, rượu và lời tràn ra không đo không đếm được. Riêng chi tiết ba đứa ba miền, Sơn Bắc Kỳ, tôi Trung Kỳ và Danh Nam Kỳ (cố tình dùng địa danh thời Nguyễn Bính cho thêm hương vị) đã thừa cảm khái.
Vì sao Sơn đọc bài ca dao nổi tiếng xuất xứ đâu đó từ một vùng đồi quê Bắc xa xôi của chàng ta, tôi không nhớ. Trong ba tác phẩm dân gian “dự thi” mà tôi sẽ chép đủ cho các bạn cùng thưởng thức sau đây, chỉ có tiết mục của Sơn đã được lưu giữ trong các công trình sưu tầm văn học dân gian, gẫm mà tiếc cho hai siêu phẩm của quê hương của hai gã còn lại. Chi tiết còn nhớ là trước khi đọc, Sơn nhắc Nguyễn Đình Thi rất thích bài ca dao này, đi đâu cũng đọc và khen nức nở. Giọng người đọc khào khào vì rượu nhưng đủ cảm xúc, nhấn nhá – nguyên giáo viên Văn kia mà!
Đêm qua lên núi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em van mà nó chẳng tha
Nó đè nó đút cái mả cha nó vào
Tuyệt! Không rõ ở đất nước Phù Tang của thơ Haiku, quê hương Thiên Trúc của Tagore hay xứ sở Nga La Tư sinh ra được thiên tài Puskin có sản xuất nổi một kì quan cỡ đó không! Không – cả ba thi hữu An Nam của Puskin và Tagore đồng trả lời. Chao ơi, đúng 31 từ mà bao quát cả thiên nhiên – đêm trăng, đồi núi –, nhân vật thì hạn chế tối đa: nạn nhân và thằng phải gió, cùng một loạt động từ phải nói là dồn dập “hái”, “van” rồi “đè” và cả “đút” nữa chứ. Tội nghiệp, đến hai nhà văn và một nhà báo nhiệt tình hợp lực mà không giải quyết nổi làm thế nào để chuyển qua tiếng nước ngoài tiếng “mả cha” đầy hình ảnh và trọng lượng, vừa diễn tả được cái khó xử và hậm hực trong tiếng chửi của nạn nhân. Tôi không nhớ ai trong ba thằng tôi gợi ý cần sự hỗ trợ bằng hình ảnh minh họa của một họa sĩ, mà phải cỡ Thành Chương hay Tạ Tỵ mới được. Chợt có giọng lạc hẳn, bác ngay “nhưng hai vị nhớ cho nếu họa sĩ vẽ đúng cái hình ảnh “mả cha” trong đầu nạn nhân thì có nước chết – thử hỏi với thứ mả mồ kiểu đó thì bạn bè nước ngoài người ta đánh giá tập quán, phong tục Việt Nam ta ra cái thể thống gì!”.
Khỏi dài dòng thêm quý vị có thể đoán ra khi người ta còn trẻ và lại đang có những đánh giá về văn tài bản thân quả cao hơn thực tế thì có lý thuyết, trường phái nào mà chả công bố, huống hồ hội trường là một quán rượu bên đường. Chút tiết lạnh và ít mưa bụi mà đất phương Nam thiếu thì tưởng tượng ra mấy hồi – khác với lẩu cầy và rựa mận, ai chẳng biết món trầm tư và tưởng tượng vốn là thứ miễn phí, sẵn ở bếp nhà của đám văn sĩ. Thế là anh thì chợt có giọng cảm thương cho người bị đè ngoài kế hoạch, anh lưu ý những hành động phòng the – trong bối cảnh thằng phải gió hành sự, từ “phòng the” tất nhiên hoàn toàn không phù hợp – trong tiếng mẹ đẻ đều có âm “đờ” mạnh mẽ, dứt khoát như “đéo”, “địt”, “đụ” không khỏi gợi tới những “đâm”, “đánh”, “đập”, “đạp” – chưa tính “đè” và “đút” sẵn trong bài ca dao đang nhắc. Theo trí nhớ của tôi, có cả ý kiến khá độc đáo rằng dẫu sao bên cạnh công lao người sưu tầm tác phẩm dân gian, phải kể công tính khí bộc bạch, quyết tâm tố cáo gã “biến thái” – theo cách nói của một số nhà báo hiện đại – của cô gái Bắc Kỳ, bởi nếu chuyện xảy ra ở Hồ Tịnh Tâm hay bờ thành Đại Nội liên quan một tiểu thư Huế suốt một đời chỉ canh cánh lo bị “mang tiếng” cầm chắc là mất cả dấu lẫn vết. Đẩy vấn đề xa hơn, chúng tôi đồng ý cũng không thể xóa “công lao” của chính thằng phải gió, nếu không có hành động phải nói là tối mất dạy của hắn thì liệu văn chương Việt có lưu được một áng văn chương có một không hai này hay không? Đang làm cái trang chuyên bàn những viết gì, viết cho ai, rồi những câu hỏi ai, cái gì, khi nào, ở những đâu, với ai …tôi phân tích bài ca dao như một mẫu mực minh họa cho văn chương súc tích đến dường nào: Khi nào? (Hôm qua)/ Ở đâu? (Lên núi)/ Làm gì? (Hái chè)/ Xảy ra chuyện gì? (Gặp thằng phải gió)/ Cao trào? (Đè và đút) …
Sau màn biểu diễn xuất sắc của người Bắc Kỳ, người viết không rõ vì sao bỗng có màn “dự thi” ba miền ba tiết mục mà phải là tiết mục dân gian và đề tài phải “hot” mới được. Thật tình “hot” là từ tôi mới lén đưa vào, ngày đó chưa phổ biến ở xứ mình, lý do tôi không đồng ý cách gọi từ “tục” hay “thô” trong văn chương. Đã gọi là nghệ thuật cốt hay, từ ngữ hợp ngữ cảnh, không thiết chi từ văn hoa hay bình dân. Mượn ý một chuyện hài nhiều người còn nhớ, nếu nhân viên y tế hỏi một quý bà rằng “Bà đi khám lồn phải không ạ?” thì từ “ạ” dễ thương, lịch sự quyết không cứu vãn được cái danh từ duy nhất dùng có phần bất nhã trong câu. Ngược lại, hai bà – hoặc một bà, một ông – đang uýnh lộn mà có tiếng đàn bà rít lên “Tiên sư nhà mày, mày đánh vỡ cái phụ khoa nhà bà mất rồi!” thì đến người nhà đang xông vào tiếp viện cũng phải phì cười. Từ ngữ không làm nên tích sự gì khi nằm ngoài văn cảnh. Không thiếu dịp tôi đọc một tác phẩm chứa toàn từ ngữ diễm lệ trong Từ điển Hán - Việt của cụ Đào Duy Anh mà phải bỏ đi ngủ vì không có từ tục mà vẫn thấy (dung) tục quá. Cái sự văn chương nó phiền phức thế đấy.
Tạm cho là do quyết tâm giữ uy tín Trung Kỳ cũng được, hoặc do tôi bỗng nhớ câu chuyện thú vị – một màn hò vè – mà ngẫu nhiên chi lạ, từng xảy ra ngay tại làng nội tôi (Hà Trữ, xã Vinh Thái) nên quyết đăng ký “dự thi”.
Nào, mời các bạn cùng nghe cùng với hai bạn rượu của tôi ngày đó – có chi “khí không phải” người kể xin lỗi trước.
Chuyện phải xưa lắm rồi, tác giả câu hò sáng tác lúc ở độ tuổi 17, 18 nhưng khi tôi đi xa quay về gặp lại nhân vật của chúng ta, chừng mươi năm hơn sau 75, bà đã gần đất xa trời, tóc trắng phau. Bà là vợ một người bác họ của tôi tên Can, chúng tôi vẫn gọi bác là “Bác Can Gái”. Chuyện xảy khi bác còn là một cô thôn nữ đẹp người, khỏe mạnh, lại nổi tiếng về tài hò vè, ứng đối (Hà Trữ, quê nội tôi, vốn được cánh văn nghệ dân gian địa phương ghi nhận là vùng mạnh về hò vè) nên khi kể chuyện tôi sẽ gọi bằng o (cô).
Bối cảnh là cánh đồng quê đang mùa gặt đầy người, nhưng không phải ai cũng là thợ gặt. Giữa ít bạn gái cùng trang lứa và tụi con nít rặt, o Can (nói cho chính xác, nếu lúc đó o chưa lấy bác Can của tôi thì phải gọi bằng tên thời con gái mới hợp lý) đang lui cui làm cái việc của người nghèo hay bất cứ thôn dân mô lúc nhàn rỗi gọi là “mót” lúa. Đám đông bỗng ồ lên, số người đang mót lúa tản ra. Thì ra ông chủ ruộng xuất hiện, tay gậy, tay roi (xin giải thích roi không có mục đích đánh ai, mà chỉ có mục đích avoir l’air, đại khái như cái oai của cái ba toong), sau lưng có người nhà xách lồng cơm, dù và rổ rá lỉnh kỉnh. Ở tận trên Dinh (tên người quê tôi gọi Huế) ít về thăm ruộng, chắc cụ đang trực tiếp đôn đốc vụ thu hoạch hàng năm và ủy lạo tá điền. Thực tế cụ cũng là chỗ bà con của một số hộ trong làng và trong đám gặt thuê, mót lúa không thiếu người là con cháu. Họ e ngại gặp bậc bề trên hơn là sợ đụng đầu “địa chủ”. Riêng o Can đang say sưa tiếp tục… mót lúa nên một phen giật mình nghe tiếng cụ Bộ Bàn – tên ông chủ đất – gọi giật giọng:
– Con mô ăn cắp lúa của tau rứa tề… A, con mẹ Can phải khôn (không)? Chà ch …nè, nghe nói mi đối đáp hò vè có tiếng thì phải. Tới gần đây, nghe tau (tao) nói đây. Mi giỏi tau ra cái đề hay lắm mà hò, nghe lọt tai tau cho nguyên gánh lúa mà gánh về. Không xong – cụ Bộ vung cây roi trước mặt – tau đập (đánh).
Cả đám thợ gặt lẫn cánh mót lúa dồn lại quanh o Can mặt mày đang tái mét, người chợt cười ré lên, người níu tay, giục o nhận lời. O thôn nữ hoạt bát có tiếng, giờ tay cặp nón, lí nhí chi đó, đầu lắc lia lịa. Cụ Bộ lại hất cằm, tay nhịp roi, lần này không thèm nói nửa tiếng. Tiếng bà con láo nháo hẳn lên:
– Nhanh cả bác Bộ giận chừ [bây giờ]! Hò mà kiếm gánh lúa vác về nhà, khỏe khôn!
– Mần [làm] liền đi …Cụ giận cụ đuổi cả đám mềnh (mình), mất ăn hè!
Bất ngờ, o Can ngẩng mặt lên, cũng lí nhí chi đó, và có người to mồm thông dịch ngay:
– O Can chịu rồi, bác Bộ nì (này) …Mời bà con nhà mềnh im miệng cho hè!
Đang om sòm, đám đông im phắt ngay, người dòm (nhìn) o Cam với vẻ vừa lo lắng vừa cảm kích – rõ ràng mấy tiếng “đuổi cả đám” và “mất ăn” làm cô gái trẻ động lòng –, người bồn chồn liếc cụ Bộ, miệng há hốc khác chi cảnh cha mẹ đang đứng ngoài phòng thi, nôn nóng đợi con.
Có thể đoán được người duy nhất làm chủ được tình hình là cụ chánh chủ khảo Bộ Bàng. Ông vuốt râu, mím môi và khi thấy cảnh bà con giãn ra, “nữ thí sinh” dợm một bước, nghiêng đầu khẽ chào, ông biết chắc hắn đã ưng thuận, liền mỉm cười bí mật.
– Nè, con Can, chuẩn bị hò đi! Nghe kỹ cái đề tau sắp ra đây – cụ lật ngược đầu roi đập mấy cái ngay giữa đũng quần mình – và tuyên đọc đề: CON CẶC TAU ĐÂY NÈ!
Cả đám đông, vừa được bổ sung hàng chục khán thính giả từ làng trong túa ra ủng hộ gà nhà, ồ ra cười giòn giã vì cái đề không giống ai. Chắc có người hồ nghi cụ Bộ chỉ cốt chơi khăm con cháu. Có người ngờ o Cam “bốc” cái đề quá căng, khéo bỏng tay.
Nhưng tất cả đều nhầm. Cả hai – chủ khảo và thí sinh – đều thực sự nghiêm túc. Giữa chốn đồng mông mênh và từ giữa đám nông dân im thin thít, chợt vang lên tiếng hò lảnh lót, khi phân giải, kể lể, khi vút cao, quyết liệt của người con gái làng Hà.
Hò ơ …ơ …ớ …ớ … cháu không hò thì bác cho cháu dại
Cháu hò đáp lại thì lộng ngữ với loạn ngôn
(Chứ) thưa thiệt với bác, bác có con cặc của bác đó
(thì) cháu cũng có cái lồn của cháu đây …hờ …ơ ...ơ ...hơ ...hơ …
Theo lời các vị tiền bối – trong đó có vị ngày đó còn ở độ tuổi … mót lúa – kể lại và tôi là một trong những người hóng chuyện, mặc khán thính giả ồ lên ủng hộ có, khoái chí có, ngầm gây áp lực có, ông chủ đất kiêm chánh chủ khảo vẫn đứng im, mắt nhắm lại từ lúc có tiếng “hò ơ” đầu tiên cho tới mấy phút liền sau tiếng “hơ hơ” sau cùng. Rồi tất nhiên cụ chủ đất cũng phải từ từ mở mắt ra và từ tốn phán:
– Giỏi! Bây lấy một gánh lúa thưởng cho con mẹ Can …thiệt đầy đặn cho tau!
Quay lại bàn rượu của ba anh em. Không chủ quan, tôi chứng kiến cảnh Sơn và Danh hô hố cười, hứng thú ra mặt. Hai chàng nhận xét hiếm khi có chuyện tận mặt gặp được tác giả một tác phẩm dân gian. Càng ngạc nhiên khi tôi xác nhận đương sự không biết cả mặt chữ i tờ – bản thân tôi khi còn trường làng nhiều dịp được các bác các o mù chữ xách đèn bão rước về nhà, nhờ viết thư giúp. Dù còn bé tí tôi còn nhớ câu mở đầu phải là “Mạ viết thư ni thăm con, mong con được hai chữ bình an là mạ mờng (mừng) hơn chi cả”. Chuyện về khả năng ứng tác của người dân mù chữ hóa ra có thật. Trường hợp bác tôi – o Can trong câu chuyện – chứng tỏ người bình dân nhà quê biết vận dụng cả ít vốn liếng Hán Việt kiểu “lộng ngữ loạn ngôn” – hẳn là qua giao tiếp, thậm chí có khi nhờ nghe lõm – đúng văn cảnh và nhuần nhuyễn không chê được, thưa gửi phải phép, đối đáp đích đáng khi cần, và đến một o thôn nữ thường ngày kín đáo, rụt rè, dễ “ốt dột” (mắc cỡ), nhưng khi có thách đố, buộc phải tự vệ cũng sẵn sàng ra đòn với vũ khí hiệu quả tương đương vũ khí của địch thủ, không chút thua kém.
Xin nói thêm tí chút chuyện gieo vần. Khi mới tập tành thơ phú, tôi có rất nhiều thầy và cố vấn miễn phí – Huế là vương quốc thơ kia mà. Có một cố vấn căn dặn: trong thơ kị nhất là gieo vần “ồn”, “ôn”. Đừng ham những “hồn”, “cồn”, “tồn”, “môn”, …ở cuối câu sáu và vị trí của từ thứ sáu trong câu tám mà kẹt cứng không làm thơ tiếp được. Lại chớ bắt chước các danh sĩ đây đó dùng những “lưu tồn”, “tồn lưu”, hay tên địa điểm như “cồn Linh”, “cồn Lam” … Lý do bạn đọc hẳn đã đoán ra. Đã đành câu hò đối đáp không dùng thể lục bát, nhưng hễ có điệp vận, có gieo vần thì lời bậc cố vấn chớ nên quên. Vậy cái gì xảy ra với nhân vật của chúng ta?
Người đối đáp đã sơ ý sử dụng chữ “ngôn” (trong lộng ngữ loạn ngôn) với vần “cấm” – theo ý vị cố vấn thi ca của tôi – để dẫn tới sự xuất hiện của chữ “lồn” ở câu hò sau? Tất nhiên là không. Ngược lại, có thể nhận ra từ cấm kị này phải hiện ra trước trong trí người hò như một vũ khí chiến lược để đối đầu hiệu quả với quả bom “cặc” ông chủ đất nỡ lòng cho nổ trước, một dạng tên lửa đối không báo chí hay đề cập. Mặt khác, vũ khí siêu đặc biệt này đã làm nhiệm vụ tạo cao trào nghệ thuật, thiếu sự đốp chát này sức mạnh sẽ nghiêng hẳn về thế lực sở hữu bom C. Thậm chí sự kiện sử dụng bom L – loại bom mà lịch sử chứng minh có sức công phá khủng khiếp hơn xa, so với bom H – trong thế chẳng đặng đừng không bị dư luận thế giới kết luận là hiếu chiến được. Chuyện đã rõ mười mươi: vì vũ khí quyết phải sử dụng có vần “ồn” nên một từ hợp vận phải được tung ra trước đó thôi – chúng ta không thể không bái phục kỹ năng làm thơ/ gieo vần nhạy cảm đến thế của một người mù chữ, hơn nữa là một người phụ nữ, mà phải làm nghệ thuật trong tình hình tế nhị dường ấy. Từ “ngôn” làm nhiệm vụ mang vần “ôn” này dợm trước từ quan trọng hiệp vận đi sau rõ ràng tạo hiệu quả trên mức mong muốn của Tổng Hành Dinh chiến dịch. Do người thưởng ngoạn và có lẽ cả vị chánh chủ khảo khó đoán trước nên nhiệm vụ của từ “ngôn” phải nói mang tính cách của một điệp vụ. Tưởng không phải cốt màu mè khi khen từ “ngôn” nằm trong cụm từ sang trọng “lộng ngữ loạn ngôn”, đâu chỉ có phần sự ôm theo cái vần “ôn”, “ồn” quá tế nhị theo sau, mà còn giúp giải quyết tốt cả nhiệm vụ văn chương. Tinh tế mà nói, từ “lộng ngữ loạn ngôn” có phong vị bác học đột ngột chuyển qua “lồn” mạnh trên cả chuẩn dân dã, thiệt khác nào ngắm xen thoát y của một cỡ phu nhân, kiều nữ, mà mới một giây trước đó còn nền nã, sang cả trong bộ nhung y quý phái. “Phê” quá đi chứ!
Nghệ thuật ứng tác như thế, không nghi ngờ gì nữa, vào cỡ siêu đẳng. Và cũng như người đồng bào Bắc Kỳ trong bài ca dao, giọng điệu cả hai vẫn đượm nữ tính mà cùng đáo để, đốp chát, mỗi người mỗi phách. Lại đúng tình huống, tùy đối tượng: O gái Huế trực diện câu thách đố mà gai góc là người thách đố lại là người bề trên muốn nắn gân người trẻ, không phải vì ác ý, nếu không nói là ngược lại. Hoàn toàn khác với tên phải gió với mục đích đê hèn, đánh nhanh, rút nhanh – hay suồng sã hơn: đút nhanh, rút nhanh như ý trong bài ca dao – không có ý định tán tỉnh, đàm thoại gì ráo. Nên chi câu trả lời của o Huế có phần rào đón, đúng mực, thêm tí mắm muối “lộng ngữ loạn ngôn” để mềm hóa cái ý hoàn toàn lô gích, nhưng không phải không đanh đá “bác có …thì cháu cũng có …” để có kết cục là bậc huynh trưởng quả đã lặng người mấy phút vì đòn độc khá bất ngờ của hậu bối, nhưng trong cái phần thưởng đúng tinh thần mã thượng sau đó phảng phất chút tình liên tài của người có hiểu và yêu nghệ thuật.
So với câu hò miền Trung, lời ca dao miền Bắc về bản chất là câu chửi của cô gái xứ đồi dành cho tên phải gió. Có thể nhận ra trước khi kể lể cho ai đó, rồi sôi gan lên, không kềm chế mà cất tiếng chửi, cô em vùng đồi hẳn đã chửi te tát vào mặt tên xã hội đen miền quê ngay tại hiện trường. Trong những phim hành động, dạng nhân vật chuyên ra những thế đòn cực nhanh như “đè”, “đút” thường rất kiệm lời và phong cách bất cần, dày mặt, “làm nhiều hơn nói” này rõ ràng càng gây ức chế cho nạn nhân hẳn không phải mẫu ít nói – việc không ngừng van xin inh ỏi lên khi bị tấn công là phản ứng tất nhiên, nhưng việc sáng ra vừa bảnh mắt đã bô bô kể chuyện với hàng xóm vừa hậm hực chửi cả mả cha nhà nó ngay là bằng chứng. Cái nghịch lý thiên tài ở đây là nhân vật nạn nhân bộc bạch đến thế, tình huống bức xúc có chửi cả nội ngoại thằng phải gió cũng không oan, mà sự thực đã chửi toáng lên rồi, thứ tự chi tiết, sự cố chặt chẽ – một bản khai tóm tắt trình báo công an không thể ngắn gọn hơn – mà tất cả gói ghém chỉ trong 31 từ.
Chi tiết thiếu trong bài có màu sắc tường thuật của cô gái là nhân dạng tên mất dạy. Đêm cô gái lên đồi phải là một đêm trăng. Đêm tối lù mù không ngăn gã côn đồ miền quê hành sự, nhưng để hái chè thì e không đủ ánh sáng. Thế nhưng đêm trăng mà cô gái không rõ nhân dạng tên mất dạy thì nghe không ổn – thực tế, cô gái trong ca dao tỏ ra là một người thông minh, mạnh mẽ, khi ôn lại sự cố không may, cô nhớ chi tiết, không khóc lóc mà chỉ chửi, mạnh mẽ tới độ oang oang cả nguồn cơn tức tối, ngỡ như cô đợi trời tỏ một chút là xăm xăm tìm tới công an trần tình. Vậy kết luận là tên phải gió đã tấn công nạn nhân vào thời điểm trăng lu (do bị mây che!), thời điểm cô gái không thể thấy rõ mặt đại hung thủ. Nếu có phản biện rằng thời gian trăng lu không đủ dài cho hắn hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt thì sự ngắn ngủi đó giải thích được vì sao hắn chọn tốc độ và chiến thuật thích hợp là đánh nhanh rút gọn qua lời kể của chính nạn nhân. Quả là tay kinh nghiệm có thừa, và nhìn ở góc độ tâm lý tội phạm, đây quyết không phải là vụ “đè và đút” lần đầu hay lần cuối của hắn, công an địa phương chớ nên rời mắt! Một lần nữa, bên dưới vỏn vẹn 30, 31 từ thật ra là cả một cuốn phim xã hội hình sự, cốt truyện súc tích tới mức tối đa, xin có lời nhắn các cây viết truyện ngắn, các nhà tiểu thuyết lẫn các nhà bình văn, lý luận chớ vội xem thường.
Tôi tin các bạn biết cách nói “dự thi” ở trên chỉ là cách nói vui giữa bạn bè. Với hai mục các bạn vừa nghe, trong tư cách đồng giám khảo (kiêm thí sinh), tôi thầm cho mỗi mục một con số 10, lòng không chút thiên vị. Nhưng trên thực tế chúng tôi có bầu tiết mục giải vàng thật. Các bạn có tò mò muốn biết ngay là tiết mục nào không?
Thưa các bạn chính là mẩu hò đối đáp mà anh bạn miền Tây kể và các bạn sắp được nghe đây. Nói chính xác Võ Đắc Danh chỉ ngồi cười khà khà khi cả Sơn và tôi cùng dồn phiếu cho Nam Kỳ Quốc. Không dồn phiếu, khi đọc xong có khi các bạn lại trách. Dồn phiếu cho cặp đôi vô danh, vô ảnh quê xứ miền Tây, thân và hồn nay về đâu chỉ âm ba còn lại, mà màn “sáng tạo” đột xuất ngỡ chỉ để mua vui rồi vui thiệt, mà dư âm ngậm ngùi kèm theo cũng thiệt đúng ngậm ngùi…
Ôi, những con sông quê miền Tây! Những con sông khi lặng lờ, khi sôi sục đã âm thầm nuôi bao thế hệ thủy chung hai bờ, vừa mở rộng lòng cho những người xa xứ lạc loài tới đây. Nước từ những sông mẹ đổ sữa vào con kênh, con rạch chia sẻ con cá, con mú, làm phương tiện sống cho cả những kiếp đời còn mãi lênh đênh, tạm bợ. Khúc cải lương não nề, điệu phương Nam thiết tha, sáu câu vọng cổ xoáy sâu, nẫu lòng người phiêu bạc sinh ra ở đây, ấp ủ từ đất này, quê xứ này, nằm trong con nước vẫn đi về này. Người phương Nam nửa khuya trở giấc không chợp mắt lại nổi, nghe vọng từ rạch gần, sông xa tiếng ai, nỗi lòng ai như chính tiếng lòng mình. Hai tuyến hai bờ người xuôi kẻ ngược, mênh mang sông nước không rõ mặt nhau. Duyên chưa tới, người trong mơ cứ mãi là người trong mộng thì trải lòng qua điệu hò câu ca, có mà không, không mà như có. Vui có, rầu có, thanh có, tục có, tinh nghịch có, mắng mỏ nhau cũng có. Tiếc thay, tiếng hò vừa rụng xuống lòng sông một sớm sương mơ có khi là hạt ngọc, câu ca gió vừa cuốn đi trong chiều bảng lảng biết đâu là của báu trời cho. Ai là bậc nghệ nhân có công nhặt nhạnh hạt ngọc và bụi vàng này trong một khuya mất ngủ chỏng tai nghe ai ngoài sông xa đối đáp cùng ai! Chỉ biết giờ chép lại thầm ghi công một gã mang tên Võ Đắc Danh đã rót vào tai kẻ hèn này hai câu hò “tuyệt chiêu” để rồi bản thân tuyệt luôn tâm thế xem thường những quê xứ xa cách Trường An, ôm thứ kết luận hãnh tiến rằng nơi biên địa (một thời) không có Kinh Thi, và bọn ngư tiều quyết không có tầm cao sĩ.
Nhân đây có thêm lời rằng cái ý thích ca hát, ghẹo nhau – nói riêng giữa trai gái – có khi phải có lịch sử từ thời vượn người, cứ quan sát mặt mũi và sinh hoạt của loài khỉ là rõ. Việc sưu tầm dân ca, hò vè tận cả thời cổ đại cho thấy nội dung tình yêu với mọi cung bậc buồn vui hỉ nộ, tiếc nuối …hóa ra chiếm khối lượng lớn. Đến Kinh Thi mà cụ Khổng không tiếc lời ca ngợi thiếu chi màn nhớ nhung, tán tỉnh.
Cũng nán một phút mà nhắc rằng dẫu thế gian chung cục chừng đó hoạt động nhân sinh, trong đó có các xen tình ái rườm rà ướt át, nhưng phong thổ mỗi nơi ắt mỗi khác thì từ thi ca cho tới lối trai gái ướm lời, khêu gợi nhau cũng phải đa dạng. Biết tỏng thế mà đố ai, dẫu đông tây kim cổ, có được câu hò “ve trai”, nghĩa là xuất phát từ phía nữ lưu, chủ động mà táo bạo của cô gái trên chiếc ghe miền sông nước phương Nam như sau đây. Nữ quyền ư? – Chưa là cái đinh gì. Hồ Xuân Hương ư? – Xin thưa, xem nhẹ. MIỄN SO SÁNH. Cứ thế mà giật lá cờ đầu. Và nhớ cho lần nữa, người dọ ý, mở lời và thực sự tán tỉnh công khai – không phải thưa lại, không phải đáp lời, nam trước nữ sau như thông tục – là giống cái 100%.
NỮ (khơi):
Gió nam non thổi lòn Hang Cóc
Phận em nghèo mồng đóc khô rang
NAM (ứng):
Đĩa bằng lăng con tôm càng dựng đứng
Phận anh nghèo cặc nứng nửa con
Tiếc quá, do không rành rẽ lối hò của người miền Nam mà chua thêm ít “hơ …ơ …ơ…” hay “è ...è ...hè …” đúng chỗ cho ướt át, vừa để mấy từ – rơi vào tay các cụ đồ có bằng thám hoa hay phó bảng e lại biến thành những “âm hộ”, “dương vật” lãng nhách – đắc địa nhất dễ lọt tai hơn, và để người nghe cùng nhớ tiếng hò đang được cất lên trên mênh mang sông nước. So với con số 31 và 39 chữ của hai tiết mục diễn trước, con số cả hai câu hò là 29.
Bình thế nào đây trời …cổ kim có thứ giao duyên, tán tỉnh nào kinh khủng hơn nữa không!
Ngày đó, Cao Xuân Sơn lặp lui lặp tới “Siêu thực! Siêu thực!” rồi chàng ta – xin lỗi trước bạn đọc nào còn giữ thói đạo đức giả, còn tập khí dè bĩu tiếng nói còn thơm thảo mùi sông nước nguyên thủy của nhân loại – oang oang bình tiếp “mồng đóc khô rang tưởng đã quá lời, đã cám cảnh …nghèo tới nổi cặc chỉ cứng nửa con thì ...thì ...siêu thực mà thương quá!”. Cũng Sơn – do nghề biên tập thơ (hiện nay Sơn là trưởng chi nhánh NXB Kim Đồng) – hào hứng như mới phát hiện một bản thảo xuất sắc của một cây viết còn vô danh, xin thề với các bạn, mắt bỗng rươm rướm ngoài dự kiến, tiếp tục lảm nhảm “cặc mà cứng nửa con đéo thế nào được …nhỉ!”. Do không ai giải thích, chàng lại tiếp tục “Siêu thực! Siêu thực!”.
Mà đúng hiệu ứng siêu thực thiệt. Không phải các bố các u hậu hiện đại, hay ngược về những dã thú, tượng trưng, dada hay xiêu-viêu-hiện-thực đầu thế kỷ trước mà sự đóng góp hình tượng đắt giá, sức nặng trần trụi, bộc phát có độ “sát thương” tương đương hàng độc của Kim jong-un thỉnh thoảng giới thiệu với thế giới phải là đây nè ...nè ... Ai chuyển kịp những “mồng đóc khô rang”, “cặc nứng nửa con” ra sân khấu thế giới để những người anh em chị em bất kể màu da hoặc phiêu dạt bên lề văn minh ngay trên quê hương mình, hoặc đang là thân phận bị ruồng bỏ trên xứ người có thêm vài cách diễn tả cực “phê” nỗi đau của mình và có câu “uống nước nhớ nguồn”, xin chớ quên nguồn gốc Annam của nó.Và phải chăng đây chính là cái nghèo “vô hậu kế đợi” quyết không bị đụng hàng có mác Việt 100%. Thử hỏi các chuyên gia phân tâm học quốc tế đã từng nghiên cứu hiện tượng “khô rang” và “nửa con” tột cùng của sự bi đát này hay chưa? Các nhà chính trị mồm lãi nhãi thắng lợi kinh tế liên tục, ca ngợi hiệu quả giấc mơ toàn cầu hóa hay các ngũ niên đầy hồ hởi có chịu nghiêng mình nghe tiếng “tân thanh” này hay để mặc gió cuốn đi. Hai câu hò “vô-hậu-hiện-đại” hoàn toàn xứng đáng đặt ngang với “chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa” (Nguyễn Du) và “Tao muốn sống lương thiện mà chúng nó không cho tao sống lương thiện” (Nam Cao) trong đền văn chương nghệ thuật Việt như những tiếng than xé mây thăng lên, đâm thẳng mặt trời cao vô cảm.
Lời bình có to tát quá không. Rút kinh nghiệm vậy. Quay về với sông nước, với lối giao tình tinh nghịch mà không thiếu thiệt tình, bộc bạch. Ghe đi đường ghe, thuyền trôi đàng thuyền mang theo những món lỉnh kỉnh trời ban mà không có chỗ dùng, thậm chí đang có nguy cơ hỏng hóc …Cũng chỉ nghểnh cổ hò chơi, nhưng nếu có chút hơi hướm nghiêm túc thì đây đã phân giải cả rồi. SẠCH SÀNH SANH. Khoảng cách, bóng đêm, nước trải mênh mang đồng lõa để ai đó tự do đẩy nữ quyền và nhân quyền lên đến tột cùng mà không lộ mặt. Và trên tất cả, chỉ văn nghệ thuần túy – nghệ thuật như một thủ pháp gây hiệu ứng thẩm mỹ và văn chương như một trò chơi chữ – sự thành công của tác phẩm hò bất hủ lại được thực hiện qua một trò đùa tán tỉnh, vô tư, thực tế vui là chính, và bằng những hình tượng và ngôn ngữ không thể nào “tục” (tĩu) hơn! Nghệ thuật lớn thường đi với khả năng kết hợp những yếu tố ngỡ như không kết hợp nổi, và hương vị “tục” (tĩu) đi được với ngậm ngùi, làn hơi “sỗ sàng” kết được với mùi thế sự – theo ý tôi – đã đưa hai kẻ vô danh, nghèo rớt mồng tơi trở thành những công chúa, hoàng tử trong ngôi đền mang tên Sáng Tạo. Có thêm thắc ý cuối thì thưa rằng yếu tố tục chẳng xa lạ gì với đồng bằng miền Trung, miền Bắc, nhưng chắc không ai phản đối, với hai câu hò 29 chữ, những người hành phương Nam và hậu bối của họ quả đã không quên di sản truyền thống quý giá của dân tộc nếu không nói đã góp thêm hương vị “sauvage” nguyên thủy độc đáo và hết ý. NO TABLE – à quên – NO COMMENT.
* Để thêm phần sinh động và thuyết phục xin thêm chi tiết sau. Một lần tôi được xem tập thơ của nhà thơ Từ Hoài Tấn ở nhà anh Nguyễn Tiến Văn, đọc thấy tác giả ghi nơi sinh chính là làng nội của tôi, lòng cảm động. Theo Nguyễn Tiến Văn, Từ Hoài Tấn kể chuyện bà cụ anh trên đường “chạy giặc”, tấp vào làng nội tôi và hạ sinh nhà thơ anh em của tôi. Một lần nhớ đời, tôi đang hò câu “Cháu không hò thì…” kể trên cho Từ Hoài Tấn nghe – hôm đó có cả Hậu, em ruột của Từ Hoài Tấn (tên thực của Từ Hoài Tấn là Hiền) – thì hai anh em cho biết nhân vật Bộ Bàng là có thực, người quê làng Chuồn (An Truyền). Cụ có đất đai ở làng nội tôi. Điều quan trọng là hai anh em biết rõ nhân vật này vì cụ Bộ Bàng là …ông ngoại của hai anh em! (Và hóa ra cụ là em ruột cụ Nghè Luận, thông gia với ông nội tôi). Khuôn mặt nhân vật thứ hai vậy đã được xác định. Kể cũng thú vị!
 https://vandoanviet.blogspot.com

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

Chuyện chú tôi – “Morin” Nguyễn Văn Yến

Hồi ức Nguyễn Tuyết Lộc

Sau một năm đi “lính kiểng”, anh Nguyễn Văn Thạch tôi nghe lời anh Hai về tiếp tục việc học. Chuyện anh đi lính kiểng thật buồn cười. Khi đi thi thành chung, anh mới mười sáu tuổi, sau đó để đạt được giấc mơ nhập ngũ của tuổi teen, anh khai thành mười tám tuổi. Bấy giờ cậu Nguyễn Ngọc Lễ – em nuôi của Ba Mẹ, sau này là trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ (quân đội Việt Nam Cộng Hòa) – đỡ đầu và khuyên anh vào ngành truyền tin, tránh ra chiến trường đánh đấm với một địch thủ mà chắc anh chẳng hiểu rõ mô tê và chẳng thù oán chi...
Ngày nào cũng như ngày đó, anh Thạch ngồi trước máy tập đánh chữ morse tích tích tích tè tè tè… Anh bắt đầu phàn nàn tưởng đi lính được làm hảo hán trên sa trường, ai ngờ…, nên khi anh Hai bảo về học tiếp, anh bèn từ giã máy truyền tin ngay không tiếc nuối. Giấc mộng chiến đấu hào hùng phảng phất hơi hướm của nhân vật Dũng trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt  Đôi bạn của Nhất Linh của thế hệ anh chấm dứt từ đó. Vì trễ một năm nên anh Hai – đang dạy ở Lycée Khải Định – cấp tốc dạy “dồn lớp” cho anh Thạch.
Anh Thạch học chương trình đệ tam, đệ nhị trong một năm và thi đậu tú tài bán phần; học xong lớp đệ nhất, đỗ ngay tú tài toàn phần; anh thi tiếp bourse Bảo Đại và du học Pháp. Như vậy chỉ trong hai năm, anh Thạch học chương trình mà một học sinh bình thường phải học mất ba năm. Anh Hai thương em, cái gì cũng muốn dồn hết vào đầu em. Anh Thạch học môn toán đã căng thẳng mà anh Hai tính vốn rất nóng, nên không khí học và dạy của hai anh em lại càng căng hơn nữa. Anh Thạch rất có ý chí học tập. Một bài toán anh giải đi giải lại cho đến khi nào đạt thời gian nhanh nhất và tìm ra nhiều cách giải khác nhau. Anh Hai bảo đọc đề toán xong là phải giải liền không được nghĩ ngợi nhiều tốn thời gian. Sau này anh Thạch đỗ tiến sĩ Vật Lý ở Đại học Grenoble – Pháp, ngoài công sức của bản thân thì kết quả học tập của anh Thạch là nhờ ở công phu dạy dỗ và tình thương, lòng tận tuỵ của anh Hai với em.
Vào thời gian này, 1955, đại gia đình tôi từ 23 đường Âm Hồn – Thành Nội – chuyển sang thuê nhà gần Kho Rèn còn gọi là khu Nhà Đèn ở đường Lý Thường Kiệt, cách nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế vài trăm mét. Nhà rộng mênh mông, cây cối um tùm, nhiều phòng lớn nhỏ lại có thêm một dãy nhà ngang dành riêng cho gia nhân. Đây là biệt thự của một người Pháp để lại. Hai vợ chồng bác Tủn giúp việc cho đại gia đình tôi, vợ thì bếp núc, chồng làm vườn và những việc linh tinh khác. Họ ở chung với mẹ già và hai đứa con nhỏ. Mẹ tôi thấy họ chân chất, thật thà nên đồng ý để họ ở lại trong nhà luôn. Họ là người công giáo di cư từ Bắc vào năm 1954. Tôi là con em Gia đình Phật tử, nhưng tối nào cũng xuống xem họ đọc kinh trước giờ ngủ cùng với một số người hàng xóm. Tôi cũng bắt chước đọc kinh theo nên thuộc khá nhiều kinh nhà thờ. Đại khái như “Kính mừng Maria Đức Mẹ Chúa Trời cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử. Amen!. Những lời kinh “ngoại giáo” cũng ăn sâu vào tiềm thức tuổi thơ của tôi, trong khi tôi vẫn theo mẹ hứng khởi tụng “Đệ tử chúng con từ vô thủy, gây bao tội ác bởi lầm mê, đắm trong sinh tử đã bao lần, nay đến trước Đài Vô Thượng Giác…”.
Không bao lâu anh Hai được cử làm Hiệu trưởng trường Quốc Học nên chuyển vào ở trong khuôn viên trường. Đó cũng là lúc chú Nguyễn Văn Yến muốn báo đáp ân nghĩa sâu nặng của ông bà nội và ba mẹ tôi nên “vừa bán vừa cho” Ba Mẹ và gia đình anh Hai ngôi biệt thự xinh xắn với giàn “ti gôn hoa dáng như tim vỡ” bao quanh tường nhà ở địa chỉ 6 và 8 Lê Đình Dương, ngay đầu ngã tư Lê Lợi và Lê Đình Dương, chỉ cách cầu Tràng Tiền và Morin hai, ba trăm mét. Sát tường nhà gia đình tôi là Culturelle Françaises (nay là 15A Lê Lợi) rồi đến Cercle.
Ngay những ngày đầu tháng 4 năm 1975, Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Huế và đại tá Giàu từ Bắc vào đã “tiếp thu” ngôi nhà này vì anh Hai tôi di tản qua Mỹ và Ba Mẹ tôi vào Sài Gòn. Nhiều năm sau, tôi nghe nói khu nhà gia đình tôi cùng với những dãy nhà kế tiếp đã bị chính quyền thành phố Huế cho san bằng – từ ngã tư Lê Lợi, Lê Đình Dương (nay là Phạm Hồng Thái) cho đến sát bờ sông Hương và hiện Tổng Công ty Phương Nam thuê lại đất, mở nhà sách Phương Nam và làm nơi trình bày những sản phẩm của các làng nghề Huế.
Nằm ngay trên ba con đường chính phía hữu ngạn sông Hương: Hùng Vương (từ cầu Tràng Tiền xuống An Cựu), Lê Lợi (từ Cầu Ga đến cầu Đập Đá) và Hoàng Hoa Thám (thẳng góc Lê Lợi đến Dòng Chúa Cứu Thế) là một thương xá phức hợp lớn nhất Huế: Morin - Nguyễn Văn Yến. Cái tên của chú tôi gắn liền với ông Morin như một định mệnh, từ đó mà chú tôi có tất cả và cũng từ đó mất tất cả.
Theo lời Ba Mẹ tôi thì cha của chú Yến là người Hoa họ Vương, mẹ chú – mụ Vàng, người Việt. Hai vợ chồng mụ đông con, là người giúp việc thân cận, lâu năm cho ông bà nội tôi. Vì ông bà nội chỉ có Ba tôi là con trai duy nhất nên xin chú Yến làm con nuôi để Ba có em, có bạn và cải họ Vương của chú thành họ Nguyễn – Nguyễn Văn Yến. Ông nội giàu có, trước khi mất để tiền bạc của cải cho con cái, trong đó có phần cho chú Yến, thậm chí ông nội nói sau này thế nào chú Yến cũng sẽ làm nên sự nghiệp, thành đạt về kinh tế.
Mọi việc quả như ông nội dự đoán, ban đầu chú thu thuế ở chợ An Cựu, sau đến chợ Đông Ba, cuối cùng chú may mắn lọt vào mắt xanh của ông Morin và được ông thâu nhận làm thư ký riêng. Ông Morin từng tham gia quân đội Pháp, sau khi giải ngũ, ông ta chọn ở lại Việt Nam lập nghiệp và trở thành chủ khách sạn Morin. Chú Yến làm việc cần mẫn, ngày càng được chủ tin cậy.
Jean Despierres miêu tả khách sạn Morin như sau: “... Phía bên kia sông Hương, có cầu Clémenceau bắc qua, là khu phố người Âu, với các khu nhà hành chính (dinh Khâm sứ, cơ quan công chính, Tòa thị chính), các trường tiểu học, trung học, bệnh viện, nhà thờ, đài tưởng niệm, đặc biệt là khách sạn Morin, trung tâm của cuộc sống quan chức thuộc địa, nơi tổ chức các cuộc gặp gỡ với nhiều nhân vật quan trọng và nổi tiếng. Trong sổ vàng khách sạn vẫn còn giữ bút tích và chữ ký của những nhân vật nổi tiếng như nguyên soái Joffre và Foche, André Malraux, Sylvain Lévy, Léopold Cadière, Pierre Pasquier, Catroux, Paul Reynaud, Charlie Chaplin…” (Đông Dương Xưa (L'Indochine d'Antan), Hà Nội: Giáo dục, 2010, tr. 68-69).
imageKhách sạn Morin Frères
image
Phòng chiếu phim trong khu khách sạn Morin Frères

Chính anh em nhà Morin là những người đầu tiên phát hiện Huế là vùng đất du lịch và để lại ở xứ Thần kinh một công trình xinh đẹp, hiện đại nằm trong lòng một Huế cổ kính.
Năm 1954, sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ông Morin giao chú Yến quản lý khách sạn. Khi ông bà Morin qua đời tại Huế, chú là người kế thừa và từ đó khách sạn có tên Morin- Nguyễn Văn Yến.
Khu thương xá Morin bao gồm rạp chiếu phim, dancing, khách sạn, riêng khu vực trưng bày thời trang chiếm một dãy dài ngay mặt tiền đường Lê Lợi, rực rỡ, sang trọng, đối diện bên kia đường là Đài Phát thanh Huế. Đây là nơi dành riêng cho thím Yến trông nom. Thật ra thím Yến có mặt để khách vào nhìn ngắm thím hơn là mua sắm. Áo quần, kim cương làm cho thím từ một phụ nữ chân chất, ít học, trở nên xinh đẹp, sang trọng hẳn. Tóc thím luôn búi cao, cài trâm gắn hột xoàn, đôi mắt sâu, to như mắt các cô gái Trung Đông. Thím luôn mặc áo dài gấm, cổ cao, khi thì đeo kiềng, khi thì dây chuyền tượng Phật, hột xoàn lấp lánh. Thím ít nói, miệng nhai trầu, nhưng không nhuộm răng đen. Thím ngồi trên sập gụ chạm trổ hoa lá. Khách vào mua sắm hầu hết là người nước ngoài hoặc phu nhân các vị tướng lãnh, quan chức đầu não của thành phố. Có lẽ không bao giờ thím Yến và những người từng trầm trồ, ái mộ, ghen tị với thím lường được số phận bi kịch của gia đình chú thím chủ yếu lại đến từ chính điều kiện may mắn và xa hoa hơn người này.
Chung quanh khu Morin, các cửa hàng kinh doanh, uốn tóc, lớp dạy thêu máy Đại Lượng, tiệm chụp ảnh Đông Anh, trường tư thục đệ nhất cấp Bồ Đề, nhà sách Uyên Bác. Trước đây, thầy Lê Quang Vịnh giảng dạy ở trường Bán Công, là trường anh Hai tôi thành lập, rồi vào Sài Gòn dạy và mỗi lần về Huế, ông thường ghé tiệm sách Uyên Bác. Nhiều học sinh cũ nghe đồn thầy “ngưỡng mộ” chị Lục Hà, là ca sĩ Hà Thanh của Đài Phát thanh Huế – con gái của ông chủ tiệm sách – nên rủ rê nhau lén theo “rình thầy”. Còn “love story” giữa hai con người có tên tuổi này thực hư ra sao thì có lẽ chỉ thầy Lê Quang Vịnh mới xác nhận được.
Chú Yến đẹp mã theo kiểu các doanh nhân một thời. Người lúc nào trông cũng thơm tho, bảnh bao, không cao lắm, không tròn quay bụng phệ như những người Hoa khác mà tôi thấy. Chú để đầu trọc như Yul Brynner, ngôi sao màn bạc Mỹ trong phim Le Roi et Moi. Những chiếc răng mạ vàng làm cho nụ cười của chú thêm phần rạng rỡ, đúng model “cười lên đi cho răng vàng lấp lánh”. Da chú trắng hồng, đôi mắt đeo kiếng trắng, gọng vàng, khuôn mặt sáng, thông minh. Chú lịch thiệp, thường trực tiếp lo việc tiếp tân các vị khách sang trọng Tây và Ta. Chú không theo học một trường lớp quản lý kinh tế nào, nhưng trong chú có sẵn dòng máu Hoa giỏi về thương trường, kinh doanh mua bán. Mọi việc đều do chú quản lý, từ điều động nhân sự đến việc thu chi ông Morin đều nhờ một tay chú, xem chú là cánh tay mặt không thể thiếu. Trước khi mất, ông Morin đã giao cho chú làm chủ tài sản to lớn đó và chú vẫn bao thầu thuế chợ Đông Ba.
Có vài lần tôi lẽo đẽo theo chú Hiền, người được phân công thu thuế ở chợ Đông Ba, chơi. Mỗi sáng chú cầm một xấp giấy nhỏ được đóng mộc xanh, chú xé từng tờ quẹt lớp hồ mỏng rồi ịn mạnh vào những chiếc nón rách tươm của người bán hàng đang ngồi bệt dưới đất, trước mặt họ là mủng rau cà hay tôm cá. Họ ngước đầu lên:
-Mới sáng sớm chưa bán được chi hết chú ơi, có tiền mô mà dán.
Chú Hiền nạt:
-Dán trước, chút trở lại lấy tiền. Mệt ghê, ngày mô cũng than. Mạt thiệt!
Tiếng hay ca cẩm của bà con buôn thúng bán bưng không lạ gì, nhưng nhìn cảnh cơ cực của họ, trái tim con trẻ không thể không nhói đau. Từ đó tôi không theo chú ra chợ nữa.
Chú Hiền tiếp tục dán hết nón những người bán hàng ngồi ngoài trời rồi vào trong lồng chợ dán một loại thuế khác. Tất cả thuế này đều đưa về cho chú Yến hằng ngày, phần nhiều là tiền cắc, tiền rách, chú sẽ cho người vào kho bạc đổi thành tiền chẵn.
Nhà chú Yến và nhà Ba Mẹ tôi cùng con đường Lê Lợi, chỉ cách một công viên xinh xắn, rồi tới khu Công chánh. Hằng năm khi trời vào thu, công viên phủ đầy lá vàng. Sau giờ tan lớp, từ trường trung học đệ nhất cấp Bồ Đề, tôi thường ôm cặp vào công viên này, giẫm trên tấm thảm lá ẩm ướt, thơ thẩn vài vòng, cho con đường về nhà quá ngắn đó trở nên dài hơn chút nữa, để mùi thơm ngất ngây của cây lá, của hương thu ướp vào tóc, vào áo quần, vào da thịt, hít thật sâu vào hai buồng phổi nhỏ bé cái hơi lạnh của gió sang mùa, cho đến khi cảm thấy hả hê rồi mới chậm rãi về nhà.
Chú thím có hai con gái là Tuyết Hồng (sau đổi tên Thanh Ngọc) và Tuyết Thu. Chú còn nhận thêm hai con nuôi, một gái, một trai là Tuyết Ngọc và Thanh Hoàng. Các con của chú sống sung sướng như công nương công tử. Mỗi lần lên Morin, tôi giống con chuột nhỏ tí, chạy khắp nơi, hết vào rạp chiếu phim lại chạy lên lầu thượng, nơi chú nuôi những loại chim quý trong lồng và trồng những kỳ hoa dị thảo, đi xem phim luôn được ngồi ghế thượng hạng chẳng mất tiền mua vé. Anh Thạch tôi còn dẫn bạn vào xem nữa. Không như những rạp khác ở Huế như Châu Tinh, Lido, hay Tân Tân, Hưng Đạo chiếu theo xuất, mỗi xuất 2 giờ, rạp Morin chiếu permanent trên màn ảnh rộng lớn gọi là đại vĩ tuyến (cinemascope) nên tha hồ xem khi nào chán thì về, thuộc lòng chuyện phim và đời tư tài tử xi nê còn hơn thuộc bài. Tôi sưu tầm những tờ program đóng thành từng tập, theo thể loại phim; không đi xem cũng lấy tờ rơi về cất giữ.
Chủ nhật hay ngày lễ tôi thường lên chơi với Tuyết Hồng và Tuyết Thu. Chúng tôi chỉ hơn nhau vài ba tuổi nên dễ thân thiện. Cầu thang được trải bằng thảm màu bordeaux rượu chát, trên lầu trải thảm hoa, phòng nào cũng rộng lớn. Hồng và Thu có vô số đồ chơi của Pháp rất đẹp. Thu cùng tuổi với tôi nhưng tính cách còn ham vui, học hành không xuất sắc lắm. Hồng lớn hơn tôi mấy tuổi, thích vẽ. Hồng thường lấy ảnh ngôi sao màn bạc nước ngoài gạch ca rô, rồi vẽ phóng to lên ở giấy croquis bằng bút chì. Sau này tôi bắt chước Hồng vẽ treo trong phòng ngủ, nào là Liz Taylor, Pierre Angélie, James Dean… Hồng được nhiều thanh niên ngưỡng mộ, khi nào cũng có bóng dáng vài chàng đứng dưới đường ngước cổ nhìn lên cửa sổ lầu trên, nơi nàng hay xuất hiện. Tóc Hồng để dài ngang vai, thường gọi là tóc thề, xinh đẹp, con nhà giàu, lãng mạn. Không lãng mạn sao được khi Hồng học đệ nhất trường Quốc Học, cô nàng đã cố ý không thi vào đại học, chờ người yêu là Mai Duy Trung đang học lớp đệ tam lên đệ nhất để cùng thi với nhau, nhưng rồi lấy xong bằng tú tài toàn phần Hồng nghỉ ở nhà còn Trung tiếp tục vào Đại học Sư phạm Pháp văn, ra trường Trung dạy ở trường Kiểu Mẫu. Đây là một cặp tình nhân đẹp đôi, đáng yêu, chuyện tình của họ một thời nổi tiếng ở Huế.
Tai họa bỗng ập lên gia đình chú Yến vào gần cuối năm 1957. Chú bị Ngô Đình Cẩn ra lệnh bắt với tội danh “liên lạc, làm tay sai cho Pháp”. Với Ngô Đình Cẩn, khi muốn bắt ai thì việc gán ép tội danh là chuyện không lạ gì. Biết bao nhiêu người làm ăn tử tế sa vào cạm bẫy ác ôn của một thứ sứ quân đang phất lên như diều gặp gió ở miền Trung. Ông Phan Văn Thí, chủ tiệm buôn Đức Sinh ở 77 đường Trần Hưng Đạo, bị bắt và bị tra tấn tàn nhẫn. Ông Nguyễn Đắc Phương là thầu khoán, bị vu cáo chứa thuốc phiện lậu và làm gián điệp cho Pháp, nghe đồn bị xô từ lầu cao xuống. Ông Trần Bá Nam cũng thầu khoán bị chặn bắt trên đường đi Savanakhet về Huế và bị gán tội làm gián điệp cho Pháp, bị tra khảo, đánh đập đến chết. Ông Bửu Bang, chủ tiệm Rồng Vàng ở 105 Trần Hưng Đạo bị bắt giam ở Chín Hầm. Ngay cả ông chủ tiệm sách Nam Hưng là ông Lê Văn Châu ở 125 Trần Hưng Đạo cũng bị bắt…
Trò vu cáo, đàn áp vì mục đích chính trị và lấy bộ mặt chính trị để cướp của, cướp mối hàng hoặc cơ sở làm ăn của nhau xưa nay không có chi lạ, gia đình họ Ngô không phải là một ngoại lệ. Có khi người sau học kinh nghiệm bất nhân của người trước còn ghê gớm hiểm độc hơn nữa. Điều mỉa mai nhất là cái tội “làm tay sai cho người Pháp” mà anh em Ngô Đình Diệm gán ghép, chụp mũ cho nạn nhân của mình lại chính là những hoạt động, hành trạng mà dòng họ Ngô từng công khai xem là vinh dự của chính dòng họ mình để phục vụ quan thầy là thực dân Pháp.
Nếu giở lại các trang lịch sử thời Pháp thuộc rồi lật qua trang sử cộng sản ngày nay, và đọ chiếu với chính sách ức chế chuyện làm ăn, kinh doanh của giới tư sản Việt thời anh em nhà họ Ngô, chúng ta mới ngộ ra rằng dù mục đích có khác nhau, chủ trương, giáo điều nghịch nhau, hoá ra quyền lực Tây Ta đều là những “đao phủ thủ” của tầng lớp tư sản Việt Nam mới chật vật nổi lên, đặc biệt là những người dám cả gan ganh đua, thách đố với họ. Xét về bản chất và hậu quả, những vụ giành ăn, cướp của riêng của Ngô Đình Cẩn ở Huế và miền Trung cũng gợi tới màn trình diễn “cải tạo công thương nghiệp”của chính quyền cộng sản sau 1975 làm bao người làm ăn chân chính trên một vùng đất nghèo khổ, sống dở chết dở.
Quay trở lại những trang bất nhân của Ngô Đình Cẩn đối với các nạn nhân, mà qua thông tin của người lớn, phụ huynh và do quan hệ thân nhân, tôi biết khá cụ thể. Thay cho những cảm xúc có khi chủ quan, xin được dẫn chứng cung cách truy tội, chụp mũ – đạt mức “vô hậu kế đợi” theo cách nói của người Huế – của đám đệ tử chế độ Ngô Đình qua lời khai của ông Phan Quang Đông (ông này bị bắt năm 1963 và bị chính quyền Sài Gòn tử hình năm 1964).
Sau khi lãnh chỉ thị ông Cẩn, tôi sang lầu Hòa Bình gặp ông Tống Văn Đen, ông ấy bị câu lưu và khai thác từ 9-10 ngày rồi nhưng chưa khai báo gì. Thuyết phục không được, tôi nghĩ tới việc bố trí một cuộc thủ tiêu giả tạo để áp đảo tinh thần ông Tống Văn Đen. Vì quá sợ, ông Tống Văn Đen khai có nhận làm gián điệp cho Pháp, có nhận thư của hai tên Pháp ở Nhà Đèn Huế, giao lại cho hai ông Phan Văn Thí và Nguyễn Văn Yến. Tôi cho ông Đen làm tờ khai xong, vào gặpông Cẩn để trình bày về kết quả khai thác. Ông Cẩn lộ vẻ vui mừng, chỉ thị bắt hai ông Phan Văn Thí và Nguyễn Văn Yến vào, bảo tôi “hai người đó làm kinh tài, khai thác cho được”.
Do đó, Ty Cảnh Sát Huế phụ trách việc bắt và khám nhà hai ông Thí và Yến, nhưng không bắt gặp được một tài liệu gì về hoạt động gián điệp của họ cả. (Tôi nhấn mạnh – NTL).
Bằng vào lời khai của ông Đen, tôi hỏi ông Thí có nhận thơ hai người Pháp ở Nhà Đèn do ông Đen đưa lại không, ông Thí phủ nhận. Tôi dùng biện pháp mạnh như tra điện, cho uống nước dơ do Nguyễn Văn Trị và Bùi Kế đảm nhận liên tiếp trong một tuần, cuối cùng ông Thí nhìn nhận có nhận thơ của hai người Pháp ở Nhà Đèn Huế, và làm kinh tài cho tổ chức gián điệp Pháp, và còn khai thác mấy ông Võ Văn Quế, Châu Đình Chương và Nguyễn Văn Nhiệm ở Đà Nẵng. Có lẽ vì bị đau quá nên ông ấy khai tên những người quen biết. Tôi cho làm bản khai xong trình lên cho ông Cẩn.
Riêng ông Yến cũng bị bắt một lần với ông Thí do Nha An Ninh Quân Đội nhận hàng đầu khoảng một, hai tháng gì đó, kết quả khai thác như thế nào không rõ, thì ông Yến đưa sang cho tôi làm tại lầu Hòa Bình. Tôi căn cứ vào lời khai ông Thí để thẩm vấn, ông Yến không chịu nhìn nhận gì hết, tôi phải dùng đến những biện pháp mạnh, như ngó đèn 500Watt, tra điện trong mấy ngày, ông Yến mới chịu nhận có làm gián điệp cho Pháp. Tôi giao cho Nguyễn Văn Trị và Bùi Kế hướng dẫn cho ông Yến làm bản khai, căn cứ theo lời khai của ông Thí, cũng như ông Thí trong thời gian lấy lời khai ông Yến cũng phải chịu những cực hình
Ngay sau khi ông Thí khai ba người là các ông Võ Văn Quế, Châu Đình Chương và Nguyễn Văn Nhiệm, đối với ông Chương và ông Nhiệm tôi đặt giả thuyết làm kinh tài, còn riêng ông Võ Văn Quế là một cựu nhân viên Công an Pháp chuyên môn về tình báo, tôi nghĩ rằng trong tổ chức kinh tài có cả tình báo nữa; nên tôi bảo nhân viên, không những khai thác về kinh tài mà còn chú trọng khai thác về tình báo nữa. Bằng vào lời khai của các nạn nhân trên kết hợp với sự suy nghĩ của tôi, tôi hệ thống hóa thành tổ chức kinh tài và gián điệp Pháp, xin chỉ thị của ông Cẩn để lần lượt bắt một số người gồm đủ các giới, quân nhân, công chức thương gia. Những người này bị bắt, vì tra đánh quá sức không chịu đựng được, nên mới khai những người mình quen biết, do đó con số người dính líu vào vụ gọi là gián điệp Pháp, càng ngày càng tăng bao trùm hết các tỉnh ở Trung phần và Sài Gòn”. (Khẩu cung Phan Quang Đông, Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, thành phố Hồ Chí Minh).
Tôi đề nghị những ai còn chưa nhận ra bộ mặt tàn tệ, ác độc và lòng tham không đáy của Ngô Đình Cẩn, thử giải thích có cái gì liên hệ giữa những hành động trời không dung, đất không tha do chính tay chân của ông ta khai báo như trên, với cái “chính nghĩa quốc gia” mà anh em Ngô Đình vẫn cố vơ vào cho dòng họ mình!
Chú Yến bị tù, tài sản và cơ sở Morin bị Ngô Đình Cẩn tịch thu rồi cho chính quyền Sài Gòn thuê làm trường Đại học Huế. Theo lời người ta nói, sau khi thừa hưởng gia sản lớn của ông Morin, chú Yến quên ngoài mình ra còn có vị lãnh chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn. Cẩn là một tài phiệt độc quyền buôn quế, mua bán thuốc phiện trên toàn Châu Á, qua đường Lào. Họ truyền miệng nhau: khi bầu cử tổng thống miền Nam, ai không bỏ phiếu cho ông Ngô Đình Diệm, anh của Ngô Đình Cẩn, thì Cẩn ra lệnh đánh đập, tra khảo, đổ xốt nước tiêu xay vào miệng vào mũi, hòng trấn áp những người khác chính kiến.
Với một kẻ thâm độc như Ngô Đình Cẩn, không thể có một vương quốc khác trong vương quốc Ngô Đình Cẩn. Trong khi chú Yến ở tù, Ngô Đình Cẩn cho người ép thím lên nhà Cẩn để “thẩm vấn”, cũng có tin đồn vì quá thương chồng nên thím Yến đã tự nguyện lên tận nhà ông Cậu để xin tha cho chồng. Người ta còn đồn rằng Ngô Đình Cẩn rất thích những phụ nữ đã có chồng con, đã từng đày nhiều ông chồng đi nơi khác hoặc cho thủ tiêu để quan hệ với những bà vợ mà Ngô Đình Cẩn để mắt tới. Tôi không nhớ rõ sau mấy năm thì chú được thả ra, nhưng sau khi tịch thu cơ sở Morin, gia đình chú được phân một căn hộ ở đường Trần Hưng Đạo gần rạp chiếu bóng Tân Tân.
Lúc được thả về, chú kể trong thời gian chú ở tù, Ngô Đình Cẩn cho người tra tấn đổ xà phòng vào miệng bắt uống, rồi đánh vào bụng để ói ra, rồi đổ vào nữa…, cứ thế cho đến khi ngất xỉu. Vì quá lo lắng cho chú nên thể chất tinh thần thím nhanh chóng suy sụp. Khi chú đã về nhà, sức khỏe thím vẫn chưa hồi phục.
Thím bị băng huyết được gia đình đưa lên bệnh viện Trung Ương Huế, bác sĩ chẩn đoán là thím bị trụy thai, cụ thể là thím “mang thai ngoài tử cung”. Họa vô đơn chí, sau đó không lâu thím qua đời. Đám tang của thím rất lớn, bạn hàng buôn bán chợ Đông Ba thương thím đã nghỉ một ngày để tiễn đưa. Đoàn người theo linh cữu thím đi từ phố Trần Hưng Đạo lên đến Nam Giao. Sau cái chết oan ức của vợ, chú Yến thành người nghiện rượu, tinh thần và sức khỏe ngày càng xuống dốc cho đến khi mất. Tội nghiệp Trung và Hồng phải tổ chức đám cưới chạy tang rất vội vàng.
Sau bao nhiêu thương hải tang điền, khu Morin vẫn còn dáng dấp xưa, với lối kiến trúc Pháp cổ điển giữ được không khí hoài cảm cho bao người, có lẽ cả du khách từ Paris, Marseille, biết đâu họ là con cháu của những quý ông, quý bà thực dân hay phiêu lưu một thời vang bóng. Riêng tôi, mỗi lúc hiếm hoi trở lại Huế, khi bước qua “đường xưa lối cũ” không ngăn được nỗi niềm nhớ tới những bước chân thơ ngây, tiếng cười dòn dã cùng chia sẻ với những cô em họ khả ái ngày nào, nhớ những ngày an lành, thành đạt của vợ chồng người chú quý mến, quảng đại và số phận đắng cay mà chú thím tôi phải chịu đựng trong bàn tay gian ác của cậu em út dòng Ngô Đình.
Chú Yến kính mến,
Đã sáu lăm năm qua từ khi chú nhắm mắt, chết trong tức tưởi, cháu lại có dịp thắp một nén hương cho chú. Có muộn màng lắm không, thưa chú?
Sinh thời chú không muốn làm lịch sử, không mong dính líu chi tới chuyện vua quan, lãnh chúa, chính trị chính em, nhưng số phận vốn không thiếu vinh quang – cái vinh quang của một người lao động nhờ cần mẫn, quyết chí mà lập thân thành đạt, thành công lừng lẫy một thời – đã được dành một đoạn kết không thể bi đát hơn.
Gia đình tan nát, sinh ly tử biệt, kêu trời không thấu do một tay đồng hương, đồng bào gian ác gây ra, nhưng hình ảnh chú thím vẫn được nhớ bởi bao đồng hương đồng bào trung thực, tử tế khác- quê hương mình mô phải chỉ có thiểu số ác ôn,vô hậu ni! – như một doanh nhân lương thiện, nhà tư sản dân tộc thành công và cũng là một ví dụ đau thương trong số hàng chục ngàn nạn nhân sống chết tức tưởi vì một Ngô Đình Cẩn – con hùm xám miền Trung.
Thương thay, chú đã vĩnh biệt cõi trần ai trong đắng cay, tủi hờn, không kịp chứng kiến quả báo nhãn tiền trời cao dành cho Ngô Đình Cẩn. Đánh mất cơ hội tạo dựng một quốc gia có thể có đường lối vừa chống thực dân vừa phi cộng sản, không ai khác  chính Ngô Đình Diệm và chế độ của mình; họ đào mồ tiếp chôn cả sự nghiệp dòng họ chắt chiu mấy đời chỉ trong vòng không tới một năm.
Trời có mắt, quả nhiên có quả báo nhãn tiền! Xin chú đời đời an nghỉ nơi một thế giới tử tế, an lành hơn cái thế giới bất an, tàn nhẫn và vẫn tàn nhẫn, bất an cho đến bây giờ!
(Sóng Ngầm)
 https://vandoanviet.blogspot.com/

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Khởi nghĩa Yên Bái: Đã là lịch sử phải trả lại đúng cho sự thật lịch sử

 LÃNG QUÂN (THỰC HIỆN)

  Khu lăng mộ và tượng đài về Khởi nghĩa Yên Bái tại TP Yên Bái.

 Lịch sử Việt Nam mãi mãi khắc ghi hình ảnh bị hành hình mà vẫn ngút trời dũng khí “chấn động địa cầu” của các người anh hùng vị quốc vong thân trong cuộc Khởi nghĩa Yên Bái chống lại thực dân Pháp vào năm 1930. Các cánh quân đã đồng loạt tấn công giặc Pháp ở một loạt các tỉnh trọng yếu của Bắc Kỳ, như: Hà Nội, Yên Bái, Sơn Tây, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phả Lại, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An... 
    Đến nỗi, ở bên kia đại dương, nhà thơ Louis Aragon của Pháp viết: “(Khởi nghĩa) Yên Bái, đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm cong của đao phủ”.
    Những dòng này được dựng thành bia đá lừng lững trong khu công viên - tưởng niệm lãnh đạo KN Yên Bái, cụ Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và các vị anh hùng bị hành quyết sau khi việc lớn không thành. 17 cột đá lừng lững vòi vọi, dòng chữ khổng lồ “Không thành công cũng thành nhân” trên một vòng tròn khuyết đã thành điểm nhấn tuyệt vời của khu tưởng niệm.
    Cai ngục lễ sống người sắp bị đưa ra hành quyết
    Mỗi lần đọc bài thơ “Ngày tang Yên Bái” từng in trong sách giáo khoa, bất cứ ai cũng thấy xúc động nổi da gà. “Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang/ Thong thả tiến đến trước đài danh dự (...) Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn/ Trên khóe mắt đã từng khinh đau đớn/ Của những trang anh kiệt sắp lìa đời (...) Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến/ Sau cái nhìn chào non nước bi ai/ Họ thản nhiên lần lượt bước lên đài/ Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng/ “Việt Nam muôn năm”, một đầu rơi rụng/ “Việt Nam muôn năm”, người kế tiến lên/ Và tử thần kính cẩn đứng ghi tên/ Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc”.
    Khởi nghĩa Yên Bái: Đã là lịch sử phải trả lại đúng cho sự thật lịch sử ảnh 1
    Câu thơ nổi tiếng của Aragon viết về KN Yên Bái được khắc vào đá, trưng bày trang trọng tại khu vực tưởng niệm.
    Giữa trung tâm TP Yên Bái hiện nay, có một không gian hồ nước mênh mông và khu tưởng niệm xúc động để nhớ về cuộc KN Yên Bái lừng danh. Nhà thơ Ngọc Bái, nguyên Giám đốc Sở VHTT (nay là Sở VHTTDL) tỉnh Yên Bái, người đã nhiều năm tâm huyết với từng kiến trúc, từng hạng mục và từng câu thơ được “dựng tượng khắc bia đá” ở nơi này. Tại nhà mình, ông Ngọc Bái bắt đầu câu chuyện với PV Báo Lao Động:
    “Ở Hà Nội có phố Phó Đức Chính ở gần hồ Trúc Bạch ấy. Tôi vừa ở Vĩnh Phúc ít ngày, sắp hoàn thành một kịch bản phim tài liệu về lãnh tụ cuộc KN, cụ Phó Đức Chính, tên sách chính là câu nói lừng danh của cụ: “Đại sự không thành thì chết là vinh”. Tỉnh Vĩnh Phúc nghe tin tôi viết cái tiểu thuyết “Ngang trời mây đỏ” về KN Yên Bái, cũng đã đặt mua mấy trăm cuốn rồi. Vĩnh Phúc cũng là quê cụ Nguyễn Thái Học. Cụ Chính là người duy nhất không chống án trong số hơn ba chục người bị án tử hình vì tham gia KN Yên Bái. Vì, như lời tuyên bố của cụ: “Đại sự không thành thì chết là vinh”, nên cụ đã không việc gì phải chống án.
    Về sau chúng giảm án, 26 người xuống khổ sai chung thân, còn 13 người thì nó vẫn xử tử tại Yên Bái này. Lúc 1h30 phút hôm đó, tàu đến ga Yên Bái. Giặc đưa cụ lên ngay trại giam chỗ khách sạn Công đoàn bây giờ. Có một chi tiết như thế này, tôi có viết vào trong tiểu thuyết của mình là: Tay cai Công là đao phủ của cuộc hành hình đó, khi cụ Phó Đức Chính và cụ Nguyễn Thái Học lên đến đây thì hắn đã lễ sống 2 ông ngay trong buổi sáng đầu tiên và xúc động nói: “Xin hai ông xá tội cho tôi vì đây là việc tôi buộc phải làm”. Thì cụ Nguyễn Thái Học khuyên hắn: “Ông làm nghề này thất đức lắm, về sau ông giải nghệ đi nhé”. Và về sau ông cai Công có giải nghệ thật. Khi bị hành hình, cụ Phó Đức Chính yêu cầu được nằm ngửa cổ về phía lưỡi dao khủng khiếp của máy chém. Cụ bảo, ta nhìn lên trời xanh, “cho ta nằm ngửa để nhìn thẳng vào lưỡi dao tội ác của giặc Pháp”.
    Khởi nghĩa Yên Bái: Đã là lịch sử phải trả lại đúng cho sự thật lịch sử ảnh 2
     Nhà thơ Ngọc Bái.

    PV: Xin hỏi, chi tiết này ai với ông kể vậy?
    Nhà thơ Ngọc Bái: Được cung cấp trong một cuộc hội thảo về KN Yên Bái khoảng năm 1997 do tôi và ông Trần Đức Cường hồi đó là Viện trưởng Viện Sử học chủ trì.
    Thưa ông, được biết ông về quê của cụ Nguyễn Thái Học rất nhiều lần, gia đình dòng tộc của vị lãnh đạo cuộc KN chấn động đó ra sao?
    Em trai cụ Nguyễn Thái Học là Nguyễn Thái Nho. Cụ Nho bị xử tử cùng với vài đồng sự nữa ở Hỏa Lò. Còn cụ Nguyễn Thái Lâm thì bị địch nó bắt về đình Thổ Tang rồi nó dẫn giải về trước cửa nhà cụ nó bắn để thị uy. Còn cụ nữa là Nguyễn Thái Nỉ (em trai cụ Nguyễn Thái Học) về làm thuốc thì mới mất quãng sau năm 2012. Khi địch xử chém cụ Học thì Nguyễn Thái Nỉ mới có 6 tuổi và bà mẹ phải gánh con đi để lánh nạn. Tôi cũng có làm phim về tài liệu về chuyện này, bây giờ vẫn còn giữ, phim có lời em trai Nguyễn Thái Nỉ kể về anh Nguyễn Thái Học.
    Trong sách giáo khoa ngày xưa có bài thơ viết về vụ xử tử những người anh hùng vệ quốc tuyệt vời trong vụ Khởi nghĩa Yên Bái. “Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than/ Từ lưng trời sương trắng phủ màu tang”. Rồi “Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ/ Vài cụ già đầu bạc lệ tràn rơi/ Ngất người sau tiếng rú “Ới con ơi!”. Tiếng rú đó là người thân của các liệt sỹ, ví như người mẹ già của cụ Nguyễn Thái Học?
    Khởi nghĩa Yên Bái: Đã là lịch sử phải trả lại đúng cho sự thật lịch sử ảnh 3
    Hình ảnh lãnh tụ Nguyễn Thái học và ngôi đền tri ân công đức của cụ.
    Có một chi tiết như thế này, bà bá (bác gái) ruột của tôi tên là Tùng, lúc đó có 15,16 tuổi thôi, bà ấy đã chứng kiến chém cụ Nguyễn Thái Học ngay trước cửa nhà thờ ở khu trung tâm Yên Bái này. Ấy là khu bãi tập của lính khố xanh. Thì bá ấy có kể chuyện như này: Lúc đó có biết gì đâu thì cũng đến xem, lúc đó thấy cụ Nguyễn Thái Học ngậm điếu xì gà to lắm, lúc đó ông phì ra đọc mấy câu thơ tiếng Pháp ấy, bá thì không biết tiếng Pháp, chỉ biết là đọc thì về sau này mình biết đó chính là câu: “Chết vì Tổ Quốc chết vinh quang/ Lòng ta sung sướng trí ta nhẹ nhàng”. Có một chi tiết ám ảnh, đó là: Lúc mà cụ đang hô Việt Nam vạn tuế thì lưỡi máy chém sập xuống đầu cụ, máu vọt ra rất xa, hình ảnh đó bi tráng lắm, miệng cụ lúc đó đang hô dở “Việt Nam vạn tuế”, phải lắp bắp thêm một lúc nữa thì mới khép lại. Chi tiết đó mình thấy quá là rùng rợn và bi tráng.
    Địch mang máy chém đó từ Hỏa Lò lên, đúng không ông?
    Máy chém chở từ Pháp sang. Ngày 16.6.1930, nó đem máy chém từ Hỏa Lò, ra ga Hàng Cỏ để đi Yên Bái. Trên tàu gồm 2 viên cha cố, một số mật thám, giám binh và máy chém. Tất nhiên là cả 13 tử tù. Khi bước ra khỏi Hỏa Lò thì cụ Nguyễn Thái Học cùng các nghĩa sĩ hô vang: “Chúng tôi đi đền nợ nước đây”. Dọc đường các cụ ấy còn đùa nhau, và cụ Phó Đức Chính còn nói là: “Anh Tiếp, anh Thuyết, anh Hoằng, anh Lương... đang chờ chúng ta”. Đó là 4 ông bị xử chém trước đó, hôm 8.5. Và họ còn bảo nhau hát vang.
    Xin được hỏi, ông bắt đầu quan tâm nghiên cứu sâu cuộc KN Yên Bái này từ bao giờ?
    Từ lâu lắm, nhất là khi làm Giám đốc Sở, tôi thấy cần phải làm thế nào để dựng lại hình ảnh của những người vĩ đại đã hy sinh vì đất nước tại đất Yên Bái này. Cụ thể, là làm thế nào có được một khu lưu niệm Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và các nghĩa sĩ xứng với tên tuổi của những liệt sĩ đáng kính ấy.
    Có chi tiết: Khi ông Phạm Gia Khiêm lên làm Phó Thủ tướng Chính phủ thì ông Khiêm có lên Yên Bái. Ông vào chính lăng mộ của cụ Nguyễn Thái Học cùng các nghĩa sĩ, tại đó, ông Khiêm hỏi ông Ý (bấy giờ là Bí thư Tỉnh ủy): “Ở đây có ai am tường sự kiện KN Yên Bái, xin làm “hướng dẫn viên”? Thì ông Ý gọi mình đến nói khoảng 5 phút. “Anh Khiêm ạ, lòng yêu nước không bao giờ cũ cả, lòng yêu nước là bình đẳng, không phải hôm nay chúng ta yêu nước hơn những người trước đó. Thế cho nên anh giúp chúng tôi là tạo điều kiện để tôn tạo khu lăng mộ cho nó xứng tầm”.
    Sau này cấp trên duyệt kinh phí là 6 tỉ 991 triệu đồng. Các công trình rất có ý nghĩa được xây: Thứ nhất là làm lăng mộ các vị tử sĩ. Với ý tưởng “trời tròn đất vuông”, gồm một vòng tròn không khép kín. Nền vuông. Và 17 liệt sĩ là 17 cái cột “chống trời” rất lớn bằng ximăng cốt thép. Với cái vòng tròn không khép kín nghĩa là cuộc khởi nghĩa dang dở không thành công. Còn chỗ miếng vỡ, ném xuống đất vừa là trang trí về mỹ thuật nhưng ý nghĩa ngầm là lòng yêu nước vẫn được đất mẹ nuôi dưỡng.
    Đặc biệt là khu tượng đài có người phụ nữ chính là bà Nguyễn Thị Giang. Tuy bà không chết ở đây nhưng các chuyên gia vẫn muốn có tượng bà ở đây, vì bà cũng có đóng góp lớn, là linh hồn của cuộc KN. Khi sự không thành, bà tự tử bằng chính khẩu súng mà chính chồng/ người yêu Nguyễn Thái Học đã tặng.
    “Đắp tượng” hai câu thơ của Louis Aragon tại Yên Bái
    Họ chém các vị tử sĩ của non sông xong, thi thể và thủ cấp của các vị được “để” ở đâu?
    Thi thể các vị thì chúng chở bằng xe trâu đưa xuống nghĩa địa ta (phân biệt với nghĩa địa Tây), chôn chung vào chỗ, đó là khu giáp với ga tàu hỏa Yên Bái ngày nay. Khu vực các vị ấy bị chém, giờ bà con lập một cái miếu thờ, gọi là miếu Nguyễn Thái Học. Sau này thì bà con ta đắp mộ cho các cụ. Bấy giờ còn sơ sài lắm. Lúc tôn tạo, chúng tôi cho xây hai ngôi mộ tập thể lớn. Mộ thứ nhất là có 4 người gồm: Ông cai Hoằng, ông cai Thuyết, ông cai Lương, ông cai Tiệp. Mộ thứ 2 gồm 13 người. Sau khi khánh thành khu lăng mộ rồi, lúc đó là năm 2002, mình mới nghĩ phải nhắc lại câu thơ của Aragon (người Pháp) viết rất trứ danh về KN Yên Bái. Một câu thơ hay như thế mà không được ghi lại vào một tấm bia ở “Công viên Nguyễn Thái Học” thì thật đáng tiếc.
    Khi nhà văn Nguyễn Đình Thi lên đây thì chúng tôi đưa nguyên văn câu thơ tiếng Pháp viết về Khởi nghĩa Yên Bái cho ông “hiệu đính”, thì ông bảo: Họ dịch tương đối chuẩn nhưng đề nghị bỏ chữ “cong” trong câu thơ thứ nhất đi, còn câu thơ thứ 2 thì thay cho mình một chữ. Ông nói tại lăng mộ Nguyễn Thái Học, câu đó như này: “Yên Bái, đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm cong của đao phủ”. Theo ông Thi thì không cần chữ “cong”.
    Câu thơ trên được đưa vào “văn bia”, đến tháng 6.2016 thì có bổ sung thêm nguyên bản Tiếng Pháp. Để người hành hương hiểu rằng nhà thơ Aragon đã cảm xúc và viết bài đó rồi in trong tập san “Công hội đỏ” ở Paris ra sao. Nhiều người bảo, câu thơ trên không chỉ đúng với KN Yên Bái, mà còn đúng với cả nước.
    Những “nhân vật” của KN Yên Bái thật kiêu hùng, bi tráng và ám ảnh, họ là những đấng tinh anh của non sông Việt. Đã có một thời gian dài, những câu chuyện dạng này ít được người ta đề đề cập đến?
    Đấy là một điều mình trăn trở. Cuộc đời của các vị ấy đầy sóng gió, đầy sự tích anh hùng, mà không được đề cập xứng tầm thì rất đáng tiếc. Đã là lịch sử phải trả lại đúng cho sự thật lịch sử.
     http://laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/khoi-nghia-yen-bai-da-la-lich-su-phai-tra-lai-dung-cho-su-that-lich-su-683584.bld