Thứ Tư, 24 tháng 4, 2019

Hai bài thơ mới năm 2019


Trong những ga tạm của ngày giang hồ

Gởi tặng Ph.

Khi trở về
Vào những năm 60 thế kỷ hai mươi
Cô gái nhỏ mười lăm tuổi
Áo lụa ngà
Những con đường xuôi về Vỹ Dạ
Mối tình thầm kín dài theo tháng năm
Về một ánh mắt chờ đợi
Về một ước ao cầm tay
Và nụ cười như thánh nữ

Hơn nửa thê kỷ trôi qua
Con đường của gã giang hồ
Không bến trạm
Con đường của gian truân
Bước theo cùng lịch sử
Cô gái mười lăm tuổi
Con mắt của quá khứ
Vẫn dõi theo
Như nỗi ám thị xuyên suốt thời gian

Trong những ga tạm của ngày giang hồ
Khúc ca của phế tich
Một ngày mùa đông âm u
Mưa dầm trên con đường dẫn ra bờ sông
Người đứng đợi
Đó là khi nàng mười sáu tuổi
Tình gởi theo ánh mắt nhìn
Chỉ là nỗi hoang vu đáp lại
Ai đã bỏ đi
Năm mười năm không dấu vết
Chỉ là ánh mắt nhìn
Qua hơn nửa thế kỷ nằm khuất ở một góc nhỏ nào đó

Để khi gã trở về
Trong ga tạm của ngày giang hồ
Nàng vẫn chờ nơi bến cũ

Tạm biệt ngày giang hồ
Dừng đây, ga cuối


 Từ biệt quá khứ

Ngày tháng dỗi hờn đem em đi cùng với những đám mây ngày mưa giông
Anh ước nỗi buồn anh cũng qua như thế
Chiều nay – Sài Gòn của tháng tư, nắng thiêu đốt như những lò nướng thịt
Nếu em biết rằng có gì vui hơn khi ra ngoài bờ kênh thở tự do cùng hơi nước bốc lên cùng không khí
Từ biệt quá khứ
Tháng Tư rồi sẽ qua
Mùa nắng nóng sẽ qua
Cơn mưa rào sẽ tới
Anh ước tình ta mát ngọt như cơn mưa đầu mùa
Ngày em lên thuyền về xứ khác

Này mùa hè
Trần trụi và tàn bạo
Bởi những năm tháng qua ta sống giả danh một người khác
Va yêu một người khác
Lấy một người khác
Con của một người khác
Ta sống nhiều năm nơi hoang dã
Giả tạo một sự bình yên
Cay đắng một niềm hạnh phúc
Mỗi người đều phải sống, đúng vậy
Và phải tự tồn tại
Vì đó là ân sũng của tạo hóa – được làm người

Ví dụ ta dầu có giả danh
Thì cũng là một con người
Phải sống như mọi người

Từ biệt quá khứ
Quá khứ - chỉ là tên gọi về những năm dã qua – cũng như phân biệt một thời gian đã chết trong trí nhớ
Nhiều tháng Tư đã qua Sài Gòn vẫn nắng nóng vẫn phải có những cơn giông để bắt đầu một mùa mưa
Vẫn phải thương nhớ em, một tinh yêu chia cách
Thì phải tội gì phải từ biệt quá khứ
Vì quá khứ là gì, hình như không có, thiệt

2019
TỪ HOÀI TẤN

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

VỀ ĐOẠN “THÁNH THI” CỦA GIÁO CHỦ THƠ “VỤT HIỆN” CHỈ DỤ CHO NỀN THƠ VIẾT RA KHÔNG CẦN HIỂU CỦA CÁC GIẢI THƯỞNG THƠ “ VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP”


Trần Mạnh Hảo

Trong bài trước có tựa đề : “VỀ LOÀI THƠ “DUY CẢM” KHÔNG CẦN HIỂU CỦA GIẢI THƯỞNG THƠ “ VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP” : “CẢM’ và “NHẬN” ( “NHẬN THỨC” - HIỂU) LÀ MỘT QUÁ TRÌNH ĐỒNG THỜI” của mình, chúng tôi đã trình bày về mặt lý thuyết CẢM & NHẬN là một quá trình đồng thời, không thể tách CẢM ra khỏi NHẬN được để hô hoán lên như ông giáo chủ nền thơ “VỤT HIỆN” Hoàng Hưng đang dẫn dắt nền thơ mất trí của “Văn đoàn độc lập” rằng thơ chúng tôi làm ra chỉ cốt CẢM, không cần HIỂU ( hiểu = nhận = nhận thức = tư duy)…
Một con người không có sự hiểu biết đi kèm, không còn khả năng nhận thức dù trong thơ, con người đó có còn là người không ? Còn, nhưng là người mất trí, người điên.
Vị giáo chủ thơ “Vụt hiện” đang dẫn đường cho nền thơ viết ra để không ai hiểu vừa được giải thưởng “Văn đoàn độc lập” kia chỉ điên trong thơ, điên có định hướng, điên một cách triết học, điên một cách bác học, điên một cách khá khôn lỏi…
Trong bài viết “Thơ : cảm và hiểu” của ông Hoàng Hưng vừa in trên website “Văn đoàn độc lập” có tính lý thuyết mở đường, như tuyên ngôn loài thơ của giáo phái “THƠ KHÔNG CẦN HIỂU” mang tên là “Vụt hiện”; vị giáo chủ đầy ma lực này đã chỉ lấy ra một đoạn thơ của mình làm dẫn chứng, làm điển hình, coi như thánh kinh của dòng thơ “phản nhận thức” như sau :
"Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay".
( hết trích)
Rồi Hoàng Hưng hô lên tôi làm thơ trong vô thức, nghĩa là khi ông viết ra những “thánh kinh” kiểu thầy cúng úm ba la trên, ông loại bỏ ngay ý thức, loại bỏ sự hiểu ra khỏi thi ca.
Tôi đồ rằng những huyênh hoang trên chỉ là lời bịp bợm, dối trá.
Bước thứ nhất khi ông viết ra những lời vô nghĩa của thầy mo trên mà ông gọi là thơ, ông đã phải dùng ý thức để nhận biết cây bút là chính cây bút, không phải con thạch sùng và trang giấy chính là trang giấy chứ không phải da của bờ mông vũ nữ.
Bước thứ hai, ông lại theo sự chỉ bảo của nhận thức để viết nên các chữ dù giả ngô giả ngọng, ghép các mẫu tự La Tinh thành ngôn từ, ví như khi ông viết : “ Bão loạn. Lốc xù. Cốc ré. Váy hè…” là ông đã viết đúng luật viết chữ của người Việt vậy !
Ông Hoàng Hưng vẫn dùng ý thức, dùng nhận thức mà lại giả bộ ta đang vô thức, ta đang điên trong thơ đây, thì thật là trò lừa đảo, giống hệt hành vi của ông sư chùa Ba Vàng và bà Yến gì đó đang bày trò “Vong” đòi tiền ra để lừa hàng vạn tín đồ hòng cướp tiền một cách ma giáo !
Nhưng ông Hoàng Hưng lương thiện hơn sư …tử kia vì ông không lừa tiền, chỉ lừa thị hiếu thơ lớp trẻ, khiến bao kẻ bất tài dùng phương pháp luận “phi nhận thức” của ông để làm ra các lời vô nghĩa của thầy mo, thấy cúng rồi thi nhau khen là thi hào thi bá, than ôi !
Trong thánh dụ thơ “vụt hiện” kia bất cứ câu chữ nào của Hoàng Hưng cũng có thể biến thành tên gọi của một loài thơ cực mới, loài thơ mà hiểu được chết liền :
“Cốc ré” đã thành chỉ dụ của một loài thơ !
“Váy hè” đã thành chỉ dụ cho một loài thơ !
Tóm lại mỗi dấu chấm dưới đây đều có thể là một loài thơ của “Văn đoàn độc lập” :
“ Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay".
Ta thử mở ít đoạn cái gọi là thơ được giải của “Văn Đoàn độc lập” xem thơ của các tín đồ dòng “Vụt hiện” kia là loài thơ nào nha.Thí dụ như món thơ đang được tôn là thi bá của nền thơ thầy cúng của ‘Văn đoàn độc lập” của Vũ Thành Sơn :
Thơ Vũ Thành Sơn
một
sau cuộc chiến nàng là hiện thân của trầm cảm
thở bằng mang
và yêu bằng vây
mỗi ngày nàng thả vào trong chiếc hộp giấy
một cuộc hành trình màu
nuôi cho chúng lớn lên
nhưng trí tưởng tượng luôn là một trò chơi nhiều rủi ro,
không có kết thúc
và bạn cũng không thể tìm thấy cảm hứng
từ một xác chết
đôi khi nàng sục sôi nổi loạn
như một ngọn gió bị nhốt
và thức dậy như một chiếc đồng hồ hết pin
bỏ quên trong tủ áo
tôi tin nếu gọi tên mình một cách chậm rãi,
đủ lâu
một kẻ khác bên trong chúng ta
sẽ lên tiếng
(hết trích “thơ” Vũ Thành Sơn )
Thơ này hiểu chết liền. Theo tôi nó thuộc dòng thơ : “ Cốc ré”
Trần Mạnh Hảo “điên tiết” thử nhái giọng thơ “Cốc ré” của Vũ Thành Sơn tí chơi cho vui nhộn nha :
“Thiên sứ ruồi co giật vô thức
Trầm cảm mồm tò he
Yêu bằng đít của loài tư tưởng cóc
Cần phải chơi trò không chơi gì hết
Các lỗ thủng thiên sứ
Lõa thể mảnh sành
Không ăn gì à sỏi
Anh vừa ăn ba vạc số không
Đi đâu thì đi
Hỏi loài sóc đĩa”
( hết nhái thơ Vũ Thành Sơn)
Xin đọc thơ được giải của Phapxa Chan, và xin đọc bài nhái cho thêm tí vui nhộn :
Thơ Phapxa Chan theo tôi nên xếp vào dòng thơ mà thầy Hoàng Hưng đã đặt là dòng : “Mi-ni mông lông” :
Thơ Phapxa Chan
( Chùm thơ đăng trên văn việt năm 2017 )
Cậu Biết
Làm Gì Đây?
Tớ sẽ giết
một bài thơ rồi chôn nó trong thảm lá vàng.
Cậu nghĩ bài
thơ sẽ để cậu làm vậy ư?
Cậu nghĩ
bài thơ ra đời để làm gì nếu không để được chết trong một thảm lá vàng?
Mùa thu
chôn cất những bài thơ vào trong lá và mai táng những tờ lá vào trong thơ.
Nếu ta
không giết được một bài thơ thì mùa thu sẽ giết ta mất thôi.
Nói về mùa
thu của cậu đi
Nó đã làm
gì?
Nó sinh ra
tớ.
Từ xác mục
một bài thơ trong thảm lá vàng?
Ai mà biết
được
Cách chúng
ta ra đời mãi mãi là một truyền thuyết.
Vậy hãy
hỏi mùa thu!
Để nghe
một lời nói dối?
Để nghe
một bài thơ!
Bồ Câu
buổi
sáng và những
vết
thương
bồ
câu
( hết trích “thơ” Phangxa Chan)
Trần Mạnh Hảo ngứa mắt bèn nhái thơ “Mi-ni mông long” của Phangxa Chan tí cho thay đổi không khí :
Nàng thơ hú lên
Tớ bóp cổ nàng
Chôn xuống hoa rụng
Chết dưới hoa âm vực
Nàng rất bướm
Chôn nàng vào thơ ta
Ta
Sinh
Ra
Các
Thứ

Sinh
Xử tử muỗi các thánh thần
Treo cổ hư vô lên vi khuẩn
Cây
Mắc
Cỡ
Đái
Mưa
Thu
Giật
Giật

Vàng

Thức
Tớ sinh ra tớ
Nó sinh ra nó
Thơ tơ lơ mơ
Khói
Chạy
Đi
Tro
Đuổi
( hết nhái thơ Phangxa Chan)
Viết đến đây dài quá, hẹn kỳ sau nhái các thi hào thi bá “Văn đoàn độc lập” được giải khác.
Thưa rằng các tín hữu dòng thơ “Vụt hiện” dù múa bút như mưa gió, như bão tố cũng thua xa sư phụ Hoàng Hưng khi ông biến loài thơ “Cởi quần chửi thề” thành ma quái đến các thầy mo Mường và thầy cúng Mán phải gọi bằng cụ, như sau, trích trong trang 17 tập thơ của Hoàng Hưng có tên “Người đi tìm mặt” đã xuất bản ngót hai mươi năm trước :
“Cõi ám toán vài ba vân mộng áp sát chiều về, vô cương tỏa. Dong dỏng thoát y mắt bụi nứng nẩy nồng nây chạng rạng ra ràng còn tấy còn nướu tanh bành bò quanh thít chặt. Ôi ong đầu óc cục cựa cùng mình choang choang ngực. Tan thân”
( hết trích Hoàng Hưng)
Thách quý vị hiểu được chết liền !
Nhái được chết liền.,.

Sài Gòn ngày 26-3-2019
T.M.H.





Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

THƠ GIỮA CHIẾN TRANH VÀ TÙ ĐẦY (Trích phỏng vấn Thanh Tâm Tuyền của Lê Hữu Khóa) Ngô Thế Vinh






 (Thanh Tâm Tuyền một tên tuổi lớn trong văn học Việt Nam hiện đại, với hai đóng góp đặc sắc trong đời sống văn học kể từ sau 1945. Về thơ, Thanh Tâm Tuyền đã dứt bỏ với thể thơ truyền thống có vần điệu, và ông là đại diện cho phong trào thơ tự do. Hai tập thơ đầu tiên Tôi Không Còn Cô Độc và Liên, Đêm và Mặt Trời Tìm Thấy đã khai sinh ra một thế hệ “làm thơ/ fait de la poésie” và “không còn làm những câu thơ theo vần/ ne fait plus de vers”.
Về văn xuôi, tác phẩm đầu tiên cuốn Bếp Lửa đã đánh dấu một đoạn tuyệt/ point de non-retour so với kỹ thuật kể chuyện cổ điển. Ở Thanh Tâm Tuyền, sự cô đọng của ngôn từ góp phần vào sự tăng tốc nhịp điệu / accélération des rythmes và chủ động trong xúc cảm thẩm mỹ/ maitrise du sens esthétique.
Là tác giả được biết tới nhưng lại ít được giới phê bình nghiên cứu một cách sâu rộng trong khoảng thời gian chiến tranh 1954-1975, và ngay cho tới bây giờ Thanh Tâm Tuyền là tác giả đáng ngại nhất / le plus redoutable cho giới phê bình văn học Việt Nam, do phong cách sáng tạo phức tạp/ démarche créative complexe và cả lý thuyết văn học tổng hợp/ théorie littéraire synthétique của ông. Tất cả trên một cái nền sáng tạo mới của nhạc tính thi ca/ musicalité poétique.
Thanh Tâm Tuyền trong số các nhà văn hiểu rõ sự tàn phá đất nước Việt Nam do chiến tranh, ông cũng đã sống nhiều năm trong tù đầy, ở tù 7 năm ra tù 1982.)
***
KINH NGHIỆM VĂN CHƯƠNG TRONG CHIẾN TRANH 54-75
Ngoại trừ thơ, tôi [Thanh Tâm Tuyền], đã có hai thời kỳ ghi dấu bởi hai tác phẩm văn xuôi. Cuốn thứ nhất là Bếp Lửa (1954) mô tả khung cảnh Hà Nội trước 1954, với những người ra đi cũng như những người ở lại, cả hai đều bị giằng co bởi những chọn lựa miễn cưỡng, sự chia ly hay cái chết. Tức thời đã gây phản ứng chỉ trích của mấy nhà văn cách mạng. Trong bài nhận định của tạp chí Văn Nghệ (Hà Nội), một cây bút phê bình đã chất vấn tôi: “Trong lúc nhân dân miền Bắc đang tung toàn lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhân vật trong Bếp Lửa đang ở đâu ? ” Tôi đã trả lời: “Hắn đi về hướng huỷ hoại của lịch sử”, mỗi nhà văn là một kẻ sống sót.
Cuốn sách thứ hai, Ung Thư (1970) có thể coi như một tiếp nối của Bếp Lửa. Ung Thư là một hiện hữu mà chúng ta chấp nhận giữa định mệnh phù du và sự lạnh lùng của cái chết. Cuốn sách ấy chưa hề được xuất bản. [tiểu thuyết Ung Thư đăng từng kỳ trên báo Văn từ 1964, là một tác phẩm quan trọng thứ hai của TTT sau Bếp Lửa, ghi chú của người viết]
...
***
KINH NGHIỆM VĂN CHƯƠNG TRONG TÙ CẢI TẠO 75-82
Đối mặt với cảnh rối loạn và tình trạng hỗn mang khoảng thời gian sau 1975, tôi nghĩ rằng tôi đã sống hết cuộc đời mình, thời gian còn lại là phần thặng dư, tôi không còn bận tâm nghĩ tới nữa. Mất ảo tưởng toàn diện/ désillusion totale. Năm 1975, chế độ mới bắt tôi vào trại tù cải tạo cùng các bạn "đồng hội đồng thuyền”, chúng tôi rời đồng bằng đi về các miền núi với bình tĩnh và vô cảm, không tuyệt vọng và cũng không hy vọng.
Tôi đã nghĩ tới “biến mất/ disparaitre” không hy vọng trở về, như thứ cặn bã bị cuốn đi bởi cơn lụt của lịch sử/ l’inondation de l’histoire. Nhưng tôi đã lầm. Họ đưa chúng tôi ra Bắc, tới những cánh rừng già cô lập với thế giới bên ngoài, bỏ mặc tôi với thiên nhiên, tự do với “mục tiêu đi đốn gỗ mỗi ngày”, tôi đã tập leo và trượt núi chờ cơ hội đào thoát. Nhưng rồi mỗi ngày tôi chỉ tìm thấy con đường trở về trại.
Tại sao tôi gọi đó là trở về ? Có phải “chẳng còn hy vọng”, hay là sự vỡ mộng của con người bị ruồng bỏ, của con người tuyệt vọng? Vào lúc này, tôi thực sự sống trong hy vọng không hiện hữu/ l’inexistence, trong một vùng bất khả xâm nhập, một tình trạng không còn liên hệ/ non-relation. Điều ấy không rõ ràng với tôi. Rồi tôi được thuyết phục rằng tôi đã được hồi sinh/ ressuscité, có nghĩa là thi ca đã trở lại, tôi hạnh phúc sung sướng. Tôi cũng đã bẽn lẽn như hồi còn trẻ, với những bài thơ đầu tiên, tôi dấu các bạn trong trại, tôi không dám đưa ra.
Khi anh sống vô cảm ngày qua ngày, không nghĩ gì tới tương lai, không hoài niệm quá khứ, không ưu tư với hiện tại, anh còn lại gì ? Vẫn còn cái gì đã hiện hữu trong anh, và điều ấy vẫn hiện hữu cho dù anh muốn hay không.
Để qua đi những ngày ảm đạm, với mưa, với hè nóng cháy, với sương giá, với bão tố, với những mùa thay đổi, tôi tìm niềm vui trong những thứ ấy, trong tôi, thứ duy nhất mà tôi mang theo, luôn luôn ở trong tôi.
Trong tôi còn lại gì ? Gia đình, bạn hữu. Những bài thơ, đã đọc và nhập tâm/ intériorisés, dĩ nhiên. Một khoảnh khắc tới, ký ức chuyển vận mau chóng, đọc những bài thơ cho riêng tôi. Nơi ấy anh có thể gặp những ánh sáng kỳ lạ. Thời gian của những tàn lụi/ le temps des ruines tăng sức cho thi ca.
Đằm mình trong thời gian “phi lịch sử/ sans histoire” hay đúng hơn không lịch sử từ bên ngoài/ sans l’ histoire de l’extérieur, người ta khám phá ra rằng những ngày, những tháng trong cuộc sống không định hướng, không mục đích, trần trụi. Tuyệt đối trần trụi. Không hiện hữu của đời sống/ inexistence de la vie đem tới sự thanh thản nội tâm/ paix intérieure. Trạng thái thơ thanh bình này/ état poétique paisible ngự trị trên một vũ trụ tĩnh lặng.
Từ đó mỗi bài thơ là một thời gian đóng kín/ temps clos, tách rời khỏi vận động của cuộc sống. Thời gian của lo âu bỗng trở thành thời gian cô đọng/ temps condensé, không có sự khác biệt nào giữa [thời gian] ngưng đọng và trôi qua.
Làm thơ trong trại tù cải tạo, cũng là trở về với thi ca truyền thống dân gian/ la poésie de tradition populaire. Chế độ làm việc trong trại là một ngày căng thẳng tám tiếng, không có cuối tuần; mỗi tù nhân có một vũ trụ riêng: một manh chiếu, năm sáu chục tù nhân trên dưới hai tầng giường, khoảng hơn trăm người trong một lán dưới một mái che. Viết là một xa xỉ: một chỗ ngồi, thời gian viết. Với nhịp độ áp đặt trên đám tù nhân trong rét lạnh, đói... ai còn dám nghĩ tới sáng tạo? Ngay cả một thiên tài, một năng lực siêu nhiên cũng không thể vượt qua được những “ức chế” như vậy.
Tuy nhiên, trong tiếng Việt, người ta nói “làm thơ” chứ không ai nói “viết thơ”. Như vậy, người ta có thể làm thơ khắp nơi, trong bất cứ vị trí nào: khi đang đi, đứng, nằm, ngồi, khi tỉnh thức... Thi ca tới với bạn không hẹn trước, không định ngày, định giờ. Người ta không thể tìm vì không biết nó ở đâu. Chỉ còn là một công việc đơn giản: đón nhận và trao đổi với nó. Thơ đòi hỏi ở bạn một điều duy nhất: giữ cho được tiếng nói thuần khiết/ parole pure và sau đó tiếng nói ấy sẽ quyết định đời sống của chính nó.
Thơ thường kín đáo, đôi khi nó đi vào bằng cửa chính, đôi khi bằng con đường nhỏ, bạn lắng nghe và chú ý. Thơ chuộng sự ẩn mặt/ se masquer, che dấu/ se voiler, do đó nếu trí nhớ bạn không tỉnh thức, bạn sẽ không thể nhận diện nó.
Trong lúc bạn “lao động vì mục tiêu cách mạng”, thơ tới với bạn. Bất ngờ, giữa cánh đồng, giữa rừng rậm... Thơ tới, thơ bắt bạn dừng lại. Bạn bắt đầu thấy bầu trời và rồi quên đi những cử động máy móc. Thơ sớm đưa bạn tới một trạng thái nội tâm thanh tịnh. Sự tự-hiện-sinh/ autoexistence ấy đem tới niềm vui. Bởi vì khi thi ca buông anh ra, anh trở lại cuộc sống mà anh đã dám chối bỏ. Anh thấy cuộc sống này tự chuyển đổi thành tiết điệu của các câu thơ. Chỉ làm việc với đôi cánh tay, trong khi đôi tai đuổi theo những tiết điệu, nhạc tính của bài thơ. Sự hoà điệu này đem lại cân bằng cần thiết giữa giới hạn lao động trong những động tác và ký ức đang tích luỹ/ stocke.
Nhưng thực tế làm thơ trong trại cải tạo, sự khó khăn vẫn có đó. Vì không thể nào viết sửa/ rédiger những bài thơ, như trạng thái hạn chế cuối cùng của sáng tạo: niềm vui cao giọng đọc thơ và chia xẻ với bằng hữu xung quanh. Thơ phải được đọc và nghe/ la poésie doit être lue et écoutée, đó là số phần cuối cùng của thơ. Số phận của tiếng nói nhưng cũng là số phận ký ức của nhiều người.
Sau khi được trả tự do, trên đường trở về, việc đầu tiên mà tôi đã làm là tự thu mình và viết xuống những bài thơ trong trí nhớ của suốt thời gian bị giam cầm. Tôi là người sống sót, nhưng tôi không còn muốn là một nhà văn, như tôi đã từng luôn luôn ao ước bấy lâu; Tôi đã ghi trong ký ức tù cải tạo: “Tới lúc tôi phải viết như không có gì đã xảy ra/ comme si rien s’était passé, như không có gì biến đổi/ comme si rien n’était modifié.”
Và bây giờ tôi tự nhủ: “Đến lúc nào tôi sẽ có thể có được điều như vậy?” Để có thể viết trở lại/ pour re-écrire.
(Thanh Tâm Tuyền, La poésie entre la guerre et le camp
Propos receuillis et traduit par Lê Hữu Khóa)
-----------------------------------------------------------------------------------
Kính mời đọc thêm:
http://www.phamcaohoang.com/…/816-ang-tien-thanh-tam-tuyen.…

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

Gặp lại những nhà văn Tuổi ngọc

 0 THANH NIÊN
Trước 1975, song song với việc ra báo dành cho tuổi mới lớn thì nhiều nơi còn chủ trương thực hiện các tủ sách viết về học trò, trong số ấy, đình đám nhất vẫn là Tuổi ngọc.
6 tác phẩm mới xuất bản của các cây bút Tuổi ngọc  /// Ảnh: Quỳnh Trân
6 tác phẩm mới xuất bản của các cây bút Tuổi ngọc
ẢNH: QUỲNH TRÂN
Việc NXB Văn hóa Văn nghệ (TP.HCM) quyết định làm “bà đỡ” cho một số tác giả của “thiên đường không tuổi” này trở lại đã mang đến bất ngờ thú vị cho độc giả.
Các nhà văn Tuổi ngọc có sách xuất bản vừa ra mắt là Đinh Tiến Luyện với Anh Chi yêu dấu, Từ Kế Tường ngọt ngào Tình yêu có màu gì, Mường Mán say sưa Cạn chén tình, Hoàng Ngọc Tuấn tít tận Ở một nơi ai cũng quen nhau, Nguyễn Thị Minh Ngọc hoài niệm Tuổi ngọc ngày chưa xưa cùng Đoàn Thạch Biền hồn nhiên với Đâu phải cái gì cũng mong manh. Đây là những cây bút góp mặt thường xuyên trên tuần báo Tuổi ngọc mà những trang viết của họ từng tạo thành hiện tượng của dòng văn học “tươi xanh”, hay còn gọi bằng một cái tên quen thuộc “Tuổi của những tháng năm đẹp nhất đời người”.

Tuần báo của yêu thương



“Theo tôi dòng sách văn học viết về tuổi mới lớn vẫn là dòng sách hấp dẫn, bởi tuổi ngọc là những tháng năm đẹp nhất của đời người.  Ai cũng có giai đoạn này, sống, trải qua với tâm trạng của mình và luôn được hồi tưởng trong suốt các giai đoạn tiếp theo của cuộc đời. Nhưng hiện nay rất ít nhà văn viết chuyên về lĩnh vực này một cách bền bỉ và tâm huyết. Việc chủ trương ra lại tủ sách là việc làm thích hợp và mang nhiều ý nghĩa tích cực, khơi dậy một dòng văn học có thời đã bị lãng quên”.
Nhà thơ Từ Kế Tường

Suốt cả cuộc đời miệt mài sáng tác, nhà thơ Từ Kế Tường vẫn không bao giờ quên giai đoạn này, ông kể: “Thời đó, sách báo dành cho lứa tuổi học trò chỉ đếm trên đầu ngón tay. Về báo có: Thiếu nhi, Ngàn thông, Tuổi ngọc. Nhu cầu của thị trường không chỉ đòi hỏi về báo, nên song song với việc ra báo, những người thực hiện tờ Ngàn thông đã chủ trương mở thêm tủ sách Tuổi hoa gồm ba loại: Hoa xanh, Hoa tím và Hoa đỏ. Còn NXB Đời Mới có tủ sách Trăm hoa dành cho lứa tuổi mới lớn và tủ sách Tay ngà dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Vì vậy những người làm tờ báo Tuổi ngọc mới có chủ trương ra tủ sách Tuổi ngọc để làm đa dạng thị trường”.
Tờ báo Tuổi ngọc do chủ nhiệm, chủ bút là nhà văn, nhà thơ Duyên Anh - Vũ Mộng Long điều hành, thư ký: Từ Kế Tường - Anh Chi (Đinh Tiến Luyện) cùng đặc phái viên Phạm Chu Sa và quản lý Đặng Xuân Côn, đặt trụ sở tại địa chỉ 38 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Tuổi ngọc xuất bản thứ năm hằng tuần với slogan: “Tuần báo của yêu thương”. Ngoài văn, thơ, nhạc, mục thường xuyên… phần còn lại dành nhiều đất để đăng truyện dài. Thời đó, có rất nhiều cây bút trẻ được phát hiện và thành danh sau này từ Tuổi ngọc như: Từ Kế Tường, Từ Hoài Tấn, Phương Tấn, Đoàn Thạch Biền (Nguyễn Thanh Trịnh), Mường Mán, Hạc Thành Hoa, Hoàng Đình Huy Quan, Huỳnh Hữu Võ, Mang Viên Long, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Nhật Ánh, Tôn Nữ Thu Dung, Nguyễn Nguy Anh, Trần Anh, Khuê Việt Trường, Nguyễn Man Nhiên, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Hải Thảo, Nguyễn Vân Thiên, Nguyễn Ngọc Nghĩa, Nguyễn Tấn Sĩ, Tạ Văn Sỹ, Nguyễn Thái Dương (Nguyễn Mặt Trời), Trần Viết Dũng, Lê Minh Quốc (Thiên Bất Hủ), Tôn Nữ Thu Nga, Văn Công Mỹ, Hồ Việt Khuê, Mai Việt, Nguyễn Như Mây, Phạm Khánh Vũ, Hoàng Trần, Đỗ Thị Hồng Liên, Bùi Hữu Miên (Nguyễn Liên Châu), Nguyễn Tấn Cứ, Chu Ngạn Thư, Phạm Thanh Chương…

Một thời đã sống trọn vẹn

Khi có thông tin tên mình nằm ở một trong 6 cuốn sách của những tác giả Tuổi ngọc được xuất bản, nhà văn Đinh Tiến Luyện nhận được nhiều lời chúc yêu thương của độc giả dành cho. Mọi người như sống lại cả thời hoa niên ngày xưa. Nhà văn Đinh Tiến Luyện viết trên trang cá nhân: “Chẳng tiếc gì khi một thời mình đã sống trọn. Tuổi ngọc một thời là góc kỷ niệm của chung chúng ta. Lật lại những trang báo cũ đã quên thật trong tôi tự lâu, tất cả mọi số báo, từng góc trang một, tôi vẫn chẳng quên được, vì nó đều qua tay tôi sắp xếp... Như người đầu bếp, thế thôi. Giờ thì bàn tiệc tuổi mộng mơ đã tàn tự lâu lắm rồi, chỉ còn thoáng hương vị quyện trong khói tàn lại làm tôi nhớ khi khéo léo trộn lại hình ảnh những ấn phẩm mới và cũ để nhận ra Tuổi ngọc”.
Bà Đinh Thị Phương Thảo, Tổng biên tập - Giám đốc NXB Văn hóa Văn nghệ, cho biết: “Nhu cầu tìm đọc những tác giả Tuổi ngọc ngày xưa là rất lớn, vì vậy chúng tôi quyết định tuyển chọn làm tủ sách Thiên đường không tuổi. Hạnh phúc là nhận được rất nhiều sự ủng hộ của bạn đọc. Các thầy cô giáo ở các trường học từng một thời say mê với Tuổi ngọc thì nay cũng tình nguyện làm những sứ giả văn hóa, mọi người cùng vận động mua sách để tặng lại học sinh, giúp các em tiếp cận được với dòng văn học về tình bạn, tình yêu hết sức trong sáng một thời. Hy vọng nhiều tác giả Tuổi ngọc sắp tới được tiếp tục giới thiệu trong tủ sách này sẽ lan tỏa những yêu thương đến với cuộc đời”.
Nhà văn Từ Kế Tường bộc bạch: “Đây là đề tài muôn thuở, tác giả nào viết hay, được giới trẻ chấp nhận sẽ tạo được tên tuổi và có dấu ấn. Tôi hy vọng tủ sách này sẽ lớn mạnh, phát triển, không chỉ quy tụ, tập hợp được những tác giả tên tuổi như 6 tác giả và các tác phẩm vừa rồi mà sẽ là sự nối tiếp bởi những tác giả trẻ”.
https://thanhnien.vn/van-hoa/que-huong-qua-ong-kinh-nhiep-anh-nu-tphcm-1056118.html

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

NHẬT KÝ Ở MỘT ĐỘNG ĐĨ XỨ THỔ

Philip Ó Ceallaigh, sinh ngày 23-03-1968, nhà văn người Ireland, từng sống tại nhiều nước (Tây-ban-nha, Nga, Mỹ, Romania, Kosovo, Georgia và Hy-lạp). Truyện ngắn đầu tay của ông đoạt giải Hennessy Award năm 1998, và sau đó ông lại đoạt giải Hennessy Award năm 2001 về thơ. Năm 2004, ông vào chung kết giải Davy Byrnes Short Story Award. Tập truyện ngắn đầu tay, Notes from a Turkish Whorehouse, xuất bản năm 2006, đoạt giải Rooney Prize for Irish Literature. Năm 2009, tập truyện The Pleasant Light of Day của ông vào chung kết giải Frank O'Connor International Short Story Award.
________
NHẬT KÝ Ở MỘT ĐỘNG ĐĨ XỨ THỔ
Tôi mang nàng về phòng mình. Em thơm. Tôi chỉ muốn mần ngay thôi.
“Bốn mươi triệu.”
“Ba mươi.”
“Chơi được. Ngay bây giờ nhé.”
“Lát nữa đi.”
“Ngay giờ.”
Trong phim chúng nó luôn trả sau. Đó là chuyện trong phim. Tôi đưa nàng hai mươi đô-la, chừng ba mươi triệu lia tiền Thổ. Nàng tính toán, rồi ra dấu rằng nàng phải đi một lát để kiểm tra xem tiền có thiệt không, kiểm tra xem tôi có vừa ra đời hôm qua hay không.
Tôi nói:
“Được, nếu em không thích nó thì trả lại đây.”
Nàng quyết định rằng nàng thích.
Tất cả vụ này là một màn kịch câm - từ tiếng Anh duy nhất của nàng là ‘tiền’ - cho tới khi tôi nói tên của cái thành phố mà chúng tôi đang ở và chỉ vào nàng.
Nàng nói:
“Azerbaijan.”
Rồi chúng tôi nói tiếng Nga. Tôi nói được bảy thứ tiếng. Sáu thứ dở ẹt. Bạn học được thứ này thứ nọ khi sống xa quê nhà. Tiếng Nga vồ được bạn với những ả điếm ở Thổ. Các em đến từ các quốc gia cựu Xô-viết. Cung và cầu.
“Em phải đưa hết tiền cho thằng ma cô của em,” nàng nói, “Hãy cho em năm triệu riêng đi.”
“Được mà. Nếu em làm anh khoái.”
“Sẽ khoái mà. Đưa tiền đi.”
“Lát nữa.”
“Bây giờ đi.”
Tôi đưa nàng năm tì.
Hôm trước tôi gặp nàng trên đường. Nàng trông giống như một em Hi-lạp. Da ngăm, và mắt hơi xếch, thân hình nhỏ nhắn chắc nịch. Nàng chào tình với tôi làm một bắp thịt động cỡn bên dưới xương ức tôi co thắt như con mèo co rùn lại trước khi bung mình phóng đi, nhưng tôi đớ lưỡi với tiếng Thổ và sợ lặng người khi mấy gã trông tiệm ngó chừng chúng tôi trong ánh nắng rạng rỡ. Nàng hất đầu và bỏ đi. Chỉ tổ phí thì giờ với tôi. Tôi trở về phòng và bước tới bước lui. Cho nàng bao nhiêu đây chứ? Những dãy số không trên giấy bạc làm tôi hoang mang quá. Nàng là thịt còn đây là giấy. Nàng có thể lấy sạch hết. Tôi đánh răng và đi ị. Khi tôi kéo quần lên thì hột nút trên cùng văng mất. Tôi không có dây nịt nên rành rành là tôi đang chạy theo gái với cái quần tuột.
Tôi tìm nàng suốt ngày đêm, thọc tay vô túi quần để giữ cho khỏi tuột khi dạo quanh thành phố. Vào cuối đêm thì rốt cuộc tôi chui vào một bar em út, nói tiếng Nga với các em đến từ Georgia và Azerbaijan và Moldova và Ukraine. Lúc đó thì tôi xỉn và hết xí quách và tán dóc là chuyện duy nhất mà tôi có thể làm.
“Thời gian đang trôi qua đó nghen,” nàng nói.
Nàng cởi đồ và leo lên giường và dang hai chân ra như thể mong tôi đâm thẳng vào cái ọt.
Lẽ ra trông nó phải bự và dơ dáy và tan nát bèo nhèo. Nó lại săn chắc và gọn gàng. Lông mu nàng ngắn, chỉ che phủ tí thôi. Hết chỗ chê. Tín đồ Hồi giáo là người rất sạch sẽ. Nàng nằm, hơi ưỡn lên, dòng tóc đen nhánh xoả ra phủ lên chiếc gối trắng. Tôi mặc quần đùi đứng đó thấy mình bảnh như một tay vua Thổ.
“Em làm anh nhớ tới ai đó.”
“Mần đi,” nàng đáp.
Tôi nằm xuống bên nàng.
“Xin lỗi nghen,” tôi nói, “anh quen chơi màn dạo đầu trước cưng à.”
Nàng mềm mại và thơm tho. Những cánh hồng. Trong tất cả những đoá hoa lừng hương ở hậu cung của ta, ta chọn lấy em đêm nay. Tôi tròng bao cao-su vào. Nàng kêu rên như tôi là một con ngựa giống hách xì xằng nhưng khi thấy rằng tôi rỉ rả tà tà thì nàng bắt đầu phàn nàn.
“Kết thúc đi! Thời gian đang trôi qua đó nghen!”
Tôi có nhiều điều để học về chuyện kèo nài. Nàng đang ăn nho khô khi kích thích tôi và tôi vói tay vào cái túi giấy nâu bụm một nạm và dồn hết vào miệng nàng. Cú đó làm nàng câm miệng. Trong một lát.
“Thời gian đang trôi qua đó nghen!”
Triều đại của tôi đã hết. Tôi kết thúc cho xong.
Nàng chạy vào phòng tắm. Tôi nghe tiếng vòi nước xối. Nàng trở ra, lau giữa hai đùi, rồi ném cái khăn tắm ướt mèm lên giường. Nàng giật điếu thuốc trên tay tôi và rít trong lúc chải mái tóc tuyệt đẹp trước gương, chuẩn bị sẵn sàng lên đường để làm ăn cú tiếp. Tôi ngắm nàng từ sau lưng. Tôi trao cho nàng vài điếu thuốc và nàng để lại cho tôi một nhúm nho khô trên cái bàn ngủ.
Đó là lần đầu tiên tôi hưởng Sabila.
Gái Hi-lạp, hồi ở Saloniki, luôn luôn toả ra mùi Thổ. Giờ thì tôi ở Hắc Hải trong một động em út và Atatürk[*] thì ngự trên tường. Người ta nói rằng trong phố chẳng có khỉ gì để xem nên tôi đi lang thang và các xưởng cá thì thối hoăng nhưng chẳng có ma nào cố bán cho tôi một tấm thảm. Nhìn từ ngoài vào, cái ổ em út này trông cũng tương đối bình thường. Xem nào, có vẻ hơi nghèo nàn, ánh đèn thắp tù mù, vài cha nội ngồi quanh trông chán đời quá thể. Các em ngồi sau cái cửa sổ bị che kín bằng mành chớp với ngoài đường. Người ta có thể đi ngang qua mà không thể nhận ra nó. Tôi bước vào và ngồi ngay dưới Ataturk. Mustafa Kemal là cha già của mọi người. Ông có lời khuyên dành cho mọi chuyện trên đời.
Nếu ông bảo người ta rửa tay trước khi ăn thì người ta làm một khẩu hiệu về vụ đó rồi tương nó lên với bức hình.
Tôi kết bạn với Yakup, tay bồi. Vào mùa hè ông đã làm cho một cái bar ở bờ biển Aegean. Nhiều du khách lắm. Bọn gái Anh và Đức chơi chùa người Thổ, ngấm ngầm phá hoại lĩnh vực kinh tế.
“Nhưng chúng bảo tôi, ‘Cha nội già rồi! Cút đi!’”
Ba mươi bảy tuổi, li dị, hói đầu, nhỏ con, không đủ tiền để chi cho các em-hai-mươi-đô-la ngon lành trong động đàng hoàng. Ông chỉ chi nổi một cú tàu nhanh bẩn thỉu hai-đô-la trong hẻm.
Một hôm nọ, tôi nói: “Yakup này, khi nào tôi tới cũng thấy ông đang viết, viết cái mốc xì gì vậy?”
Ông đưa tôi xem mấy cuốn vở. Ông đang viết cái mà ông gọi là ‘những chuyện hài’.
“Tao quan sát,” ông nói, chỉ quanh. “Tao nghe ngóng, tao ghi lại.”
Nhật ký ở một động đĩ xứ Thổ! Tôi nghĩ. Cái nhan đề hay quá. Cà tửng mà có mùi Dostoievsky lắm. Đáng công viết một truyện chỉ vì cái tựa như vậy. Mình có thể xài nó lắm chứ.
Ông cà rỡn về chuyện làm giàu, chuyện đoạt giải Nobel, chuyện đưa em út đi du hí trên du thuyền. Tuy nhiên, tôi tôn trọng ông. Ổng hiện diện ngay chỗ của ông và ông đang ghi nó xuống. Khi nào ế ẩm thì ông viết, ném một món gì mới vô chảo và xào lên.
Và tôi cũng làm y như vậy. Những khúc xương lãng mạn thì khó mà chôn đi nên tôi hầm xương của mình liu riu. Cuốn tiểu thuyết của tôi.
Mùa đông tới và mưa đổ vào từ Hắc Hải, thuyền bè cột lại và ngư phủ ngồi sau những cửa sổ nước nhỏ ròng ròng và giật râu mép và chơi cờ thỏ cáo (backgammon) và phì phà thuốc và nhấm nháp chút trà cho qua giờ và tôi ở nơi đó trong căn phòng trọ có sàn lát gỗ, thức dậy mỗi sáng và sáng tác áng văn tươi đẹp rộn ràng, uống bình trà, dạo bước loanh quanh trong khi cái trần gian trong đầu trở nên rạng rỡ, bừng sáng, loé chớp tưng bừng - rồi lại ngồi xuống viết những dòng cuồn cuộn tuôn chảy và làm cho chính tôi, kẻ sáng tạo, phải bàng hoàng kinh ngạc. Nhưng đó là niềm vui về nó, tôi không phải là kẻ làm ra. Không phải là tôi nghĩ ra được nó, đục đẽo vào cái nguyên liệu trơ lỳ. Tôi là đường dây cáp truyền một thứ năng lượng huyền bí. Tôi bị nó ám ảnh, để trao truyền nó, trao truyền chính mình về nó. Kẻ trao truyền. Tôi hân hoan và khiêm nhường. Thật là một thời khắc linh thiêng.
Tôi cũng được hành lạc tưng bừng và vụ này phóng thả tôi cho những điều cao xa hơn. Tôi rà bắt bò lạc, gái điếm say xỉn, các em đứng đường rạc rài về khuya, bọn đĩ gù, các em út thơm tho. Chúng trẻ trung và sạch sẽ và cũng khá là có giá.
Tôi chẳng thể nào hưởng Sabila cho đủ. Đó là sự giống nhau với gái Hi-lạp về mặt thân xác, và điều gì đó trong tính cách của nàng, hài hước và sôi động, sự rắn rỏi không thể hiểu được đó nằm ngay bên dưới làn da, nó vồ ngay trứng dái tôi. Trong những giấc mơ của tôi, Sabila và Hi-lạp trở nên lẫn lộn hỗn độn. Lẽ ra tôi có thể gỡ rối được, hiểu được, thôi thức giấc và khóc lóc, nhưng gượm đã. Cuốn tiểu thuyết sắp xong. Tôi biết rằng tôi chơi bời nhiều quá và tiền thì chẳng mấy chốc sẽ cạn nhưng tôi không muốn làm đứt nhịp đời. Mỗi sáng tôi dậy và pha ly cà-phê và xả và chữ chỉ việc tuôn ra. Thậm chí tôi gom được cả chồng những bài thơ.
Tôi phát triển một phương pháp mà nhờ đó tôi nhận lấy được phần hay ho nhất từ Sabila và nàng thì tận dụng tôi. Tôi trả cho nàng một đô-la cho mỗi hai phút. Chúng tôi đổi vai lẫn nhau. Nàng cứ kiểm giờ bằng cái đồng hồ đầu giường.
“Chậm lại nào!” Nàng thì thào.
“Chúa ơi!” Tôi nói, “thấy anh mần được gì rồi nào. Thời gian đang trôi qua đó nghen!”
Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ cho tới khi trở nên trật lất hết đường gỡ.
Chuyện là như thế này. Nàng đang chải tóc bên tấm gương, nói huyên thuyên như mọi khi trước đây và sau này, chuyện vớ vẩn gì đó về việc làm thế nào chồng nàng có được chiếc xe hơi to đùng và chở nàng về nhà bất kỳ ngày nào, và tôi đi tới chỗ cất tiền để lấy khoản tiền cho bốn mươi phút của nàng và chẳng có xu nào ở đó. Một trong những cô chị em hàng xén của nàng đã chôm sạch tiền của tôi. Cho dù bạn xỉn tới cỡ nào, thì cũng đừng ngủ khò trước khi nàng bỏ đi. Hãy luôn luôn tiễn nàng ra khỏi cửa. Vậy đó, tôi muốn vui vẻ và giờ thì tôi đã được điều đó. Trong một thoáng linh hiển thuở xa xưa tôi đã lo ngại rằng việc đụng độ với nhiều em út thì thật là MỘT ĐIỀU TỒI TỆ và Chúa đang trừng phạt tôi. Tôi cảm thấy tội lỗi quá xá. Đó là cú choáng của sự vụ hết xu. Tôi có một ít trong ngân hàng, chỉ vừa đủ để tôi chuồn ra khỏi nước. Chỉ vậy thôi. Tôi trở lại phòng. Nàng vẫn đang líu lo huyên thuyên. Về chuyện nàng rất khoái món quả óc chó tẩm mật.
“Sabila, ngày mai anh sẽ trả cho em nhé.”
Nàng ngưng tay chải tóc nửa chừng. Nụ cười rơi xuống từ đôi mắt và rồi từ miệng nàng.
“YahachoomoydyengiseeCHAS! (EmmuốnlấytiềnNGAYBIGIỜ!)”
Tôi giải thích tình huống. Nàng bước lên và rít qua kẽ răng. Rồi vô số ngôn từ hoa mỹ. Tôi thấy thật buồn cười cho tới khi nàng nhìn tôi chằm chằm, giờ thì mắt nàng hí hơn mọi khi, đen nhánh như than ướt, và từ từ vạch ngón tay trỏ từ háng tôi lên tới xương ức.
“Thằng bồ của tui sẽ xẻ cha nội rách toang như một con cá!”
Tôi không biết tí gì về thằng bồ của nàng hay thằng chồng của nàng hay thằng ma cô của nàng hay chúng là ba trong một như tam vị linh thánh nhưng tôi phải thừa nhận rằng cú này làm tôi sợ vãi cứt.
“Anh nghĩ rằng chúng mình là bạn mà! Tấm lòng vàng của em đâu rồi?”
Nàng thật sự siết chặt hai nắm đấm và giậm thình thịch đôi chân nhỏ nhắn xuống sàn nhà.
“Hổng có màn chơi chùa đâu!”
Câu nói lẽ ra là tếu lắm nhưng nó không tếu chút nào. Tôi cố giải thích nhưng bộ não tính toán hơn thiệt bé tí của nàng không chịu hiểu từ “sau” là gì. Nàng sẵn sàng chơi tôi những trò tệ hại và quả không sai chút nào.
“Em sẽ có tiền của em mà. Anh chỉ không có nó ngay ở đây thôi.”
“ĐƯA! TIỀN! CHO! TUI! NGAY! BI! GIỜ!”
“Nghe này,” tôi nói, run run mở ví ra. “Nhìn cái này nè. Nó chỉ trông giống như một miếng nhựa. Nhưng đây là nền kỹ thuật Tây phương. Kỳ diệu tuyệt vời. Anh nhét cái thẻ này vào cái lỗ trên tường thì tiền chạy ra. Vậy nên em không cần nói chuyện thô bạo vậy đâu. Nếu em không thể chờ cho tới ngày mai thì mình đi lấy tiền cho em ngay bây giờ.”
Câu này làm nàng dịu lại một chút.
“Thời gian đang trôi qua đó nghen!” Nàng lầm bầm trong lúc mặc áo khoác vào.
Tôi đã không nghe câu đó khá lâu rồi.
Chúng tôi đi xuống các cầu thang gỗ, rẽ trái, rồi rẽ phải vào Ataturk Caddesi rồi thẳng xuống khu bờ biển và cái mùi nồng nàn muối mặn và phèo ruột cá của nó, và những hình dáng đen ngòm của những cần trục đưa tàu vào cảng in trên nền trời.
Tôi nhét tấm thẻ vào bức tường.
“Thời gian đang trôi qua đó nghen!”
Tôi bấm số và yêu cầu rút hết số tiền mình có. Không làm thế thì con oắt đĩ thúi sẽ chẳng thể mở mang trí tuệ thêm được chút nào. Hãy dạy cho nó biết đối xử với khách hàng như thế nào cho phải phép.
Trời lạnh. Tôi xoa xoa hai tay. Cái máy chạy kêu ro ro rồi lách cách và tin nhắn bay ngang chín tầng mây từ hệ thống máy tính này đến hệ thống máy tính khác, niềm vinh quang của hệ thống ngân hàng và kỹ thuật thông tin toàn cầu đang phục vụ tôi, trong giờ phút ngặt nghèo này.
NGÂN HÀNG CỦA BẠN TỪ CHỐI YÊU CẦU
VUI LÒNG LẤY THẺ RA.
Tôi lại nhét thẻ vào và yêu cầu rút một số tiền khiêm nhường hơn. Vẫn vậy, y như hạch.
“Em thấy không, Sabila, cái hệ thống này tùy thuộc vào sự liên lạc giữa một số hệ thống máy tính với nhau, kết nối một số hệ thống ngân hàng, và em biết máy tính là thế nào rồi đấy, nhiều khi mạng tạm thời bị down. Việc này không có nghĩa là anh không có tiền. Nó chỉ có nghĩa là anh không thể truy cập được ngay trong phút giây này, đúng ngay trong thời điểm hiện tại này. Làm ơn thông cảm nghen.”
Thân hình nàng vặn vẹo và co giật lên trong cơn giận, lên cực điểm với cái giậm chân nhỏ nhắn thình thịch. Thêm nhiều lời tục tĩu về việc phèo phổi của tôi sẽ trào xuống đất.
“Thôi được, thôi được. Vậy là đủ rồi nghen. Nếu em không tin tưởng anh chỉ vì hai mươi tì hôi thối đó thì hãy về nhà nào, và anh sẽ đưa em món gì đó.”
“Thời gian đang trôi qua đó nghen!”
Tôi biết điều đó chứ. Mỗi khi tôi nhìn vào gương. Và tôi vẫn chưa in sách.
Chúng tôi trở về nhà nhưng tôi chẳng có món gì ngoài cứt. Thậm chí cái đồng hồ báo thức cũng là một cục cứt. Tôi đề nghị trao nàng cái ra-đi-ô cũ của tay chủ nhà. Thậm chí tôi đề nghị cái quần của mình.
“A ha! Bọn em út gọi cha nội là tay chơi quần tuột!”
Thiệt tình thì tôi đã mong một đứa nào đó trong bọn chúng khâu lại giùm.
“Mấy cái mà cha nội thường hí hoáy viết là thứ quỷ gì vậy?” Nàng hỏi, nhặt những cuốn vở vô giá của tôi để trên bàn lên.
“Để yên đó. Nó chẳng có giá trị gì đâu.”
Nàng dúi cuốn tiểu thuyết và những bài thơ của tôi vào cái túi xách và không thể kéo dây kéo lại được. Nàng vừa làm vừa càu nhàu.
“Không có chuyện chơi chùa đâu! Không có chuyện chơi chùa đâu!”
“Vì sao em lấy cái món đó?”
“Vì cha nội không muốn tôi lấy nó! A ha!”
Rồi nàng bỏ đi mang theo các thứ tôi viết được từ khi tôi tới thành phố này. Chẳng có bản nào khác.
Tôi khui một chai vodka để làm mình nguôi ngoai nhưng khi đã êm thì tôi lại sẵn sàng cho một trận chơi dao tay bo với thằng ma-cô-chồng-bồ của nàng. Rủi thay tôi trượt chân trên thảm và đập mũi vào cái bàn viết. Tôi lấy giấy vệ sinh nhét nó lại và ngửa đầu ra sau. Rồi tôi ngủ khò trên ghế luôn.
Tôi thức thật sớm rồi đi tới máy rút tiền. Tôi thấy mình như thằng bù nhìn được ai đó thổi cho một cái linh hồn rồi đẩy vào vùng đất cằn khô của trái đất mà lang thang. Chẳng có ai thức cả ngoài một người phu quét đường bị viêm khớp, quét với từng động tác chậm, và mọi thứ buồn bã và chán ngắt. Một cơn gió lạnh thốc lên khỏi Hắc Hải và châm vào mắt tôi làm chảy nước mắt. Có lẽ cảnh tượng này trông hay ho trên chương trình National Geographic - Bình minh trải trên vùng bờ biển Hắc Hải hẻo lánh của Thổ Nhĩ Kỳ, rồi đến những thống kê về cá mòi - nhưng nó xấu như cứt với tôi. Và những con chim mòng biển ngu độn chẳng giúp được gì. Trong lúc tôi gõ xuống con số của mình thì một đám bọn chúng tấn công một cái bìa bằng nhựa. Chúng to như ngỗng. Một vài con hợp lại có thể giết một gã đàn ông. May thay chúng đang mò xuống mớ cá.
Sau đó là một tiếng ro ro thân thuộc từ máy rút tiền, tiếng nhạc làm yên lòng của những tờ bạc mới cứng đang được đếm ra. Tôi hít vào cơn gió thoảng mùi rong biển, nồng nàn mùi phân chim và những thứ đã chết từ lâu.
VUI LÒNG LẤY THẺ CỦA BẠN
Tôi lấy.
VUI LÒNG LẤY TIỀN
Tôi mỉm cười với mấy con mòng biển.
Vị tu sĩ Hồi giáo báo trời đã rạng đông. Tiếng ông vang vọng rền rĩ qua những chiếc loa từ đỉnh tháp. Tôi thường nguyền rủa khi âm thanh này khi nó đánh thức tôi dậy, và giờ đây nó lại ngân nga thật tuyệt trong giây phút cứu rỗi mình. Tôi dừng chân trước những bậc thềm ngôi giáo đường. Ánh đèn màu đỏ ấm áp sáng lập loè bên trong. Vài người đàn ông quỳ trên thảm, bắt đầu một ngày mới với việc mở lòng ra cám ơn Thượng đế đã trao họ đời sống. Tôi cởi dây, tuột đôi giày ủng ra. Tôi vào bên trong, quỳ xuống, khấu đầu trên thảm. Đúng vậy đó! Cúi xuống thật sát! Người Công giáo quý vị không hiểu được đâu! Nó là sự ngầy ngật, tiền bạc, cái bình minh cũ rích vô vọng đang bị vầng thái dương đang lên xua đi, hai má tôi đẫm nước mắt. Hãy để linh hồn khốn khổ của con thú nhận rằng con được lòng khoan dung của người nâng dậy lần nữa! Hạ mình xuống trước chúa tể của vũ trụ và cùng lúc tôn vinh rằng người cùng phe của con, Ôi kẻ phục sinh của sự phục sinh của con - sự tái-cương (re-erection) của con - Ôi kẻ bảo đảm cho khả năng cương mãnh của con, Ôi kẻ đặt xương vào thịt của con! Thật là tuyệt trong lúc đó nhưng rồi nhiều tín đồ liếc nhìn tôi. Họ thì rất thành kính còn tôi thì chỉ nhào xuống, đầu để trần. Và tôi bốc mùi nhậu nhẹt và có da quy đầu còn nguyên. Tôi hồi tỉnh và thấy xấu hổ về hành vi của mình. Tôi chuồn thôi. Họ không hiểu những cảm xúc của tôi đâu.
Do đó tôi về nhà, xả nước vào bồn tắm rồi bước vào. Nước nóng ve vuốt dái tôi thật là tuyệt và tôi kiểm soát được mọi chuyện. Tôi cảm thấy tự chủ trước những rắc rối của con người. Và tôi tiết kiệm được tiền.
Tuy vậy, đến chiều thì tôi lại nổi khùng lên. Tôi không tìm được Sabila đâu cả. Niềm vui về tiền bạc lúc ban đầu đã tan theo mây khói và tôi lo cho tác phẩm của mình quá. Tôi biết quá nàng là một con điếm oắt hám lợi và sẽ moi tiền tới bến nếu đánh hơi được mấy cuốn vở là thứ quan trọng. Nàng sẽ bán lại từng tờ một và tôi đành phải chịu thua thôi.
Khi vị tu sĩ báo tới giờ cầu nguyện cho buổi chiều tôi vẫn không làm được chuyện gì khả quan hơn.
Tôi đi xuống bar ngồi với Yakup, nhưng vẫn còn quá sớm với bất cứ em út nào và ông ta chưa thấy Sabila. Tôi kể với ông chuyện mấy cuốn vở. Ông nhìn tôi thông cảm.
“Tôi nghĩ là cậu đã phạm sai lầm rồi, bạn ơi.”
Những lời đơn giản đó ư! Nó là cái kiểu hiện diện như tác giả của ông, cái giọng kể chuyện của ông. Nếu chính lời sấm truyền của thánh Amun đã phán thì nó cũng không thể rõ ràng hơn rằng tôi đã tiêu rồi. Tôi không có tâm trí nào để bắt đầu viết lại cuốn tiểu thuyết. Cái cách mà nó trôi chảy qua tôi, làm tôi kinh ngạc và biến tôi thành một tên đầy tớ, tươi sống và bung mở và khiêm nhường trong việc viết vội viết vàng, không thể nào được tái diễn lần nữa. Chuyện đó sẽ giống như việc ngồi xuống và buộc mình phải nuốt một muỗng đầy cháo thiu của hôm qua. Việc tự an ủi rằng nó thơm ngon bổ dưỡng lắm cũng không làm tôi nuốt xuống trôi. Không ra cơm ra cháo gì rồi. Và có lẽ tôi chẳng bao giờ lại có được ý tưởng hay ho nào nữa. Tôi sẽ có hứng nhưng không viết nổi nữa đâu. Sabila đã chôm đi niềm hứng khởi của tôi rồi, bỏ tôi lại bất lực và khốn khổ. Tôi bị kết liễu vai một nhà văn và một thằng người luôn nếu tôi không lấy lại được mấy cuốn vở này.
Gần nửa khuya thì tôi tìm được nàng, trên Ataturk Caddesi nơi mà tôi đã gặp nàng lần đầu tiên vào mùa thu. Tôi cố giữ bình tĩnh. Tôi không muốn tỏ ra có vẻ quan tâm đến mấy cuốn vở. Tôi không đủ tiền trả cho chúng. Số tiền cuối cùng tôi có đang nằm trong túi tôi. Chỉ còn chừng đó thôi.
“Anh có tiền trả em rồi này, đưa mấy cuốn vở lại cho anh nào.”
“Em không có vở ở đây. Ngày mai em sẽ đưa cho anh.”
“Anh muốn lấy bây giờ.”
“Được rồi. Đưa tiền đây.”
“Đưa tiền sau.”
“Ngay bây giờ!”
Cũng kiểu đối thoại cũ. Nàng bắt thóp được tôi. Tôi đưa tiền cho nàng.
“Không đủ. Thời gian buổi tối vừa qua đang trôi đi. Nói nhiều quá.”
Tôi xì ra thêm một tờ bạc nữa. Lần này thì nàng thấy được nắm tiền và mỉm cười. Tôi lại trở nên khả kính.
Nàng nói, nắm lấy cánh tay tôi.
“Đi làm tình nào.”
“Anh không muốn làm tình, Sabila. Anh muốn lấy lại bản thảo. Ngay bây giờ.”
“Em vất chúng rồi.”
Một âm thanh lạ vọt ra khỏi cổ họng tôi. Ngẫu nhiên, một kẻ bị người lạ bóp cổ.
Nàng nói, ve vẩy ngón tay.
“Tối qua em giận anh quá xá. Anh tệ lắm!”
“Em có thể tìm lại chúng không?”
“Thời gian đang trôi qua đó nghen! Anh phải trả tiền à.”
“Trả sau.”
“Bây giờ!”
Bị con điếm bắt chẹt.
Nàng nắm lấy cánh tay tôi và dẫn tôi xuống một con hẻm tối om. Nàng dừng lại rồi chỉ vào một cái bô rác.
“Cái gì? Em ném mấy cuốn vở của anh vào đó à?”
Nàng gật đầu.
Tôi nhảy ào xuống mà không cần ngó. Trong thoáng chốc tôi nghĩ rằng tôi nhảy vào giữa một đống chuột nhưng thật ra chúng là mèo, chắc là phân nửa số mèo trong thành phố, và chúng chạy tán loạn ngay. Ủng tôi ngập vào một lớp cá chết, giấy bồi, xác phân huỷ, lá bắp cải, giấy báo ướt sũng nước và các thứ thối hoăng khác. Thật ra tôi không biết nó là cái gì nhưng hàm lượng hữu cơ lại cao một cách khác thường. Tôi oẹ khan và không thấy gì cả. Tôi mò cái bật lửa. Ngay cả khi có ánh sáng thì cũng chẳng thấy được gì nhiều. Có vài tờ giấy nhưng chúng không phải của tôi. Tôi khốn khổ lội bì bõm tìm dấu vết của nghệ thuật. Nó mất tiêu rồi. Bị chôn vùi trong cứt. Hay chưa từng có ở đó.
“Sabila. Anh van em. Nói cho anh biết là cuốn tiểu thuyết vẫn còn nguyên trong phòng em đi. Anh tha em tội làm hỏng đôi giầy của anh. Anh van em. Nó là cuốn tiểu thuyết về đứa con gái làm tan vỡ trái tim anh và anh chỉ có câu chuyện này mà thôi. Đó là điều duy nhất làm nó có chút giá trị. Con nhỏ đó giống em lắm, thật đó. Đó là lý do duy nhất mà em moi được của anh hơn năm trăm đô cho tới thời điểm này. Nói với anh rằng nghệ thuật và tình yêu không bị vùi chôn trong cứt mèo và mớ đầu cá. Thời gian đang trôi đi, anh biết vậy như bất cứ ai. Nói với anh nào! Sabila!?”
Cái bật lửa trở nên nóng bỏng và đốt ngón tay cái của tôi nên tôi thả nó xuống. Trên bầu trời có nhiều sao và tôi càng nhìn lâu thì càng có nhiều sao và thật là cô đơn khi nhận ra rằng tôi đang trò chuyện với chúng và rằng Sabila đã bỏ đi rồi. Có lẽ tôi làm được một bài thơ ngắn từ cái cảnh này. Tôi trèo ra khỏi thùng rác. Rồi đi xuống bar rượu nói chuyện với Yakup.
“Bồ ơi, cậu thối hoăng à!”
Tôi nhìn xuống đôi ủng. Chúng tôi đi ra ngoài nói chuyện.
“Tôi thất vọng với mối tình lãng mạn, Yakup à, và viết một cuốn tiểu thuyết về nó. Nhưng tôi lại không chuẩn bị với mấy con đĩ này. Bọn chúng hoàn toàn không ra cái giống gì cả.”
“Đây là một chuyện hài độc đây. Tôi xài nó nghen?”
“Xài đi. Tôi không viết lách gì nữa đâu.”
“Không đâu, cũng giống như đàn bà vậy mà, khát vọng luôn quay trở lại. Và khi nó đến thì cậu chào đón nó, bởi vì nó nói con tim vẫn luôn đập phập phồng.”
“Nghe giống một câu cách ngôn lắm, Yakup à.”
“Cậu có thể thoả mãn cơn đói một mình. Nhưng lòng khao khát về đàn bà luôn luôn cần thêm một người khác. Nó chẳng bao giờ đơn giản đâu.”
“Cái này phải là đoạn cuối của câu chuyện.”
“Chỉ chút xíu nữa thôi, bồ ơi. Dọn dẹp lại cho ngăn nắp. Trừ phi chúng ta cho sự hỗn độn này một hình thái mà chúng ta chịu đựng sự rối loạn, trầm cảm, và những thứ còn tệ hại hơn.”
Đêm hôm sau tôi lên xe buýt đi Istanbul. Trò cờ bạc không làm ra tiền và giờ đây tôi phải trở lại một nơi nào đó mà bán thời gian của mình thôi. Trên đường đến trạm thì tôi thấy Sabila. Nàng đi phía bên kia đường đến một cuộc hẹn. Những bước chân nhỏ cà tưng của nàng. Tôi biết nàng đang đi làm ăn bởi vì nàng bước rất nhanh, rất dứt khoát. Vì một lý do nào đó tôi cảm thấy không giận hờn gì nàng. Thật ra tôi còn khâm phục nàng nữa.
Một số hành động không có ý nghĩa gì nhiều nhưng nếu không thực hiện chúng thì còn tệ hơn nữa và đó là lúc bạn bị kẹt, ca cẩm hát hò giữa những chấn song. Khi chiếc xe buýt lăn bánh thì tôi nghĩ đến Yakup. Tôi viết cái nhan đề trên đầu trang giấy. Và rồi chữ bắt đầu tuôn ra.

________________________
Chú thích của người dịch:
[*]Mustafa Kemal Atatürk (1881-1938) là một sĩ quan quân đội, nhà cách mạng, và là quốc phụ cũng như vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ. Atatürk được biết đến với khả năng chỉ huy quân sự đặc biệt xuất sắc trong Thế chiến I. Sau khi Đế quốc Ottoman thất bại trong Thế chiến I, ông đã lãnh đạo Phong trào Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ giành lại độc lập cho quốc gia. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời tại Ankara, ông đã đánh bại lực lượng Đồng Minh. Cuộc kháng chiến này đã thành công và dẫn đến kết quả là nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ ra đời. Sau chiến tranh, Atatürk đã tiến hành một công cuộc cải cách chính trị, kinh tế và văn hoá nhằm biến cựu đế quốc Ottoman thành một nhà nước hiện đại và tách rời khỏi giáo quyền. Những nguyên tắc của cuộc Cải cách Atatürk, mà từ đó nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại ra đời, được biết đến với cái tên Chủ nghĩa Kemal. (Theo Wikipedia)

--------------------
Bản dịch của Thận Nhiên từ nguyên tác “Notes from a Turkisk Whorehouse”, trong Philip Ó Ceallaigh, Notes from a Turkisk Whorehouse (Penguin Books, 2007).