Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2017

Thơ TỪ HOÀI TẤN Tháng giêng đi về Huế




Sông Hương Núi Ngự - Nguồn: linkhay.com



Tặng ông bà NQT

Gởi lại bản tình ca nơi đất Huế
Năm tháng mòn bánh xe trục lăn
Một ngày lại như một ngày khác
Chỉ có mối tình ta sủi tăm
Trên dòng sông suốt mấy nghìn năm lặng lẽ
Như con người ở đây
Như cảnh vật ở đây
Những đền đài lăng miếu di tích
Ghi dấu một triều đại
Ghi dấu sự lầm lỡ của một thời tuổi trẻ ta

 Và khi em đến
Mùa đông năm ấy trên dốc Nam Giao
Rồi em đã đi
Về một cõi nào không biết
Cõi ấy là gì cũng không còn ai nhớ
Chỉ mình ta thơ thẩn một cơn buồn

Buổi sáng sương sớm bên bờ sông
Mù như một ngày tháng chạp
Bức tường rêu phủ niềm ăn năn
Những cuộc đời thất lạc
Cây bằng lăng bên lan can tường thành bông hoa chưa nở
Con đường tưởng như dài nỗi lạnh vắng

Gởi lại một bản tình ca nơi đất Huế
Phi trường mù báo hiệu đợt mưa dài
Mùa còn mưa Xuân vẫn dầm mưa
Quanh quẩn đi về
Quanh quẩn cùng ai


Từ Hoài Tấn
Huế, đầu xuân 2017

https://phamcaohoang.blogspot.com/

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh : Cho một kiếp mơ được yêu nhau

Ảnh của tuankhanh

Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.
Kiếp nào có yêu nhau  Đừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập... mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.
Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách "Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh" do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:
"Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.
Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979"...
Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà.
Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí... đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.
Theo quy định của Văn bút Quốc tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.
Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.
Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.
Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.
Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.
Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang vọng một thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân... bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con... ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.
Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”...
Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng ngôn từ của bà thì dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:
"Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh"
Hay
"Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ
Hoặc trong bài "Tình chúng mình sẽ được vẽ lên tranh" có đoạn:
"Anh còn sống là mình còn xa cách
Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau
Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách
Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau"
Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.
Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có:�Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Thơ CÁI TRỌNG TY

BIÊN CƯƠNG
Tưởng niệm nhà thơ PHẠM NGỌC LƯ
 
 
biên cương hành chí h th
ngôn ngữ thơ di ly mt đi
người v bn quán nhà tan nát
tâm tư ưu ut tháng năm trôi
ngồi đây mi bn chung rượu đng
kẻ sĩ đp gai giày c qua sông
xa bao năm một ngày thoáng gp
gió phi trường bình đnh
cát bay bay
vội vàng tay vy không hn li
thuở y bi đường lm tai ương
ta theo trận mc v an phú
thời xuân thu
sớm bin chiu rng
bước đi la tình sp cn
nhìn lại mình rách nát tang thương
bạn tôi chí ln mài gươm bén
chảy máu đời thơ bui ch tàn
ai hiểu cho mi đi tht chí
chung rượu này đi m vi ai
đêm xưa gác tr vài ba đa
chơi mt phùa sng khoái
tan hàng
nay hong bếp cũ tro than lnh
nhìn đăm đăm vách lá chơ vơ
chỉ thy tháng ngày xuôi lp lp
đời mi trôi qunh qu vào ra
nhớ bn đêm v đau vết ct
dấu đi qua dao nhn ca vào tim
ta qua cầu nhìn giòng sông khp khiểng
máu về tim nhp đp luân hi
đêm nay ngâm lại biên cương trn
hành phương đông ut hn ngút ngàn
mây đùn kìn kịt t đt kh
vó ngựa cao nguyên đ xóm làng
cung đàn xưa ai người tri k
chiếu bc đi soi ni đng cay
giông bão đời xoay
gãy rồi bút bc
đời sang trang khép
khúc oan tình
hình như gió thi qua liếp ca
vi vu nghe tiếng gi trùng khơi
gọi ai nơi tn cùng biên tái
mây khói tàn tro phủ tượng đài
ta rơi giòng l v chn cũ
dấu giày thô ngươi tr quê nhà
Cái Trọng Ty
Texas, May 26 2017

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

NHÀ THƠ

PHẠM NGỌC LƯ

ĐÃ QUA ĐỜI VÀO TỐI THỨ SÁU, 26.5.2017 TẠI ĐÀ NẴNG
HƯỞNG THỌ 71 TUỔI. NHÀ THƠ SẼ ĐƯỢC ĐƯA VỀ MAI TÁNG 
TẠI QUÊ NHÀ PHÚ VANG, HUẾ  VÀO NGÀY 31.5.2017

Xin chia buồn cùng chị Quý và gia đình.
Nguyện cầu linh hồn người quá cố
sớm yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.


Trần Huiền Ân   Trương Vũ   Đỗ Hồng Ngọc   Lữ Kiều   Lê Phương Nguyên  Hải Phương   Trần Hoài Thư    Phạm Văn Nhàn   Võ Tấn Khanh   Lữ Quỳnh
Phạm Nhuận   Nguyên Minh   Cao Thoại Châu   Nguyễn Quốc Thái   Quan San

Thành Tôn   Luân Hoán   Trần Doãn Nho   Hoàng Lộc   Nguyễn Trọng Khôi Nguyễn Xuân Thiệp   Khuất Đẩu & Huyền Chiêu   Từ Hoài Tấn   Lê Văn Thiện  Bắc Phong Huỳnh Ái Tông  Nguyễn Miên Thảo  Viêm Tịnh  Võ Chân Cửu  Hạ Đình Thao  Lãm Thúy  Trần Thị Nguyệt Mai    Nguyễn Quang Chơn   Duyên & Tùng


Nguyễn Sông Ba   Lê Ký Thương   Đặng Kim Côn   Hoàng Xuân Sơn    Thu Vàng   Nguyễn Thị Thanh Bình      Hoàng Thị Bích Ti      Nguyễn Minh Nữu Thân Trọng Sơn   Nguyễn Lệ Uyên    Nguyễn Âu Hồng     Hà Thúc Sinh Lê Văn Trung   Ngô Phan Lưu     Nguyễn Dương Quang   Nguyễn Hòa 

Đỗ Trường   Mai Quang   Nguyễn Đức Nhơn   Văn Công Lê   Gia Nguyễn

 Tôn Nữ Thu Dung   Nguyễn Thị Khánh Minh   Trần Bang Thạch   Triều Hạnh Lương Thư Trung     Phan Xuân Sinh   Cái Trọng Ty  Tô Thẩm Huy
   Trần Phù Thế   Nguyễn Thanh Châu   Phan Ni Tấn   Hoài Ziang Duy
Đoàn Văn Khánh   Trương Văn Dân & Elena   Phạm Cao Hoàng & Cúc Hoa
Mang Viên Long   Thúy Phương   Trần Yên Hòa   Huỳnh Hữu Võ   Tô Duy Thạch 

_____________________________________________________


PHẠM NGỌC LƯ

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư (1946-2017)


Tên thật Phạm Ngọc Lư, bút hiệu khác Phạm Triều Nghi. Sinh năm 1946 (Bính Tuất) ở Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnhThừa Thiên. Nơi ông sinh là một làng nhỏ vùng duyên hải cách thành phố Huế khoảng 30 cây số về hướng Ðông Nam. Ngay từ thuở ấu thơ, Phạm Ngọc Lư đã được cha và người bác truyền dạy chữ Hán.
Ông là cựu học sinh Quốc Học, sinh viên Viện Hán học và Ðại học Văn Khoa Huế. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn, ông về dạy học ở Tuy Hòa. Năm sau, 1968, theo lệnh động viên ông nhập ngũ khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Sau 9 tuần ở quân trường, ông lại được biệt phái trở về ngành giáo dục. Bắt đầu viết năm học đệ tứ. Có bài trên các nguyệt san, tạp chí Nghệ Thuật, Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Khởi Hành, Ý Thức, Tuổi Ngọc…
Tác phẩm đã xuất bản:
ĐAN TÂM (Thư Ấn quán 2004)
MÂY NỔI (tự in 2007)
Sau năm 1975, Phạm Ngọc Lư bỏ nghề dạy học. Từ đây, hoàn cảnh, xã hội đã đẩy Phạm Ngọc Lư phiêu bạt nhiều nơi, có những lúc cuộc sống, tâm hồn tuyệt vọng, tưởng chừng ông đã đoạn tuyệt với thi ca. Nhưng rồi chính nó lại là điểm tựa, giúp ông vượt qua những đắng cay, tủi nhục ấy. Và Ðà Nẵng mới là nơi hội tụ, điểm dừng chân cuối, không chỉ riêng ông, mà còn của nhiều thi nhân lỡ bước khác. Gần đây có tin Phạm Ngọc Lư bị bệnh. Chúng ta cầu chúc ông sớm bình phục.

Nghĩ về nhà thơ Phạm Ngọc Lư, Cung Tích Biền viết: Ông xuất hiện khá sớm trên văn đàn Miền Nam, trước 1975, qua các tập san văn chương; trong dòng văn học phóng khoát, bay bổng. Thơ buổi này? Là của nửa lãng mạn, và nửa kia của Lửa, trong đấu tranh sống còn. Mỗi tâm thức là nghìn gạn hỏi về phận người trong một Việt Nam phân ly Bắc-Nam. Một Việt Nam bị cuộc chiến ác liệt, vừa của bom đạn máu lửa vừa của ý thức hệ thù nghịch. Nó thách thức và ngăn cách toàn triệt với hạnh phúc; lại rất gần gũi trong ý nghĩa lưu đày.

Nhưng đây cũng là thời kỳ may mắn cho những ai làm văn học nghệ thuật, đương nhiên là ở Miền Nam. Vì cái thực tế nơi đây, là đầy rẫy rủi ro lại phong phú những mong chờ. Rất nhiều cảm thán về thân phận nhưng cũng thừa những nụ cười về nghịch lý đời thường. Và, vì họ được sống, được làm Người Sáng tạo, trong một môi trường tự do. Có nghìn tự do lựa chọn. Có biển tư tưởng để tương phùng. Và trên hết, từ một thế giới rộng mở, đa dạng, sầm uất những phát biểu, họ tồn tại trong đầy đủ ý nghĩa của Tồn Tại. Phạm Ngọc Lư là một Ðóa Hoa, trong vườn hoa sắc màu hoằng viễn này.

Hồi ấy, hơn ba mươi lăm năm trước, tôi đọc thơ Lư mà chưa hề có dịp gặp mặt. Cứ nghĩ, anh là một người giàu trầm tư, vừa sống vừa phiêu bồng thấy ra:

Ngàn sau hồn chữ rêu phong
Miên man thiên địa… tấc lòng du du…
Phạm Ngọc Lư

Năm 2008, gặp Phạm Ngọc Lư ở Ðà Nẵng, Cung Tích Biền ghi nhận: Một làn da trắng lấm tấm bụi phong trần. Một khuôn mặt xương xương khắc khổ. Một giọng nói mềm của Huế. Một thân người mảnh mai. Duy đôi mắt sáng, một vầng sáng đã xám đậm những rêu đời. Ðó là chân dung Nhà thơ Phạm Ngọc Lư. Tôi cũng rất mừng là anh còn sáng tác. Và cái tốt đẹp trên cùng, là anh còn giữ được chừng mực cái tinh túy Chính-Mình.

Phạm Ngọc Lư, qua thời cuộc thăng trầm, làm thân phiêu dạt, nhưng không hóa ra bọt bèo. Mà anh đã minh triết nhận ra cái Tính Lý của cuộc Sinh – Diệt:

Đất đá thở ra mùi u uất
Bốn bề hun hút rợn màu tang
Ai chết quanh đây mà cú rúc
Mà cơn gió lạnh réo hồn oan
Ai trong muôn dặm không về nữa
Cố lý mười năm mộng bẽ bàng
Cố lý hành – Phạm Ngọc Lư

(Bài viết của NGUYỄN & BẠN HỮU
Nguồn: Báo Trẻ online)

phamcaohoang.blogspot.com

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Bài thơ của những năm gió bụi : Lau lách Bình Thành




Ta về đây phất ngọn cờ lau
Dẫn bầy lâu la là đám con nhỏ
Tập trận trên những luống khoai mỳ
Trồng bờ đắp mới xong hôm qua
Bên dòng nước phèn tanh tưởi
Những luống khoai của một trận địa nghèo khó
Với bầy con ở trần quanh năm
Bên mụ vợ ở nhà quê đụng giường thì đẻ

Hàng chục năm quá khứ bỏ lại sau lung
Cùng những ngày phố thị bị truy đuổi
Những năm đau lòng vĩnh biệt một cuộc chiến tranh
Cảnh chia ly không ngờ tới
Bỏ lại một chặng đường
Bởi không còn cách nào để ở lại với những ngày lang thang và đói
Sau những cuộc ra đi thất bại

Ta về đây với bông hoa tràm đồng nội
Rừng bạt ngàn lau lách
Đất bưng biền
Nước trong xanh chỉ để soi mặt mình, không uống được
Những trảng bàng mênh mông nối tiếp tận chân trời
Chỉ để thấy sự cô độc của kẻ không nơi nương náu
Về dựng chòi trên bờ kinh xáng múc
Những nhát cuốc xuống vùng đất mùn
Khơi tìm mạch sống
Những năm ấy như là
Kẻ thất phu
Mang nỗi đau ngày lưu lạc
Kẻ thất phu tự an ủi mình bằng vinh quang của sự hèn nhát cam chịu cuộc đời
Bên người vợ quê suốt ngày ca sáu câu vọng cổ
Những năm ấy như là
Chìm đắm êm ái với sự vô vọng

*
Rừng ở đây và đất cũng ở đây
Từng ngày rồi từng năm tháng
Mười lăm năm không nghĩ sẽ qua
Dòng kinh xáng nước lớn ròng đôi bận
Nằm chờ biền sông dưới bóng cây gừa
Xuôi con nước thuận dòng về bến chợ
Hàng đã lên bờ rượu đã bày ra
Vài con khô cá sặc
Chung ly rượu bằng hữu thương hồ
Ngất trời sảng khoái
Bèn cất tiếng ca rằng
Ta về đây về đây
Phấp phới ngọn cờ lau
Lãng tử hay tráng sĩ hề
Dửng dưng lòng nguội lạnh
Quê hương hay đất nước hề
Có còn không một cõi
Để
Những tháng năm tràn qua
Chỉ là giấc mộng đầu hôm

TỪ HOÀI TẤN
(Xã Bình Thành Huyện Đức Huệ Tỉnh Long An - Biên giới Việt Miên những năm 1980s
Viết lại Sài Gòn tháng 2/2017)