Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

‘99% nhà văn Pháp không sống bằng nghề viết văn’





Tác giả best-seller tại Pháp David Foenkinos cho biết không quá 30 nhà văn nước này sống chỉ bằng nghề viết.
David Foenkinos là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất ở Pháp hiện nay. Ngoài ra ông còn là đạo diễn của một số phim chuyển thể. Tại Việt Nam, có ba tác phẩm của ông đã phát hành, gồm: Mối tình Paris, Chỉ tại vợ tôi gợi tình, Những lần ta chia tay, và sắp tới là Charlotte.
Trong khuôn khổ Tuần Văn học Pháp tổ chức lần đầu tại Việt Nam với chủ đề “Từ trang sách đến màn ảnh”, David Foenkinos cùng đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp có buổi giao lưu với độc giả Hà Nội về tiểu thuyết và những bộ phim ông chuyển thể vào tối 15/11. Zing.vn ghi lại cuộc trò chuyện.

Tôi có tình yêu lớn với văn chương

- Bạn đọc Việt đã biết tới ba cuốn tiểu thuyết của ông nhưng chưa biết nhiều về tác giả viết ra chúng. Ông có thể giới thiệu một chút về mình?
- Tôi là nhà văn Pháp, sinh tại Paris, tôi 44 tuổi, dù các bạn thấy tôi trẻ hơn tuổi rất nhiều phải không? (cười). Tôi viết chủ yếu là tiểu thuyết. Nhờ tiểu thuyết tôi được đi nhiều nơi, lắng nghe, chia sẻ các câu chuyện của mình với các bạn. Đó cũng chính là nguồn cảm hứng vô tận cho tôi sáng tạo.
Ngoài viết tôi còn làm những công việc khác. Là nhà văn, biên kịch, đạo diễn… ở khía cạnh nào tôi cũng thấy mình may mắn.
‘99% nha van Phap khong song bang nghe viet van’ hinh anh 1
Nhà văn David Foenkinos trong một thư viện tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hồng
Tôi có tình yêu lớn với văn học. 16 tuổi, tôi bị bệnh tim, cận kề cái chết. Ở giữa ranh giới sống chết, tôi tìm thấy niềm ham sống. Tôi thích nhạc jazz và tự tìm hiểu, tôi lang thang tại các bảo tàng, tôi yêu cái đẹp. Tôi viết văn từ đó.
Ban đầu, các tiểu thuyết cho thanh thiếu niên không thành công lắm, nhưng tôi không nản. Tôi thấy mình sinh ra để viết, ngày nào tôi cũng viết. Tôi gửi bản thảo qua bưu điện tới các nhà xuất bản. Không ngờ, một ngày đẹp trời sách tôi được in, được bạn đọc yêu thích.
Khi viết Mối tình Paris tôi 36 tuổi. Tác phẩm thay đổi cuộc sống của tôi, nó thành công ở Pháp và nhiều nước trên thế giới. Mọi người khuyên tôi chuyển thể tiểu thuyết thành phim. Bộ phim cũng được yêu thích.
- Là tác giả tiểu thuyết giúp gì cho ông trong vai trò của một đạo diễn khi ông chuyển thể chính tác phẩm văn chương của mình sang điện ảnh?
- Vì tôi viết câu chuyện này, nên khi làm phim tôi viết kịch bản luôn. Điều đó giúp tôi có thể giải thích rõ cho diễn viên những diễn biến nội tâm, điều cần biểu đạt.
Câu chuyện diễn ra trong bảy năm, nhưng khi quay phim lại không ghi hình theo trình tự thời gian. Tôi nắm rõ cốt truyện, nội dung, nhân vật nên có thể giải thích để diễn viên nắm bắt chính xác tâm lý nhân vật cần thể hiện.
- Có nhiều độc giả đọc, cảm nhận tiểu thuyết của ông theo cách riêng của họ, liệu họ có thất vọng nếu bộ phim dựng lên không giống họ tưởng tượng khi đọc truyện?
- Có rất nhiều phản ứng khác nhau của người đọc sách rồi xem phim. Bởi tác phẩm văn học khiến họ xây dựng một thế giới tưởng tượng riêng của họ. Khi bạn đọc tiểu thuyết trước khi xem phim chuyển thể, bạn đã ngấm câu chuyện rồi.
Bạn đã tưởng tượng ra câu chuyện theo cách của bạn, bạn không thể chấp nhận được câu chuyện trên điện ảnh (câu chuyện của đạo diễn, diễn viên và ê-kíp làm phim). Mỗi người có một tưởng tượng riêng, rất ít khi hình ảnh phim đáp ứng đúng tưởng tượng của bạn.
Có một kỷ niệm vui là có người hỏi tôi rằng nhân vật nữ chính trong truyện ông viết cô ấy tóc vàng, tại sao khi lên phim tóc của cô ấy lại màu khác. Sự thật, trong truyện tôi có bao giờ đề cập đến màu tóc của cô ấy đâu. Mỗi người có một cách nhìn riêng, xây dựng hình ảnh riêng cho mình.
Nên việc chuyển thể rất khó khăn, đặc biệt là những tác phẩm văn học đã nổi tiếng, bởi nhiều khi người xem không nhận, không nhìn thấy mình trong đấy, hoặc những đánh giá, hình dung của họ không hiển thị trên phim.
Phim là một cách, truyện là một cách hiển thị khác nhau. Chúng ta không nên so sánh.
‘99% nha van Phap khong song bang nghe viet van’ hinh anh 2
Mối tình Paris - tiểu thuyết được chính David Foenkinos chuyển thể thành phim.
- Khi chuyển thể tiểu thuyết thành phim, ông có làm thay đổi tác phẩm? 
- Ngoài chuyển thể truyện của mình, tôi từng vài lần chuyển thể truyện của nhà văn khác lên phim. Sau khi chuyển thể, đúng là quan hệ giữa tôi với nhà văn không còn được tốt đẹp. Nhưng cũng có hai lần phim chuyển thể của tôi rất thành công, được công chúng Pháp yêu thích.
- Trong phim “Mối tình Paris” chẳng hạn, có chi tiết nào mà tiểu thuyết không thể hiện tốt, nhưng phim lại biểu đạt sâu hơn không?
- Tôi nghĩ cả hai môn nghệ thuật đều có giá trị bổ sung cho nhau. Có những điều sách có được thì phim lại không làm được, có những điều phim thể hiện tốt nhưng truyện lại khó mà diễn đạt hay. Cả hai đều có thể bổ khuyết cho nhau.
Từ thực tế sáng tác, tôi thấy ở những chi tiết hài hước, phim ảnh dễ diễn đạt hơn tiểu thuyết.

Tôi may mắn sống được bằng nhuận bút

- Phần nhiều nhà văn Việt phàn nàn không sống được bằng nghề viết. Là nhà văn triệu bản sách ở Pháp có giúp ông có cuộc sống dễ thở?
- Có lẽ không cứ nhà văn Pháp hay nhà văn Việt chật vật với nghề viết đâu. Bởi ở Pháp, 99% người viết văn không sống bằng nghề của mình được.
Điều may mắn của tôi là sống được bằng tiền nhuận bút, và tôi sống đàng hoàng. Vì tôi may mắn bán được nhiều sách, sách được dịch ra 40 thứ tiếng, tôi có các tác phẩm chuyển thể phim nữa.
Xuất thân của tôi từ gia đình không dư dả. Nhưng khi gặp duyên viết sách, may mắn sách bán được. Ở Pháp có lẽ không quá 30 người viết văn chỉ sống bằng nghề viết.
‘99% nha van Phap khong song bang nghe viet van’ hinh anh 3
Đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp và nhà văn David Foenkinos trong buổi giao lưu với công chúng Hà Nội tối 15/11. Ảnh: Nguyễn Hồng
- Bên cạnh viết văn, ông còn là biên kịch, đạo diễn, và cũng yêu thích sân khấu. Vậy ông thích công việc nào nhất?
- Nếu phải lựa chọn chỉ làm một việc gì thì đó là điều quá khó, bởi tôi thích hết, tôi muốn làm hết những công việc ấy.
- Trong số những tiểu thuyết đã viết, vậy tác phẩm nào khiến ông hài lòng hơn cả?
- Charlotte. Đó là nhân vật tôi rất ngưỡng mộ. Charlotte sống ở Đức và Pháp những năm 1930-1940. Cách đây 10 năm thôi, tình cờ tôi có cơ hội biết về họa sĩ thiên tài này. Tôi đã viết lại cuộc đời của bà.
Tôi rất vui khi cuốn sách được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Các bạn sẽ khám phá trong sách này không chỉ một họa sĩ thiên tài mà còn là đời thực của bà, một người rất dũng cảm, một cuộc đời gay cấn.
Khi viết cuốn sách này, nhân vật đã bị lãng quên, không còn nhiều tư liệu về bà. Tôi đã đi tìm các nhân chứng, tìm tài liệu, mất rất nhiều thời gian. Điều tôi muốn giới thiệu ở đây không chỉ tiểu sử của bà, mà còn có phần khác, liên quan đến văn học rất nhiều.
Đây là tiểu sử về Charlotte, nhưng cũng có những chi tiết nói lên việc vì sao cuộc đời bà có những yếu tố phi thường. Tôi hài lòng vì sau cuốn sách của mình, Charlotte được biết tới nhiều hơn ở Pháp.
David Foenkinos là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất ở Pháp hiện nay. Tiểu thuyết đầu tay Sự đảo ngược của chứng ngu của ông xuất bản năm 2002, được giới phê bình chào đón và chú ý. Năm 2004, Chỉ tại vợ tôi gợi tình mang lại cho ông giải Roger-Nimier, tạo đà cho sự nghiệp văn chương.
Năm 2009, Mối tình Paris chính thức nâng David lên hàng các tác giả nổi tiếng. Tác phẩm tinh tế, nhạy cảm, đề cập một cách vị tha đến chủ đề cái chết và câu hỏi hiện sinh muôn thuở: “Liệu chúng ta còn có thể mở lòng mình sau khi đã mất tình yêu lớn trong đời?”.
Mối tình Paris đã được chính David Foenkinos tham gia chuyển thể thành phim, cùng lúc được đề cử hai giải César dành cho phim đầu tay và kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất.
Năm 2014, ông cho ra mắt Charlotte, cùng lúc giành hai giải thưởng văn học danh giá là Renaudot và Goncourt des lycéens. Đây là hiện tượng thực sự của văn học Pháp với gần 1 triệu bản in được tiêu thụ.
Tần Tần (ghi)
https://news.zing.vn/99-nha-van-phap-khong-song-bang-nghe-viet-van-post892838.htm

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Người tình cuối trong cuộc đời Hồ Xuân Hương là ai?



Mối tình cuối cùng của Hồ Xuân Hương là với Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển vào khoảng năm 1814 -1818, đây có lẽ là thời gian hạnh phúc nhất của bà.
Nữ sĩ họ Hồ là một tài thơ hiếm thấy và có mối kết giao rộng rãi với các bậc văn nhân tài tử đương thời. Xuân Hương từng kết bạn với Nguyễn Du, Tốn Phong Thị, Chiêu Hổ, Tham hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tỉnh.... và đã làm lẽ vài lần.
Những mối tình của bà luôn gắn với những giai thoại lưu truyền trong dân gian và trong thơ ca. Mối tình cuối cùng của Hồ Xuân Hương là với Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Hồ Xuân Hương làm vợ lẽ Trần Phúc Hiển vào khoảng năm 1814 đến 1818, và đây có lẽ là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của bà.
Nguoi tinh cuoi trong cuoc doi Ho Xuan Huong la ai? hinh anh 1
Tranh minh họa thơ Hồ Xuân Hương của Bùi Xuân Phái. 
Trần Phúc Hiển là người đàng trong. Ông vốn con nhà thi thư, năm Gia Long thứ 2 (1803), được bổ chức Hàn lâm viện thi thư, sau đó làm Tri phủ Tam Đái thuộc trấn Sơn Tây. Đến năm Gia Long thứ 12 (1813), Trần Phúc Hiển được thăng chức Tham hiệp trấn Yên Quảng, trấn lị Yên Quảng bấy giờ đóng tại Quảng Yên, nay là thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh. Trần Phúc Hiển khi đó đã có vợ ở quê nhưng người vợ không theo chồng ra Bắc nên đã lấy lẽ Hồ Xuân Hương và đến sống ở Quảng Yên.
Trong thời gian yêu và lấy Trần Phúc Hiển, Xuân Hương đã vài lần phải tạm xa chồng, bằng chứng là có hai bài thơ Nôm trong tập Lưu Hương ký ghi lại việc này. Bài thơ vừa đề tặng và cũng để nhắc nhở đấng phu quân chớ quên tình nghĩa vợ chồng.
Bạch Đằng giang tặng biệt (Tặng bạn khi chia tay ở sông Bạch Đằng)
Khấp khểnh đường mây bước lại dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng.
Vín hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà động bóng giăng.
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt,
Lời kia này đã núi giăng giăng.
Với nhau tình nghĩa sao là trọn,
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng.
Khi chồng giữ chức Tham hiệp trấn Yên Quảng, Xuân Hương đã được chồng nhờ giúp các công việc hành chính ở công đường và nổi tiếng là một tài nữ.
Trong thời gian sống cùng chồng ở Yên Quảng, Xuân Hương đã đi thăm nhiều nơi. Trấn Yên Quảng khi đó có phủ Hải Đông gồm 3 huyện (Yên Hưng, Hải Đông, Hoành Bồ) và 3 châu (Tiên Yên, Vạn Ninh, Vân Đồn) với 16 tổng, 123 phường, phố, vạn, xóm.
Nguoi tinh cuoi trong cuoc doi Ho Xuan Huong la ai? hinh anh 2
Tranh Thi sĩ Hồ Xuân Hương của họa sĩ Phùng Dzi Thuần.
Vịnh Hạ Long - vũng Hoa Phong đã gây cho bà những ấn tượng đặc biệt, chùm thơ chữ Hán của Xuân Hương viết về vịnh Hạ Long là cảm nhận riêng về cảnh vật, con người và những hoạt động trên vùng quê sông nước.
Năm bài thơ chữ Hán đó là Độ Hoa Phong (Qua vũng Hoa Phong), Trạo ca thanh (Trỗi tiếng ca chèo), Nhãn phóng thanh (Mắt tỏa màu xanh), Thủy vân hương (Về chốn nước mây) và Hải ốc trù (Nghóng đỉnh Toan Ngoan). Cả năm bài thơ về Vịnh Hạ Long đều ghi lại những cảnh đẹp khác nhau của vùng biển và con người nơi đây. Dưới đây là bài Độ Hoa Phong (Qua vũng Hoa Phong):
Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong,
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dáng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lên nghiêng lối để duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thủy tinh cung?
(Hoàng Xuân Hãn dịch)
Nhưng ngày vui chẳng được bao lâu, năm Gia Long thứ 17 (1818), Trần Phúc Hiển bị người châu Vạn Ninh (Móng Cái) tố cáo nhận hối lộ, Phúc Hiển bị bắt giam và bị xử tử vào năm sau (1819).
Sau năm 1819, câu hỏi về cuộc đời Xuân Hương vẫn còn bỏ ngỏ. Có ý kiến cho rằng sau đó Xuân Hương đã lên núi Yên Tử viết đơn, mong giải cứu cho chồng...

Uông Triều
https://news.zing.vn/nguoi-tinh-cuoi-trong-cuoc-doi-ho-xuan-huong-la-ai-post892608.html

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Dấu ấn vàng son của cải lương chặng đường 100 năm

Dòng chảy cổ nhạc từng đạt dấu mốc huy hoàng với hàng trăm đoàn hát và nhiều tượng đài nghệ sĩ vào thập niên 1950-1960.

Năm 2017 - 2018 đánh dấu chặng đường một thế kỷ phát triển của cải lương - bộ môn nghệ thuật "đặc sản" của Việt Nam, nhất là với người dân Nam bộ. Trong khoảng 100 năm phát triển, cải lương trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Cải lương hình thành giữa phong trào canh tân đầu thế kỷ trước, phát triển hưng thịnh vào thập niên 1950 - 1960, rồi dần tụt dốc vào đầu những năm 1990.
Cải lương ra đời khi nào?
Độ chính xác về năm ra đời bộ môn nghệ truyền thống Nam bộ còn là điều gây tranh luận. Năm 1966, giới văn học Sài Gòn tổ chức chương trình Kỷ niệm 50 năm cải lương tại trường Quốc gia Âm nhạc (Nhạc viện TP HCM ngày nay), hội tụ đông đảo trí thức Sài Gòn đương thời. Điều này đồng nghĩa nhiều văn nghệ sĩ lúc đó mặc định sân khấu cải lương ra đời vào năm 1916. Tuy nhiên, theo cuốn Nghệ thuật sân khấu Việt Nam của tác giả Trần Văn Khải - xuất bản cuối năm 1970, cải lương ra đời vào năm 1917. Cố Giáo sư - Tiến sĩ Trần Văn Khê nêu cải lương chào đời năm 1918 trong luận án tiến sĩ của ông tại Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne, Pháp. Còn trong cuốn hồi ký 50 năm mê hát của học giả Vương Hồng Sển bày tỏ sự bối rối về gốc tích và thời gian khai sinh cải lương. Theo học giả, mốc thời gian này có thể dao động trong khoảng 1918 - 1919 đến năm 1922. "Cải lương là đứa con không cha nên mạnh ai muốn khai tên cha mẹ và khai năm sanh tháng đẻ làm sao cũng được", Vương Hồng Sển từng ví von. 
Thầy Năm Tú - người lập ra một trong những gánh cải lương đầu tiên ở miền Nam vào đầu thập niên 1920 và phổ biến cải lương nhờ phát hành đĩa hát. Ảnh tư liệu.
Thầy Năm Tú - người lập ra một trong những gánh cải lương đầu tiên ở miền Nam vào đầu thập niên 1920 và phổ biến cải lương nhờ phát hành đĩa hát. Ảnh tư liệu.
Cải lương là loại hình phát triển, cách tân từ bộ môn đàn ca tài tử và hát bội. Trong quyển Bước đường của cải lương (NXB Tổng hợp TP HCM, 2018), tác giả Nguyễn Tuấn Khanh cho biết, sau bảy năm tìm hiểu và đúc kết nhiều nguồn tư liệu, ông nhận thấy cải lương hình thành từ ca ra bộ (ca thay phiên) - biến thể của đờn ca tài tử. Công đầu đưa cải lương bước ra sân khấu thuộc về các văn sĩ Hồ Biểu Chánh, Đặng Thúc Liêng, theo học giả Vương Hồng Sển. Hồ Biểu Chánh khi ấy đã cùng nhiều bạn bè là các đốc phủ lập ra gánh hát dạo, lưu diễn từ Sài Gòn đến lục tỉnh miền Tây. Đặc trưng các tuồng thời kỳ này là hát nửa bội, nửa kịch, mặc xiêm y áo giáp thời xưa nhưng hát, nói suông, diễn tả một cách tân thời cho dễ nhớ, dễ nghe.
Theo sách Nghệ thuật sân khấu Nam bộ (NXB Tổng hợp TP HCM) của tác giả Thiện Mộc Lan, từ "cải lương" mang ý nghĩa là sự kết hợp của hai thể loại ca và kịch. Phần ca xuất phát từ giai đoạn cổ nhạc phát triển cao trào từ năm 1909 đến năm 1914. Phần kịch ra đời dựa trên khởi xướng của nhiều giáo sư người Pháp - nhằm đưa môn kịch nghệ sang Việt Nam phục vụ cho quân đội. Soạn giả cải lương đầu tiên - ông Trương Duy Toản, với các vở như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều, Lưu Bình Dương Lễ... - cũng là dân Tây học. Vở tuồng Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản biểu diễn tại rạp thầy Năm Tú đã được xem là một trong những vở khai sinh nghệ thuật cải lương.
Phát triển rực rỡ
Hàng loạt gánh hát ra đời chuẩn bị nền tảng cho bộ môn nghệ thuật thuở sơ khai như: gánh Thầy Thận Sa Đéc, Thầy Năm Tú, gánh hát kim thời "Đồng bào Nam" Mỹ Tho... Tiếp đó, những gánh đầu tiên của thập niên 1920 - 1930 được ra mắt như Nam Đồng bang, Phước Cương, Huỳnh Kỳ, Hồng Nhựt, Nghĩa Hiệp bang... Trong đó, hai bang Phước Cương và Trần Đắc nổi lên với các tuồng đa thể loại, từ tuồng tích của Trung Quốc, loại xã hội đến các tuồng phóng tác như Tơ vương đến thác, Giá trị và danh dự... Sang thập niên 1930 - 1940, nhiều gánh mới tiếp tục được thành lập, tạo nên bức tranh sống động, đa diện của cải lương đương thời, với các gánh hát Phi Phụng, Phụng Hảo, Thái Bình... Loạt gương mặt nghệ sĩ xuất sắc thời kỳ này như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trà Ôn... đánh dấu mốc son rực rỡ mới của cải lương.
Vở Xử án Bàng Quý Phi do các nghệ sĩ Năm Phỉ, Bảy Nhiêu... biểu diễn tại Paris năm 1931 (Ảnh: bộ sưu tập của Clemens Radauer)
Vở "Xử án Bàng Quý Phi" do các nghệ sĩ Năm Phỉ, Bảy Nhiêu... biểu diễn tại Paris năm 1931. Ảnh trong bộ sưu tập của Clemens Radauer - một nhà sưu tập người Áo.
Trải qua vài năm chững lại vì khủng hoảng kinh tế, sau năm 1945, cải lương tiếp tục đi lên với hàng loạt gánh hát như Con Tằm, Hậu Tấn Năm Nghĩa, Hậu Tấn Bảy Cao, Minh Tơ... cùng các bang được tái lập như Phụng Hảo, Sao Mai... Hai gánh hát Thanh Minh, Hoa Sen ra đời, thay thế cho hai đoàn Năm Nghĩa và Bảy Cao và đều trở thành những đoàn cải lương đại bang sau này.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Thiện Mộc Lan, từ năm 1955 đến đầu thập niên 1960, cải lương đạt mốc phát triển thịnh vượng nhất ở miền Nam. Nhiều đoàn hát trỗi dậy và tạo được tên tuổi như Kim Thanh, Kim Chung, Thanh Minh (sau đổi thành Thanh Minh - Thanh Nga), Kim Chưởng, Song Kiều, Út Bạch Lan - Thành Được, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu... Mỗi gánh hát lớn lại mạnh về một thể loại riêng. Chẳng hạn, đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân thiên về tuồng đời sống hiện đại, với cảnh vũ trường, quán bia ôm... trên sân khấu; đoàn Kim Chung của ông bầu Long chuyên về tuồng kiếm hiệp, diễm tình, đoàn Thanh Minh của bà bầu Thơ khai thác mảng tâm lý xã hội, đoàn Minh Tơ, Huỳnh Long chuộng cải lương hồ quảng...
Mỗi đoàn một vẻ, tựu trung lại thành một giai đoạn đầy màu sắc của sân khấu cải lương thời hoàng kim. Thời điểm này, cải lương có khoảng 100 đoàn hoạt động từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau, được miêu tả là giai đoạn "trăm hoa đua nở". Riêng Sài Gòn có khoảng 40 đoàn cải lương với 20 "lò" luyện cổ nhạc...
NSND Phùng Há - một trong những tên tuổi đại diện cho thời vàng son của cải lương. Ảnh tư liệu.
NSND Phùng Há - một trong những tên tuổi đại diện cho thời vàng son của cải lương. Ảnh tư liệu.
Nhiều nghệ sĩ trở thành thần tượng của giới mộ điệu, đánh dấu "thời kỳ vàng" như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Minh Phụng, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Minh Vương, Lệ Thủy, Út Bạch Lan, Thanh Sang... Các suất hát cải lương ở Sài Gòn đều đông kín khán giả đến xem. Cuộc sống các nghệ sĩ - soạn giả ngày một sung túc. Cùng đó, một giải thưởng cho lĩnh vực cổ nhạc là Thanh Tâm - lấy tên của một ký giả nổi tiếng đương thời, được tổ chức từ năm 1958 đến 1967. Người nhận giải đầu tiên là cố NSƯT Thanh Nga - cũng là nghệ sĩ được mệnh danh "nữ hoàng sân khấu" sau này. Sự phát triển của cải lương còn lấn át cả tân nhạc, khiến nhiều nghệ sĩ - tiêu biểu là Hùng Cường - chuyển lĩnh vực và đạt được nhiều thành công.
Trong một bài phỏng vấn với VnExpress, NSND Lệ Thủy miêu tả vào thời vàng son của cải lương, mỗi đêm diễn, người xem phải sắp hàng mua vé chợ đen. "Hồi xưa đi hát, khoảng 200 vé là diễn viên chê. Phải cả nghìn vé trở lên thì đêm hát mới diễn ra. Từ sáng sớm, các xe đi phát tờ bướm đông vui, rôm rả. Còn nhiều vùng quê chưa có đèn điện, phải chạy điện bình. Mỗi lần ghe hát về đến ngã tư sông, người ta kéo đến đông như ngày hội", Lệ Thủy hồi tưởng.

 Lúc này, sân khấu đón nhận hàng loạt gương mặt soạn giả được yêu thích như Điêu Huyền, Viễn Châu, Hà Triều - Hoa Phượng, kết hợp với lớp soạn giả đàn anh như Năm Châu, Trần Hữu Trang, Lê Hoài Nở... tạo nên một hệ thống kịch mục đồ sộ cho cải lương Nam bộ. Dấu ấn trong thời kỳ này là việc ra đời thể loại tân cổ giao duyên, đưa cải lương, vọng cổ lên một nấc thang mới. Người đi đầu trong những tác phẩm thể loại này là "vua vọng cổ" - NSND Viễn Châu. Nhiều bản tân cổ của ông chiếm lĩnh sân khấu, tiêu biểu là Câu chuyện đầu năm (Minh Vương - Thanh Kim Huệ), Thương về miền Trung (Thanh Tuấn), Nỗi buồn hoa phượng (Minh Phụng - Hương Lan), Trương Chi - Mỵ Nương (Mỹ Châu - Thanh Tuấn)...
Cuối thập niên 1960, sự xâm lấn của phim ảnh Mỹ, Hong Kong, Ấn Độ... khiến công chúng không còn đoái hoài nhiều đến cải lương. Tại Sài Gòn, nhiều gánh gượng gạo hoạt động để cầm hơi. Cuối năm 1972, đại bang Bạch Tuyết - Hùng Cường ra đời, hoạt động chưa đầy một năm thì giải tán. Tuy nhiên, giai đoạn này, cải lương được miêu tả chỉ "chết lâm sàng".
Bước sang thập niên 1980, với sự góp mặt của loạt tên tuổi mới, cải lương trỗi dậy. Lúc này, đoàn cải lương Nam Bộ - tiền thân của Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang hiện tại - từ Bắc trở về Nam, thổi luồng gió mới vào sân khấu đương đại với lối dàn dựng, diễn xuất sáng tạo, mới mẻ từ phương Bắc. Cải lương sống dậy với nhiều nghệ sĩ được hâm mộ qua tài ca hay, diễn giỏi, tiêu biểu như Thanh Thanh Tâm, Vũ Linh, Tài Linh, Phương Hồng Thủy, Ngọc Huyền, Linh Tâm, Kim Tử Long, Thoại Mỹ, Tô Châu...
Ngọc Huyền, Kim Tử Long trong "Xử án Phi Giao" năm 2000
 
 
Ngọc Huyền, Kim Tử Long trong "Xử án Phi Giao" - tuồng ăn khách đầu thập niên 1990 (bản dựng năm 2000).
Các tác phẩm như Đời cô Lựu, Tấm lòng của biển... được phục dựng và chỉnh sửa, đi kèm với những kịch mục mới, phản ánh sát sao đời sống lúc bấy giờ như Tìm lại cuộc đời, Ánh lửa giữa rừng khuya, Cây sầu riêng trổ bông... Chặng đường huy hoàng của cải lương kết thúc vào cuối thập niên 1980, đánh dấu khoảng 30 năm đỉnh cao của cổ nhạc, trước khi dần bị xâm chiếm bởi nhiều loại hình giải trí khác vào đầu thập niên 1990.
Kỳ sau: Sân khấu cải lương dần xuống dốc ba thập kỷ qua
Mai Nhật
https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/san-khau-my-thuat/dau-an-vang-son-cua-cai-luong-chang-duong-100-nam-3815310.html

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Tiếu ngạo giang hồ

Những năm 90, xóm tôi chỉ có duy nhất một nhà có đầu video, nơi lũ trẻ con hay trốn ba mẹ ngồi xem những Anh hùng xạ điêu hay Hiệp khách hành. Những hàng rào bằng nứa ở xóm cũng phải thay liên tục, bởi lũ trẻ con nghịch dại thường ăn trộm để luyện Độc cô cửu kiếm và Tịch tà kiếm phổ.
Có lẽ ít ai thuộc thế hệ tôi mà không dính vài trận giao đấu sứt sẹo tay chân bởi muốn biến thành “võ lâm minh chủ” như trong phim chưởng. Bây giờ nhớ lại những năm tháng đó, trong đầu tôi vẫn hiện lên những mảng màu sắc sặc sỡ, nhòe nhoẹt vì chất lượng thấp, những đoạn băng nhiễu sóng, và giọng lồng tiếng miền Nam nhả từng chữ rành rọt.
Tôi chỉ biết đó là những câu chuyện nguyên tác từ Kim Dung khi lớn hơn một chút, biết dành mấy trăm đồng ăn sáng để thuê truyện kiếm hiệp. Thế giới mơ mộng của những giang hồ nghĩa hiệp, lãng tử không biết hồi đầu, những giai nhân tuyệt sắc, bang hội đầy mưu mô, với biết bao câu chuyện kì bí dễ dàng hấp dẫn những đứa trẻ mới lớn mơ mộng giải cứu thế giới. Với người lớn, trong một thực tại đầy khó nhọc và vất vả mưu sinh, thế giới của Kim Dung gần như đưa ra một sự giải thoát. 
Nhưng “sự giải thoát” đó không đồng nghĩa với phi thực tế. Không phải ngẫu nhiên mà những Tiếu ngạo giang hồ hay Thiên Long bát bộ thu hút được đông đảo thế hệ độc giả đến từ mọi độ tuổi. Có thể chính độc giả không nhận thấy: ẩn chứa trong những tác phẩm của ông không chỉ là các màn luyện chưởng võ biền, mà là thông điệp về cuộc sống, xã hội, nhân sinh. Bằng những hình ảnh các vị anh hùng, độc giả “cảm” được những ý niệm xã hội của Kim Dung, trước khi biết gọi tên chúng.
Thập kỷ 70, giữa giai đoạn Trung Quốc đang trải qua Cách mạng văn hóa, Kim Dung đứng ra và nói thẳng rằng các tác phẩm của ông tấn công chủ nghĩa sùng bái cá nhân. Thật vậy, những nhân vật nào được tôn lên mây xanh làm “võ lâm minh chủ” như Đông Phương Bất bại hay Nhạc Bất Quần rốt cuộc là những kẻ “lòng lang dạ sói”, đầy mưu mô hiểm độc. Đi cùng với đó tất yếu là sự phê phán quyền lực tuyệt đối, không từ thủ đoạn để thành công: cả Đông Phương Bất bại và Nhạc Bất Quần đều “tự cung” để luyện Quỳ hoa bảo điển và Tịch tà kiếm phổ, lên đến đỉnh cao của thiên hạ, rồi cùng có kết cục bi thảm.
Trong bài phỏng vấn, có lẽ là cuối cùng, của ông với New Yorker vào tháng 4 vừa rồi, Kim Dung còn khẳng định Hồng giáo chủ và Thần Long giáo - một giáo phái cuồng tín trong Lộc Đỉnh ký - là phép hoán dụ của ông với các phái chính trị trong giai đoạn đó.
Tác giả của những câu chuyện kiếm hiệp, nơi mà trong mắt nhiều độc giả khó tính, chỉ biết uống rượu, lang bạt, múa kiếm và tung chưởng, năm 1967 từng phải trốn sang Singapore khi bị liệt vào danh sách ám sát của một nhóm cực tả tại Hong Kong.
Những câu chuyện của ông còn là sự lựa chọn khó khăn giữa chính và tà, giữa lòng yêu nước và lợi ích của bản thân, giữa thuận theo cường quyền hay đi theo tiếng gọi của lương tri: Quách Tĩnh - một nhân vật người Hán sinh ra ở Mông Cổ - phải lựa chọn đi theo sức mạnh không thể cưỡng nổi của Thành Cát Tư Hãn hoặc đứng về phía dân tộc mình, hay Kiều Phong - một người Khiết Đan nhưng trưởng thành ở Trung Nguyên - nghe theo lệnh nhà vua hay đứng về phía anh em thân hữu của mình.
Những hình tượng đó là to tát, nhưng nếu quán chiếu lại, nó có thể đúng cho không chỉ là nhà nước, mà còn là với những cộng đồng nhỏ hơn ở các mức độ khác nhau. Những lựa chọn chính nghĩa, như trong truyện Kim Dung, nhiều khả năng mang lại thiệt thòi. Kiều Phong tự sát ở Nhạn Môn Quan, Quách Tĩnh - thay vì trở thành một ông vua dưới trướng Đại Hãn - phải chống lại kẻ chinh phục vĩ đại nhất. Với chủ nghĩa lãng mạn của mình, Kim Dung không cho phép các nhân vật chính, những người vô cùng lương thiện và có tâm hồn trong sáng, chịu đựng suốt đời.
Lớn lên, nhìn ra xã hội, soi chiếu tinh thần ấy vào những cuộc đấu tranh trong xã hội, tôi kịp nhận ra rằng duy trì tinh thần của Kim Dung khó khăn vô cùng; những anh hùng bảo vệ thành Tương Dương hiếm hoi ra sao; những Nhạc Bất Quần và Đông Phương Bất Bại dễ xuất hiện đến thế nào. Và chính lúc đó, tôi hiểu rằng việc nuôi dưỡng niềm tin trong sáng vào chính nghĩa, qua những tác phẩm chân phương in trong giấy màu nâu đã mủn năm xưa, quan trọng với đời người.
Trong “giang hồ” của Kim Dung, hay là trong xã hội thực của những mưu cầu chính trị và lợi ích, tác giả ấy đã tìm được cách truyền tải rất bình dị đến cho nhiều tầng lớp, về niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi sau cùng của chính nghĩa và lương tri.
Những đứa trẻ chúng tôi, đã rút trộm hàng rào để đuổi theo những ý niệm ấy, từ trước khi biết chúng thực sự là gì. Kim Dung nuôi dưỡng các thế hệ người đọc bằng việc thắp sáng hy vọng, rằng cứ sống tử tế, không vụ lợi, thì cuối cùng bạn sẽ được đền đáp. Mọi xã hội đều cần có niềm tin và hy vọng vào điều thiện, và có lẽ vì thế di sản của Kim Dung sẽ còn rất lớn dù ông đã đi về thế giới của riêng mình.
Nguyễn Khắc Giang
https://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/tieu-ngao-giang-ho

Nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhà văn Kim Dung qua đời ở tuổi 94 tại Bệnh viện Hong Kong sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh tật.

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung (phồn thể: 查良鏞, giản thể: 查良镛, bính âm: Cha Leung Yung), sinh vào ngày 6 tháng 2 năm 1924 tại trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, địa cấp thị Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, trong một gia tộc khoa bảng danh giá. . Ông nội là Tra Văn Thanh làm tri huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô. Tra Văn Thanh về sau từ chức, đến đời con là Tra Xu Khanh bắt đầu sa sút; Tra Xu Khanh theo nghề buôn, sau sinh 9 đứa con, Kim Dung là con thứ hai.


KimDung
nhà văn Kim Dung (Hình: Ngôi Sao)


Thuở nhỏ Kim Dung thông minh, lanh lợi, nghịch nhưng không đến nỗi quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền thuyết, nhất là về những ngọn triều trên sông Tiền Đường. Đặc biệt ông rất mê đọc sách. Dòng họ Kim Dung có một nhà để sách gọi là "Tra thị tàng thư" nổi tiếng khắp vùng Chiết Tây, chứa rất nhiều sách cổ, những cuốn sách này làm bạn với ông từ rất bé.

Sáu tuổi, ông vào học tiểu học ở quê Hải Ninh. Ông rất chăm học, lại thêm mê đọc sách nên trở thành một học sinh giỏi của lớp. Thầy dạy văn cho ông lúc bé tên Trần Vị Đông, là người rất thương yêu và tin tưởng Kim Dung, đă cùng ông biên tập tờ báo lớp. Một số bài làm văn của Kim Dung, nhờ sự giới thiệu của thầy Đông đă được đăng lên Đông Nam nhật báo, tờ báo nổi tiếng nhất Trung Quốc bấy giờ.

Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này.

Năm 13 tuổi, xảy ra sự biến Lư Câu Kiều, Kim Dung được gửi đến học trường trung học Gia Hưng ở phía Đông tỉnh Chiết Giang. Tuy xa nhà nhưng cuộc sống của ông cũng không khác mấy, ngoài đi học vẫn chúi đầu đọc sách, và vẫn đứng đầu lớp. Một hôm nhân dịp về thăm nhà, ông khoe gia đình cuốn sách Dành cho người thi vào sơ trung, một cuốn cẩm nang luyện thi, có thể coi là cuốn sách đầu tiên của ông, viết năm 15 tuổi và được nhà sách chính quy xuất bản. Đến khi lên bậc Cao trung, Kim Dung lại soạn Hướng dẫn thi vào cao trung. Hai cuốn sách in ra bán rất chạy, đem lại cho ông khoảng nhuận bút hậu hĩnh.

Năm 16 tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice có ý châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo, người này tức giận, liền ép hiệu trưởng phải đuổi học ông. Cuộc du hành của Alice tuy đem lại tai hại, nhưng đã cho thấy tài tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, mà sau này thể hiện rất rõ trên các tác phẩm. Ông lại chuyển đến học trường Cù Châu. Tại trường này có những quy định rất bất công với học trò, học sinh không được quyền phê bình thầy giáo, nhưng thầy giáo có quyền lăng nhục học sinh. Năm thứ hai tại trường, ông viết bài Một sự ngông cuồng trẻ con đăng lên Đông Nam nhật báo. Bài báo làm chấn động dư luận trong trường, được giới học sinh tranh nhau đọc. Ban giám hiệu trường Cù Châu đành phải bãi bỏ những quy định nọ. Không những vậy, một ký giả của Đông Nam nhật báo là Trần Hướng Bình do hâm mộ tác giả bài báo, đã lặn lội tìm đến trường học để thỉnh giáo, mà không biết tác giả chỉ là một học sinh.

Năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, trường Cù Châu phải di dời, ban giám hiệu quyết định cho học sinh lớp cuối tốt nghiệp sớm để bớt đi gánh nặng. Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh. Thi đậu, nhưng để đến được trường phải trải qua nhiều ngày đi bộ.

Tại học viện chính trị Trung ương, Kim Dung vẫn học rất giỏi, cuối năm nhất ông được tặng phần thưởng cho sinh viên xuất sắc nhất. Thời kỳ này, ông ngoài tham gia viết bình luận chính trị trên các báo, còn bắt tay vào làm cuốn Anh - Hán tự điển và dịch một phần Kinh Thi sang tiếng Anh, hai công trình này về sau dở dang. Ông học lên năm thứ ba thì tại trường bắt đầu nổi lên các cuộc bạo loạn chính trị. Có lần viết thư tố cáo một vụ bê bối trong trường, Kim Dung lần thứ hai trong đời bị đuổi học, năm 19 tuổi.

Sau ông xin làm việc tại Thư viện trung ương. Ở chung với sách, tri thức nâng cao lên rất nhiều. Ngoài đọc sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời, ông còn đọc những cuốn như Ivanhoe của Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas (cha), những truyện này đã ảnh hưởng đến văn phong của ông. Tại đây ông bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Ông cũng sáng lập ra một tờ báo lấy tên Thái Bình dương tạp chí, nhưng chỉ ra được một số đầu, số thứ 2 nhà xuất bản không chịu in, tờ báo đầu tiên của ông xem như thất bại.

Năm 1944, ông đến làm việc cho một nông trường ở Tương Tây. Nơi này rất tịch mịch hẻo lánh, đến năm 1946, không chịu nổi ông xin thôi việc, người chủ nông trường không cản được, tiễn ông bằng một bữa thịnh soạn. Mùa hạ năm đó, ông về lại quê cũ ở Hải Ninh, cha mẹ nghe tin ông bị đuổi học, rất buồn. Điều ấy khiến ông quyết tâm ra đi lập nghiệp.

Năm 1946 từ biệt gia đình, ông về Hàng Châu làm phóng viên cho tờ Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người ngày xưa đã tìm đến trường ông. Ông làm việc rất tốt, tỏ ra có tài thiên phú về viết báo. Năm sau, theo lời mời của tạp chí Thời dữ triều, ông thôi việc ở Đông Nam nhật báo, sang Thượng Hải tiếp tục nghề viết hay dịch thuật từ máy Radio. Chẳng bao lâu ông lại rời toà soạn Thời dữ triều, xin vào làm phiên dịch của tờ Đại công báo. Lúc này anh trai của Kim Dung là Tra Lương Giám đang làm giáo sư ở học viện Pháp lý thuộc đại học Đông Ngô gần đó, ông liền xin vào học tiếp về luật quốc tế.

Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang làm việc ở đó, dịch tin quốc tế. Trước khi ra đi vài ngày, ông chạy đến nhà họ Đỗ để ngỏ lời cầu hôn cô con gái 18 tuổi, được chấp nhận. Hôn lễ tổ chức trang trọng tại Thượng Hải, người vợ đầu tiên Đỗ Trị Phân của ông rất xinh đẹp.

Năm 1950, trong cuộc Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, gia đình ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với gia đình. Trong lúc này, vợ ông không chịu nổi cuộc sống ở Hồng Kông, trở về gia đình bên mẹ, không chịu về nhà chồng nữa. Năm 1951 họ quyết định ly hôn.

Năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân văn báo, phụ trách mục Chuyện trà buổi chiều, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của mình hơn, ông rất thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn viết phê bình điện ảnh. Từ đó dần đi sâu vào lĩnh vực này. Từ 1953, rời Tân Văn báo, bắt tay vào viết một số kịch bản phim như Lan hoa hoa, Tuyệt đại giai nhân, Tam luyến… dưới bút danh Lâm Hoan. Những kịch bản này dựng lên được các diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ như Hạ Mộng, Thạch Tuệ, Trần Tứ Tứ… diễn xuất. Được nhiều thành công đáng kể.

Từ khi mới vào làm cho Tân Văn Báo, ông quen thân với La Phù và Lương Vũ Sinh. Đến năm 1955, được hai người ủng hộ và giúp đỡ, ông viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục, đăng hàng ngày trên Hương Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Hai chữ "Kim Dung" 金庸 là chiết tự từ chữ "Dung" 鏞, tên thật của ông, nghĩa là "cái chuông lớn". Thư kiếm ân cừu lục ra đời, tên Kim Dung được chú ý đến, dần dần, ông cùng Lương Vũ Sinh được xem như hai người khai tông ra Tân phái của tiểu thuyết võ hiệp. Ông viết tiếp bộ Bích huyết kiếm được hoan nghênh nhiệt liệt, từ đó chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm báo, không hoạt động điện ảnh nữa.

Năm 1959, cùng với bạn học phổ thông Trầm Bảo Tân, ông lập ra Minh Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết các bài xă luận. Qua những bài xă luận của ông, Minh Báo càng ngày được biết đến và là một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất. Không như một số tờ báo do ông sáng lập khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.

Năm 1972 sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng, ông đă chính thức nghỉ hưu và dành những năm sau đó biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm văn học của mình. Lần hoàn chỉnh đầu tiên là vào năm 1979. Lúc đó, các tiểu thuyết võ hiệp của ông đă được nhiều độc giả biết điến. Các tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình. Năm sau, ông tham gia giới chính trị Hồng Kông. Ông là thành viên của ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị giám sát sự chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.

Vào tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trưởng của mình, Kim Dung đã quyết định tìm hiểu nhiều vào các triết lý của tôn giáo. Kết quả là ông tự mình quy y Phật giáo hai năm sau đó.

Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.

Năm 2006, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiê

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

THƠ SƯU TẬP THANH TÂM TUYỀN




THƠ SƯU TẬP
THANH TÂM TUYỀN
(1936-2006)


TTT 9


TẠI SAO ANH LÀM THƠ
Bài Tựa Tập Thơ Vào Đời của nhà thơ Trần Thanh Hiệp
Sáng Tạo xuất bản,1966.

Tại sao làm thơ?  Tại sao làm thơ lúc này? Tại sao anh làm thơ không làm gì khác?... Phải không anh những tự vấn, tự khảo miên man úp chụp xuống đầu không gỡ thoát, mỗi khi thấp thoáng tiếng đập cánh cửa của một loài chim muốn bay lên?   Loài chim nào đó?  Của hoàng hôn hay của đêm khuya?  Đã lâu rồi chúng ta chẳng còn tin thơ là nhịp động phiêu mù của con tim, con tim rãy rụa vì ghi nhận cảm xúc của chấn động ngoại giới lan truyền.  Con tim đã ốm yếu chỉ biết lắng nghe rồi than thở con tim rách rưới nghèo nàn vì lãng mạn bán rao những tuyệt vọng chán chường.  Đã lâu rồi phải không anh?  Thơ là mở cho nhìn thấy, nói như một nhà thơ hiện đại.  Trong đời người rối mù hỗn độn, tan nát và điên khùng che khuất mọi viễn tượng, trong lịch sử khắc nghiệt, tàn nhẫn quay cuồng như cửa ngỏ hư vô, mở cho nhìn thấy những thực tại còn lánh mặt, bi chôn vùi, những điều khả hữu của đời người của lịch sử.  Mở và nhìn thấy là tác động của trí tuệ – một trí tuệ tiến về mọi chiều đến tận cùng các giới hạn, một trí tuệ tự tạo tự do và muốn thực tại cũng tự do.

 Thơ chính là trí tuệ thiên nhiên lang thang kiếm tìm sự thật và hủy diệt sự thật – trí tuệ nảy sinh từ thực tại chia lìa, muốn đi thoát ôm theo thực tại vào vùng trời nào, nhưng chúng ta, chúng ta nhìn thấy được gì phải nhìn thấy được gì không?  Hay bị dìm ngập trong hồi tưởng sót xa trong huyễn ảnh thảng thốt?  Trí tuệ chúng ta có đủ sức thành hình hay bị trói liệt trong cảnh ngộ?  sa đọa vào vũng lầy ngôn từ – ôi những ý niệm giáo điều, hệ thống mòn mỏi, những bộ mặt lem luốc của thực tại – trong giả trá kỹ thuật – như tên hề đùa rỡn bằng cung cách buồn bã – quỵ lụy hèn mọn, phô bầy như một sản phẩm dư thừa?  Phải chăng trí tuệ của chúng ta đã chỉ còn là trí nhớ ray rứt về cuộc hành trình không thực hiện nổi – trí nhớ bi thảm đui mù - ? Và, thơ của chúng ta như con chim cất cánh bay cao trong đêm giá cô đơn tìm về mặt trời hay chỉ là con chim đã sập bẫy kêu những tiếng mê sảng?

Tại sao anh làm thơ không làm gì khác?  Tại sao anh làm thơ lúc này?  Tại sao làm thơ?
(10-1966)

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

Nhà văn Kim Thúy ‘nhìn chữ là thấy thương’



 Nhà văn Kim Thúy tại Festival America, tháng 9, 2010. (Hình: Camille Gévaudan)


“Không có. Không có.” Kim Thúy cười lớn, khẳng định “không có” chuyện cô sẽ đoạt Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương (the New Prize in Literature), được mệnh danh “giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương 2018.”
Giải thưởng mới “tính theo số người bỏ phiếu.” Kim Thúy nói với VOA, cô ngạc nhiên, và độc giả của cô cũng ngạc nhiên, về việc cô có tên trong số 47 tác giả được đưa ra cho công chúng bình chọn.
“Chẳng hạn, trong 47 người đó, có nhà văn Rowling. Chỉ cần 0.01% độc giả của Rowling bỏ phiếu, thì tôi đã không có tên trong số 4 người [vào vòng trong].” Rồi cô cười lớn, “chắc Rowling không để ý.”
Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định hoãn công bố giải Nobel Văn Chương 2018 do các điều tiếng về scandal liên quan đến giám khảo của giải thưởng danh giá này. Vì lý do ấy, các quản thủ thư viện Thụy Điển cùng thành viên trong cộng đồng văn hóa và nghệ thuật quyết định lập ra một giải thưởng khác, chỉ trong năm nay, để lấp vào khoảng trống của Nobel Văn Chương.
Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy.
Nhà Văn Kim Thúy
Văn bản nói về lý do ra đời của Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương có đoạn: “Trong thời điểm mà giá trị nhân văn ngày càng bị thách thức, thì văn chương trở thành lực đối kháng với sự đàn áp và thái độ vô cảm. Bây giờ là thời điểm quan trọng hơn bao giờ hết giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới phải được trao tặng.”
Các thành viên trong ban tổ chức Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương chọn ra danh sách 47 nhà văn trên toàn thế giới, rồi để công chúng bình chọn. Bốn người có số phiếu cao nhất sẽ được xét chọn bởi ban giám khảo, gồm giáo sư văn chương Lisbeth Larsson, nhà báo kiêm thủ thư Marianne Steinsaphir, nhà phê bình kiêm chủ bút Peter Stenson, và giám đốc thư viện, Gunilla Sandin.
Trả lời tờ báo National Post, Kim Thúy cũng nói xác suất để mình thắng giải thưởng này là “dưới zero phần trăm.” Cô nói về 3 nhà văn trong danh sách được bình chọn (Maryse Condé - the Guadeloupe và Pháp, Haruki Murakami - Nhật Bản; và Neil Gaiman - Anh): “Họ là những biểu tượng văn hóa – những nhà văn dày dạn kinh nghiệm – trong khi tôi chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.”
Rồi cô nói đùa: “Có thể gia đình tôi hơi đông người!”
Kim Thúy thật lòng không tin mình sẽ thắng giải, và cô bông đùa thoải mái về giả thuyết sẽ trở thành “khôi nguyên giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương.”
Thế nhưng, con đường đi vào văn chương của tác giả các tác phẩm có tựa đề độc đáo, “Ru,” “Vi,” “Man,” lại mang đậm sự ray rứt về thân phân con người di dân, tị nạn, và lòng yêu mến đến sâu thẳm giá trị văn hóa Việt Nam.
“Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy. Khi tôi tìm đến tiếng Pháp thì chữ “ru” trong tiếng Pháp rất dài. Ru con ngủ là một cái gì rất là dài, thế mà “ru” chỉ là một chữ thôi. Thành ra tôi thấy nó hay quá đi, và thấy mình phải chia sẻ.” Kim Thúy nói với VOA.
Cách “chia sẻ” của Kim Thúy cũng rất lạ: Cô muốn, qua mỗi tác phẩm của mình, độc giả ngoại quốc lại được học thêm một vài chữ tiếng Việt. Và sự chia sẻ ấy bắt đầu ngay từ tựa đề của sách.
“Chỉ một “sound” đã có ý nghĩa rồi. Chữ “Man,” tức là “Mãn”, đẹp thế nào. Mãn, là mãn nguyện. Nhìn chữ là thấy thương. Hay “ru,” tiếng Pháp cũng có ý nghĩa. “Man,” tiếng Anh cũng có nghĩa. “Vi,” cũng gần như “C’est la Vie” trong tiếng Pháp. Lúc nào cũng có ý nghĩa của 2, 3 ngôn ngữ. Nhưng lúc nào cũng muốn có tiếng Việt Nam. Tôi muốn độc giả thấy chữ viết của tiếng Việt mình. Tức là độc giả của tôi bây giờ biết ít nhất là một chữ tiếng Việt. Còn trong tác phẩm “Man,” gần như mỗi trang đều có một chữ tiếng Việt, để người ta thấy tiếng Việt mình có dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng…”
“Ru”, xuất bản cách đây gần 10 năm, là một trong những tác phẩm thành công nhất của Kim Thúy. Tác phẩm, được viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang 27 ngôn ngữ, gần đây nhất là dịch sang tiếng Ukraine.
Nhưng Kim Thúy “thấy buồn” khi “Ru” đến nay vẫn còn “ăn khách.”
“Có nhiều nước mua và dịch Ru ra tiếng của họ, bây giờ vẫn còn, thành ra tôi thấy Ru cứ còn mới như là một em bé. Nhưng rất buồn là còn phải dùng chữ di dân, tị nạn trong tác phẩm, chỉ mong là một ngày nào không cần dùng chữ này nữa thôi. Nhưng mà rồi chiến tranh hết ở đây rồi ở kia. Thành ra ở phương diện ấy, nếu cuốn sách này còn mới hoài, còn nói về vấn đề của hiện tại bây giờ… Tôi mong là một ngày nào đó, cuốn sách này chỉ nói về một chuyện rất xa xưa trong quá khứ, không ăn nhập gì với thời hiện tại.”
Mặc dầu đã có mặt tại 27 quốc gia khác nhau, "Ru" vẫn chưa xuất hiện tại Việt Nam. Kim Thúy nói có lẽ vì Ru nói về chuyện vượt biển, là chuyện vẫn còn "khó nói" ở trong nước. Và cô cho rằng mình có thể "đợi một tý."
Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ.
Nhà Văn Kim Thúy
Kim Thúy vượt biên năm 1978, lúc mới 10 tuổi, rồi sang định cư tại Canada. Cô tốt nghiệp ngành Luật, đến năm 1998 thì về Việt Nam làm việc 4 năm. Đối với cô, 4 năm này là cơ hội để cô học lại văn hóa Việt Nam, là văn hóa mà cô tưởng mình “đã hiểu”.
“Thật ra thì tôi thấy tôi nhầm cơ. Tưởng là hiểu Việt Nam, mà thật ra trở lại Việt Nam sau 20 năm thì Việt Nam trở thành một xứ khác rồi. Mà ở đâu cũng vậy, luôn luôn có sự thay đổi. Tôi sanh ở Sài Gòn mà khi trở về làm việc là làm ở Hà Nội, lại là một xứ mới (cười lớn). Và như vậy phải học trở lại, và nhờ học trở lại tôi tìm ra cái đẹp đặc sắc của Việt Nam mình. Nếu không trở lại Việt Nam trong 4 năm đó, tôi không nghĩ có thể viết được; sẽ không thể biết làm sao để trân quý vẻ đẹp riêng của Việt Nam. Thành ra nhờ 4 năm ấy, trở về một nơi mình nghĩ mình biết, mà mình không biết, đó là một sự học hỏi phải làm lại từ đầu.”
Kim Thúy luôn khẳng định, rằng cô không chọn văn chương, mà văn chương chọn cô, từ một sự tình cờ nằm ở những đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư đường tại Montreal.
“Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ. Mà tôi thích quá nên hay tìm những cái đèn đỏ lâu nhất, dài nhất ở Montreal để đi. Nhiều khi đi thành một vòng để tìm đèn đỏ dài thiệt dài để mình có thể viết tí xíu.”
“Lúc đầu cũng định thử [viết] một tháng thôi, và vì mình xuất thân là di dân, tị nạn. Rồi một tháng thành hai tháng, rồi năm tháng, rồi một năm, rồi thành một cuốn sách. Và cũng không nghĩ cuốn sách được nhiều người đọc như thế. Bây giờ nếu có ai mời nói về vấn đề di dân thì em cám ơn, vì có cơ hội nói cho những người đó; vì ít khi mình đưa microphone cho một người di dân, một người tị nạn nói. Thành ra, nếu tôi có cơ hội được đứng lên nói cho những người không có cơ hội, những người vượt biển mất tích hoặc chết ở biển, thì tôi nghĩ tôi có trách nhiệm nói giúp cho họ. Và hễ có cơ hội thì cứ nói, nhất là bây giờ có nhiều vấn đề về di dân.”
The CBC, hãng tin Canada, 47 nhà văn được chọn có nhiều lối viết và thể loại khác nhau, từ nhà văn hư cấu nổi tiếng Haruki Murakami, Cormac McCarthy, Don DeLillo, Zadie Smith và Elena Ferrante, đến các nhà văn viết cho thiếu nhi, như J.K. Rowling và Meg Rosoff, hay nhạc sĩ Patti Smith và nhà văn châm biếm giả tưởng nổi tiếng Neil Gaiman.
Trong khi ấy, Kim Thúy, nhà văn Canada gốc Việt, thì cho rằng mình được chọn chỉ vì nói đúng chuyện vào “đúng lúc, đúng thời.”
“Cuốn sách Ru là do một người bạn của Kim Thúy cầm mang đến một nhà xuất bản chứ bản thân tôi không có liếm tem, bỏ vào bao thơ để gởi. Thế rồi cuốn sách được chấp nhận rất nhanh. Thành ra cuốn sách này là ai chọn tôi chứ cá nhân chỉ là người gởi thông điệp.”
Và vai trò “gởi thông điệp,” theo Kim Thúy, chỉ có tính giai đoạn: “Rồi năm năm sau, vai trò đó lại trao cho người khác rồi tôi đi làm chuyện khác (cười lớn). Người Việt Nam mình hay nói “đúng lúc, đúng thời”, thì tôi chỉ nói cuốn Ru là đúng lúc, đúng thời.”
Lịch sử dân tộc là một cuốn sách dày, và Kim Thúy chỉ e rằng, một trang trong cuốn sách lịch sử ấy sẽ mất đi, hay bị bỏ trống, chỉ vì những chứng nhân của giai đoạn ấy không kịp viết lại những điều đã xảy ra. Viết, và viết đúng sự thật đã xảy ra, là thông điệp mà cô muốn gởi đến độc giả gốc Việt của mình: “Quan trọng là tất cả chúng ta đều viết, không chỉ văn sĩ mới viết. Những gì chúng ta viết là để lại cho thế hệ mới, giống như dây curoa, luôn tiếp tục vận hành. Mình là con cháu của ông bà mình, chứ không chỉ là mình, thành ra, tôi mong lúc nào cũng viết để để lại. Bởi vì “trang” ấy, không có sách lịch sử nào viết lại cả.”
Và mọi câu chuyện của từng người Việt Nam đã sống qua một giai đoạn nào đó, được cho vào một chiếc hộp, để các thế hệ sau có thể trở vô để đọc, từng câu chuyện một.

 https://www.voatiengviet.com/a/kim-thuy-nha-van-nobel-van-chuong-2018/4577080.html