Thứ Ba, ngày 23 tháng 8 năm 2016

http://baotreonline.com/tu-hoai-tan/

Từ Hoài Tấn

 
Nhà thơ Từ Hoài Tấn sinh tại Huế, hiện sống tại Sài Gòn. Blog: http://tuhoaitan.blogspot.com/ . Sáng tác từ 1964. Thơ văn đã xuất hiện từ những năm 1960, 1970 trên các tạp chí Văn Nghệ tại Sài Gòn và một số diễn đàn mạng sau 1975. Mười lăm năm giang hồ vùng sông nước và bưng biền của vùng Ðức Hòa Ðức Huệ Tỉnh Long An trước khi định cư cùng gia đinh tại Sài Gòn năm 1994.
Tác phẩm đã xuất bản: Hành tinh phiêu lạc (thơ 2003 – NXB Thuận Hóa); Tự tình với Huế (In chung – NXB Trẻ 2004); 1000 Nhà thơ Huế đương thời (In chung – NXB Hội Nhà Văn 2006); 700 năm thơ Huế (In chung – NXB Thuận Hóa 2006); Những dòng sông đêm (in chung cùng Viêm Tịnh, Nguyễn Miên Thảo, Lê Ngọc Thuận  – NXB Thuận Hóa 2007); Bông và Giấy  – 30 tác giả hôm nay (In chung – NXB Lao Ðộng 2010); ÐI, ÐỨNG VÀ CHẠY … VỚI THỜI GIAN  (thơ – NXB Hội Nhà Văn 2012); PHỤC HƯNG TÔI & EM (thơ – NXB Hội Nhà Văn 2013); MẤY KHÚC ÐOẠN GIANG HỒ (Thơ lục bát – Cuồng Biển thực hiện 2016).
Thơ của Từ Hoài Tấn dung dị mà lắng đọng, hình ảnh và tiết tấu thật đẹp. Có những khổ thơ được sử dụng điệp ngữ tạo hiệu ứng ray rứt, khắc khoải. Ông có ý tưởng thâm trầm, tra vấn thời gian. Phần lớn thơ ông là thơ tình, thấp thoáng tâm tình và bối cảnh đời sống thị dân. Thận Nhiên.
tu-hoai-tan
Khi mùa mưa bắt đầu

Cơn mưa đi qua ánh sáng của ngày
Khúc hát ru chiều sẩm tối
Người thanh niên đứng trong ngõ hẻm cụt nói rằng
Môi hôn trên cây và nụ cười trên gió

Cuối tháng này có một cuộc dạo chơi
Của hai người không hẹn gặp
Những cây vẫn đứng trên đỉnh đồi
Mùa hạ hanh nồng nỗi mong đợi ai đó

Tại sao không là em những ngày ngồi cùng nhau dưới mái hiên quán vỉa hè
Là những cuộc trò chuyện mùa thu êm dịu
Gió và nắng – đi và đứng – bên ngày dài
Không bắt đầu và không kết thúc

Tại sao không là ta có không ngày và đêm của tháng và năm
Ði quẩn quanh bên bờ vực của hồi ức
Ở đó có không mùi ánh sáng của vị giác bốc hơi
Một thời tuổi trẻ không có gì đáng nhớ

Em thân yêu – những giọt nước trong veo hứng vào lòng bàn tay
Chiều không xanh trên đại lộ
Chiều thẳng tắp hai hàng me cao tuổi bên đường
Chiều môi hôn hờ hững cuộc tình thấy lạ

Ta cùng em – đứng bên lề năm tháng nghĩ ngợi gì
Ðôi con mắt dõi theo một khoảng xanh trong chiều xám
Còn lại âm hưởng xa vẳng bài tình ca
Khi mùa mưa bắt đầu trở lại

Sài Gòn, mùa Xuân

năm tháng sẽ làm đẹp cho mùa màng
những ngày đông sắp hết
hoa lá trở lại
mới tinh khôi
như tình em
vừa được tân trang lại
ấy là nụ hôn vào buổi sáng gặp nhau ở một lề đường vắng
(không thể hôn nhau giữa chốn đông người)

có một vài chiếc lá không muốn rời đi
vẫn đu đưa bài hát muộn màng với gió
tôi sẽ về đâu sẽ về đâu
hoá vàng bay hoá vàng bay
vực thẳm đời tan nát

có một vài búp hoa nghẹn nở
vẫn nuối thời sơ sinh
tôi không muốn đâu không muốn đâu
là một sớm rực rỡ
để rồi đêm tăm tối tàn phai

có một tấm lòng ước vọng trinh nguyên
như tuổi xanh như chồi biếc
tôi sẽ không dậy lớn với thời gian
sẽ không thành lá xanh trên ngọn
để cuối con đường vật vã biệt tăm

có một vài ngày trong một tháng
một vài tháng trong một năm
là mùa Xuân
ở lại cùng cỏ cây hoa lá
cùng sự bất diệt
của niềm vui

những ngày tháng chạp

cơn gió lắt lay
ngày se se hơi thở của mùa màng cuối năm
đi trên đường hay ghé vào vỉa hè
tìm hơi ấm nóng của ly cà-phê đầu ngày
nghĩ ngợi gì đó

cuối năm lỡ một cuộc hẹn về
những năm tuổi trẻ ngoài ấy
dòng sông, cây cầu và giấc mộng lãng mạn ở cố cung
thiếu nữ khuôn mặt trầm buồn thiên cổ

ta sống với quá khứ như lời tưởng niệm về một thời hối tiếc
ví dụ không kịp một lời tỏ tình khi em ra đi
như không kịp yêu một lần đã qua thời tuổi trẻ
ví dụ như không kịp được nhờ hơi ấm của người mẹ sớm ra đi
không nghe được lời di ngôn của người cha sắp mất
khi tháng chạp về mỗi năm lại đi qua
cuộc sống vẫn không ngừng
mà lòng ta chưa nguôi nỗi ngậm ngùi tìm thời gian đã mất

những ngày tháng chạp
có ai đi qua không ngoái lại nhìn

Kỷ niệm

Gió mát như một lần em đi ngang qua đây
Trong tầm nhìn của dĩ vãng
Sự chia tay ngọt lịm và đau đớn như vết dao cắt trên ngực

Tháng mười hai năm ấy
Mưa trở lại
Trong hẻm nhỏ có quán cà phê
Bà chủ bốn mươi tuổi
Em trở lại ngồi bên ta
Lời tình ái dài và đều như mưa ngoài cửa

Ta kiệt sức trên lối mòn
Cuộc sống như những vòng kẽm gai buộc
Tìm cơn mộng hằng đêm
Cười trong cõi khác

Gió mát như một lần em đi ngang qua đây
Chỉ một lần trong cuộc đời
Gió mát
Cuộc hội ngộ trí tưởng
Êm ái như một nỗi buồn

http://baotreonline.com/tu-hoai-tan/

Thứ Tư, ngày 03 tháng 8 năm 2016

Những bức ảnh cực hiếm về cuộc đời Bảo Đại, vị vua cuối cùng

Bảo Đại là vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là triều đại phong kiến cuối cùng của nước ta. Cai trị đất nước giữa thời kỳ "bản lề", lại thấm nhuần văn hóa Pháp từ bé, những hình ảnh đáng nhớ về ông thường gắn với đời sống quý tộc phong lưu, "Âu hóa" hơn là chuyện vận mệnh đất nước. 

 
Bảo Đại tiếp xúc với nền văn hóa Pháp từ rất sớm. Bức ảnh trên chụp khi ông còn đang là Hoàng tử Vĩnh Thụy, trong chuyến thăm tới Pháp năm 1922 cùng Vua cha Khải Định (Ảnh: T. Do Khac)
Cũng trong năm 1922, Hoàng tử Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và bắt đầu quá trình học tập theo chương trình giáo dục Pháp. Đến năm 1932, ông theo học tại Trường Khoa học Chính trị Pháp (Ảnh: Bettmann)
Do tiếp xúc, sống và học tập cùng văn hóa phương Tây từ nhỏ, Bảo Đại trưởng thành giống với một cậu trai pháp bảnh bao hơn là một vị Vua của một nước phong kiến châu Á (Ảnh: Bettmann/CORBIS)
Vị Vua cuối cùng của Việt Nam có vóc dáng cao lớn (1m82), gương mặt điển trai, lối sống phóng khoáng, phong độ, vì vậy mà có đời sống tình cảm khá phực tạp, chịu điều tiếng là mê ăn chơi, hưởng lạc. Bức ảnh này được chụp Bảo Đại trong trang phục dạ hội tại Pháp vào năm 1932 (Ảnh: Agence Mondial)
Bảo Đại được biết đến là một người cưỡi ngựa điêu luyện như một kỵ sỹ. Ông cũng yêu thích và hâm mộ nhiều môn thể thao thời thượng, quý tộc thời đó như golf, tennis, bơi thuyền. (Ảnh: Raymond Reuter/Sygma/Corbis)
Bảo Đại đặc biệt thích chơi Tennis. Vì vậy sau khi về nước ông đã cho xây dựng một sân quần vợt "tiêu chuẩn quốc tế" ngay tại kinh thành Huế, khiến nhiều du khách hiện nay tới thăm di tích Cố đô Huế vẫn nghĩ đó là một công trình hiện đại được xây sau này!
Một bức ảnh hiếm hoi Bảo Đại chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không rõ ngày tháng của bức ảnh nhưng nhiều khả năng là giai đoạn sau khi ông thoái vị và tham gia Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Ảnh: T. Do Khac)
Vào tháng 3/1946, trên tư cách cố vấn tham dự phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh, Trung Quốc, Bảo Đại đã không về nước mà đến Côn Minh rồi qua Hồng Kông, chấp nhận sống cuộc đời lưu vong. Bức ảnh trên nằm trong loạt ảnh được tạp chí Time của Mỹ thực hiện vào tháng 6/1948, tại căn hộ riêng của ông ở Hồng Kông (Ảnh: Life)
Vị cựu Hoàng lưu vong tiếp phóng viên trong bộ vest sáng màu chải chuốt, tay châm thuốc lá như một tay chơi sành điệu. Tại Hồng Kông, để tiện ăn chơi mà không bị chú ý, Bảo Đại đổi tên thành Wang Kunney tiên sinh, tuy nhiên danh phận Đế vương của ông không thể che mắt được người thường. Dân thượng lưu Hồng Kông đồn rằng muốn xem mặt Bảo Đại chỉ cần tìm ở 14 tiệm nhảy, nếu không thấy thì tìm ở các sòng bạc (Ảnh: Life)
Bảo Đại hướng dẫn chú cún cưng của mình thực hiện động tác bắt tay (Ảnh: Life)
Bức ảnh chụp trong một chuyến công tác tới Pháp năm 1948 tại khách sạn Ritz, trung tâm Paris (Ảnh: Bettmann/CORBIS)
Sau thời gian dài lưu vong ở Hồng Kông rồi Pháp, Bảo Đại về nước vào tháng 3/1949 để 4 tháng sau đó lên làm Quốc trưởng Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên. Trong hình ông đang đứng nói chuyện với viên sỹ quan Pháp khi vừa đáp xuống sân bay Gia Lâm, Hà Nội vào tháng 3/1954, vẫn trong bộ âu phục chải chuốt quen thuộc cùng cặp kính râm lịch lãm (Ảnh: Life)
Bảo Đại làm Quốc trưởng đến tháng 10/1955 thì bị Ngô Đình Diệm phế truất. Ông sau đó sang Pháp sống lưu vong tại Paris cho đến cuối đời (Ảnh: Life)
Một bức ảnh kháp chụp trong cùng chuyến đi Hà Nội năm đó (Ảnh: Stringer/AFP)
Bảo Đại chụp cùng Tướng Pháp Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi trong chuyến thăm đồng bào thiểu số Tây Nguyên tại Buôn Mê Thuột vào tháng 5/1950 (Ảnh: Stringer/AFP)
Vua Bảo Đại trên trang bìa tạp chí Pháp Paris Match, số ra tháng 9/1953, vẫn với điếu thuốc lá trên tay - thứ gần như gắn liền với "thương hiệu" Bảo Đại (Ảnh: (Ảnh: Walter Carone/Paris Match)
Một bức ảnh "chất lừ" khác cũng trong số tạp chí đó (Ảnh: Walter Carone/Paris Match)
Bảo Đại cùng con gái, Công chúa Phương Mai hào hứng theo dõi cuộc đua Công thức một từ hàng ghế V.I.P tại đường đua Monza huyền thoại của Ý năm 1955. Có lẽ ông cũng là một trong những người Việt đầu tiên có cơ hội xem trực tiếp môn thể thao vốn dành cho giới nhà giàu này (Ảnh: Mario De Biasi/Mondadori Portfolio)
Bảo Đại chụp cùng người vợ Pháp của mình, bà Monique Baudot vào năm 1992, 5 năm trước khi ông qua đời vào năm 1997 (Ảnh: Raymond Reuter/Sygma/Corbis)

Từ INTERNET

THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN DƯƠNG NGHIỄM MẬU







Được tin nhà văn Dương Nghiễm Mậu đột ngột qua đời vào hồi 21giờ 35 phút tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Chúng tôi - bằng hữu và người ái mộ nhà văn - vô cùng thương tiếc. 

Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến và cầu chúc hương hồn anh an nhiên cõi tự tại

khổng đức - nguyễn minh hoàng - nguyễn khắc nhân - nguyễn quốc thái - ngụy ngữ - từ hoài tấn - nguyễn duy kông - ngô đình thành - lê tây sơn - nguyễn miên thảo - viêm tịnh - cao huy khanh - nguyễn lệ uyên - võ chân cửu - phù hư - phạm mạnh hiên - nguyễn văn trai - nguyên quân - phạm tấn hầu - hồ đăng thanh ngọc - vũ trọng quang  - lynh bacardi - nguyễn thanh văn - hạ đình thao - hoàng lộc - đức phổ - triệu từ truyền - huỳnh ngọc thương - lê thánh thư - nguyễn văn hiền - ,,, và một số bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời

03/08/2016 09:36 GMT+7
TTO - Nhà văn Dương Nghiễm Mậu vừa đột ngột qua đời lúc 21g35 ngày 2-8 sau một cơn nhồi máu cơ tim, cộng với một khối u lớn ở gan - thông tin từ người nhà cho biết.
Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời
Chân dung nhà văn Dương Nghiễm Mậu do Tạ Tỵ vẽ - Ảnh: L.ĐIỀN chụp lại
Nhiều bạn văn trong và ngoài nước khi hay tin đều ngỡ ngàng bởi trước đó nhà văn Dương Nghiễm Mậu vẫn khỏe mặc dù năm nay đã bước sang tuổi 80.
Văn đàn Việt Nam biết đến Nhà văn Dương Nghiễm Mậu từ năm 1955, ông tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19-11-1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức (nay thuộc Hà Nội).
Trước 1975, Dương Nghiễm Mậu có khoảng 16 tập sách được xuất bản. Ông cũng tham gia chủ trương nhà xuất bản Văn xã, làm báo Văn nghệ,cộng tác với các báo: Sáng tạo, Thế kỷ 20, Tia sáng, Văn, Văn học, Bách khoa, Giao điểm…
Một người bạn văn của là nhà văn, họa sĩ Tạ Tỵ, đã nhận xét về ông rằng: “Dương Nghiễm Mậu, tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm một dòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với một thế đứng riêng biệt”.
Năm 2007, công ty Phương Nam và NXB Văn Nghệ tái bản bốn tập truyện của ông gồm: Nhan sắc, Đôi mắt trên trời, Tiếng sáo người em út, Cũng đành.
Sau 1975, nhà văn Dương Nghiễm Mậu ở lại Sài Gòn, sinh nhai bằng nghề làm tranh sơn mài cho đến cuối đời.
Linh cữu nhà văn Dương Nghiễm Mậu quàn tại nhà riêng ở quận Tân Bình, TP.HCM.
Lễ viếng bắt đầu sau 9g ngày 3-8; đến 6g15 ngày 5-8 sẽ làm lễ động quan, sau đó di quan đi hỏa táng ở Bình Hưng Hòa.
LAM ĐIỀN
TTO

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 7 năm 2016

Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại Của Huỳnh Hữu Ủy


blank
  Huỳnh Hữu Ủy qua ống kính Nguyễn Thị Hợp
Sinh hoạt văn hóa quận Cam trong Mùa Xuân này xem ra có chút rộn ràng, với một hai cuộc họp mặt có công phu tổ chức, những vấn đề đem ra thảo luận đòi hỏi sự tìm tòi suy luận, một vài cuốn sách mới xuất bản thể hiện sự chăm sóc kỹ càng, trong đó có cuốn tác giả đã mất ít nhất tới 6 năm để viết và thực hiện in ấn, không kể đã ấp ủ tháng ngày tuổi trẻ, mộng mơ và ký ức thanh xuân, suy tư chiêm nghiệm nghệ thuật, thao thức ý nghĩa sống và sáng tác, đó là Huỳnh Hữu Ủy và cuốn Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại.
Người viết bài này đã chờ đợi cuốn sách từ lâu, và càng mong mỏi khi tác giả cho biết, anh viết về chân dung văn nghệ của những Tuệ Sỹ, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Đỗ Long Vân, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Phan Khôi, Yên Thao, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu.
Cuốn sách dày 300 trang, vừa do Văn Mới Los Angeles phát hành, với tranh ảnh và sự trình bày mỹ thuật của những tên tuổi nội ngoại như Marc Chagall, Eugène Delacroix, Bùi Quang Ngọc, Đinh Cường, Nguyễn Đồng-Nguyễn Thị Hợp.

blankblank
 
Mấy chân dung văn nghệ hiện đại (Bìa sau) và bốn tác phẩm. (Nguồn: kệ sách Học Xá)


Huỳnh Hữu Ủy có tiểu luận, nhận định văn nghệ đăng trên tạp chí Văn ở Sài Gòn từ năm 17 tuổi, gần nửa thế kỷ qua anh vẫn chỉ viết tiểu luận nhận định văn nghệ, trên những tờ báo danh tiếng, như Vấn Đề, Tân Văn, Văn Học, Khởi Hành ở trong nước trước 1975, và ở hải ngoại anh viết cho những tạp chí có tầm vóc, được nhiều người coi là có chủ trương rõ ràng nghiêm chỉnh, hay có ảnh hưởng tới một số độc giả chọn lọc, như Văn, Khởi Hành, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21; nhất là anh đã xuất bản những cuốn sách lớn: Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại (VAALA, 2008), những ấn phẩm giá trị, có nền móng căn bản để hiện diện lâu dài trên các tủ sách, các thư viện, như Nghệ Thuật Tạo Hình Dân Gian Việt Nam (Hồng Lĩnh, 1993), Mấy Nẻo Đường của Nghệ Thuật và Chữ Nghĩa (Văn Nghệ, 1999).
Anh là tác giả nói gần như viết, viết đương nhiên trầm tĩnh hơn nói, song quả là anh nói gần như viết, không lỡ lời, mà chọn chữ, và thẳng thắn, không bao giờ có chuyện nói để chiều lòng, hay nói để hòa hài, nói đề ầm ừ; anh nói thẳng, nhất là những việc anh không đồng ý, những việc phải phản đối... (Viên Linh)
Tôi đã biết đã thấy và đã đọc Huỳnh Hữu Ủy khi anh còn rất trẻ, cho tới hiện nay. Anh là tác giả nói gần như viết, viết đương nhiên trầm tĩnh hơn nói, song quả là anh nói gần như viết, không lỡ lời, mà chọn chữ, và thẳng thắn, không bao giờ có chuyện nói để chiều lòng, hay nói để hòa hài, nói đề ầm ừ; anh nói thẳng, nhất là những việc anh không đồng ý, những việc phải phản đối, chẳng hạn khi thấy những thứ phi nghệ thuật trong nghệ thuật, phản ứng của anh, nói như nhan đề một bài viết của Tuệ Sỹ: “Trí thức phải nói.”
Tôi không lạ khi Huỳnh Hữu Ủy quí Tuệ Sỹ - nhà thơ, giáo sư đại học, tác giả Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng -, một trong những “chân dung hiện đại” của cuốn sách, đúng ra là chân dung đầu tiên của cuốn sách. Bài về Tuệ Sỹ dài tới 40 trang, trong có đoạn viết về thiền sư lúc còn trẻ:
“Vài ba người bạn, chúng tôi và Tuệ Sỹ thường gặp nhau ở mấy quán café quen biết... Một tăng sĩ trẻ ngồi trong quán café với bạn đúng là một hình ảnh không bình thường trong khung cảnh Huế cổ kính [...]Tuy nhiên đối với Tuệ Sỹ, dường như các bậc trưởng lão cũng dành nhiều phần đặc biệt, lơi lỏng, vì biết thầy phóng dật mà bản lãnh, sống lang bạt mà biết tự chế. Lúc ấy, Tuệ Sỹ còn rất trẻ, khoảng chừng trên dưới 25 tuổi, vậy mà đã để lộ ra cái dị thường và uyên bác của một tâm hồn và trí tuệ mênh mông, kiệt xuất [...]Công trình học thuật và tư tưởng của Tuệ Sỹ là một giá trị đồ sộ điều đó đã rõ ràng, nhưng sáng tác thực sự của Tuệ Sỹ thì phải là những bài thơ được viết từ bên kia chấn song sắt của nhà tù, đó mới chính là tinh huyết của nhà thơ [Tuệ Sỹ bị chế độ hiện hành lên án tử hình, nhờ quốc tế can thiệp, được thả sau 14 năm ở tù]. Thơ trong tù của Tuệ Sỹ viết bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ, nhưng những bài thơ viết bằng chữ Hán mới thực là toàn bích.” (HH Ủy, Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại, Đọc thơ Tuệ Sỹ).
Đoạn trích dẫn cho thấy lối viết của Huỳnh Hữu Ủy: Có quan sát, chứng nghiệm, mô tả, phân tích.
Về chân dung một trí thức trẻ yểu mệnh là Đỗ Long Vân, nhà văn, giáo sư Đại Học Văn Khoa Huế, Huỳnh Hữu Ủy vẽ lại khá sinh động:

“Tôi lớn lên giữa một thành phố hiền hòa nhưng lại gặp một thời kỳ đầy giông bão của lịch sử. Chính giữa thời kỳ ấy tôi được gặp ông Đỗ. Và đối với tôi, đó là một hình ảnh đầy biểu tượng của thời đại [...] Tôi đã có nhiều dịp gặp ông Đỗ... ngồi quán Café Dung, quán Bạn, quán Lạc Sơn, những buổi chiều mưa gió của Huế. Ông Đỗ là giáo sư ở trường Văn Khoa, nhưng không như các vị khác thường nghiêm nghị ở giảng đường, ông dễ la cà với chúng tôi chẳng có chút ranh giới nào cả [...] thỉnh thoảng ông viết bài khảo cứu và phê bình về mỹ học và văn học cho tạp chí Đại Học [...] sử dụng những phương pháp bình luận quả là khá mới vào thời kỳ đó như hiện sinh, hiện tượng luận và cấu trúc quả đã mang lại nhiều sinh khí mới cho nhu cầu tư tưởng và học thuật bấy giờ [...] Đã hơn 30 năm trôi qua, vậy mà tôi vẫn còn nhớ vài câu thơ [ông Đỗ dịch từ thơ của Bertold Brecht in trên tuần báo Nghệ Thuật] dù không được chính xác lắm:
- Ăn bát cơm trong tay, tôi thấy như giật từ tay người đói.
- Uống ly nước trong tay, tôi thấy như giật từ tay người khát.
Và có một câu mà tôi rất thích:
- Nói chuyện với cỏ cây cũng là một điều tội lỗi.

Một cõi hỗn mang pha trộn giữa thi ca, triết học, cách mạng, bạo động, bất bạo động đè nặng trên ông.” (HH Ủy, Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại, Đỗ Long Vân, một con người cô độc)

Huỳnh Hữu Ủy dành 40 trang để viết về “Tình tự Dân tộc và dòng thơ Kháng chiến,” thời mà anh gọi là “thơ đi theo nỗi đau của xứ sở bị xâm lăng, (trang 241),” qua đó anh đọc và bình thơ của Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Yên Thao, Hữu Loan và có nhắc đến Phan Khôi. Phần này sẽ kết thúc cuốn sách.
Nhìn lại từ cuối tới đầu, các tác giả được nói đến người nào cũng được nhận định, phê bình, trích dẫn và được đăng nguyên một hay vài bài viết của họ, và một số thơ của mỗi người, kèm theo một hoặc hai tấm hình chụp, cộng với một hoặc hai tấm chân dung do họa sĩ vẽ mỗi người. Tiểu sử các tác giả được nói đến in chung vào phần chú thích và thư tịch, không nhiều song có những nét chính. Tất cả có 12 chân dung, thật ra, xét tổng quát, là 12 tác giả có làm thơ, nhiều khi thơ là chính. Các tác giả được bình phẩm chỉ có 4 người đang tại thế, còn 8 đã qua đời, và xếp theo thứ tự như sau: Tuệ Sỹ, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Đỗ Long Vân, Quang Dũng, Hữu Loan, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Yên Thao, Phan Khôi, Chính Hữu.

Câu chót trong “Lời Đầu Sách” của Huỳnh Hữu Ủy có thể dùng để kết thúc bài này, vì câu đó nói ra được mong ước của tác giả: “Tan rã vào đời sống xa lạ chung quanh, nhưng vẫn còn muốn gìn giữ chút tâm ý của mình, hy vọng [cuốn] Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại sẽ góp được một cách nhìn hay chính là nỗi lòng của người viết trong một tình cảnh đặc biệt của chúng ta ngày nay, trên những bước chân phiêu bạt thất tán nơi đất khách quê người.”


Viên Linh
(từ: hocxa.com)

Thứ Ba, ngày 19 tháng 7 năm 2016

Thị trường có phải là “thước đo” của văn học?



Việc xem nhẹ tác phẩm văn học là hàng hóa đặc biệt và đánh đồng tác phẩm văn học với hàng hóa thông thường khác để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận,… có thể tác động tiêu cực đến đời sống văn học. Đáng tiếc, gần đây xu hướng này dường như trở nên nổi trội, khiến không khỏi liên tưởng đến quan niệm thị trường là “thước đo” của văn học?!
Sách văn học chính thức gia nhập thị trường hàng hóa khi kinh tế bao cấp nhường chỗ cho kinh tế thị trường nhiều thành phần. Trong cơ chế mới của hoạt động kinh doanh, in ấn và phát hành sách không còn là “đặc quyền, đặc lợi” của nhà xuất bản nào, mà thật sự vận hành theo phương thức “trăm người bán, vạn người mua”. Chính vì thế, bên cạnh các nhà xuất bản truyền thống, đã xuất hiện nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực in ấn và xuất bản. Có thể kể đến như Nhã Nam, Alphabook, Trí Việt, Bách Việt, Đông A, Dân Trí, Phương Đông, Liên Việt, Limbook…
Giờ đây, cơ hội xuất bản sách đã mở rộng cho người viết, ngay cả với các tác giả trẻ mới lần đầu xuất hiện. Đây là một trong những điểm khác biệt so với trước đây, khi thường chỉ tác giả đã khẳng định được tên tuổi với tác phẩm được người đọc biết tới, được giới phê bình quan tâm mới có cơ hội được xuất bản và phát hành rộng rãi trên toàn quốc với số lượng in ấn có khi lên tới hàng trăm nghìn bản. Còn hiện nay, đối tượng xuất bản được mở rộng nhưng đồng thời các đơn vị xuất bản lại phải thận trọng hơn, vì nếu mỗi đầu sách in với số lượng lớn mà không tiêu thụ được sẽ đồng nghĩa với việc làm ăn thua lỗ. Do đó, số lượng xuất bản sách văn học thường dao động ở mức 1.000 đến 2.000 bản/cuốn. Sách bán hết sẽ tiếp tục tái bản. Chỉ với những cuốn sách dự báo sẽ “gây sốt” thì số bản sách mới được mạnh dạn đẩy lên cao hơn. Các đơn vị xuất bản cũng ràng buộc tác giả bằng hợp đồng kinh tế. Hết thời hạn hợp đồng, họ có quyền gia hạn hoặc chấm dứt hợp đồng với tác giả dựa trên hiệu quả thực tế.
Khi sách văn học trở thành hàng hóa, việc kinh doanh phụ thuộc nhiều vào chất lượng, sự phù hợp cũng như tính hấp dẫn của tác phẩm với thị trường. Vì vậy, các đơn vị kinh doanh buộc phải xây dựng cho mình chiến lược phù hợp để cạnh tranh, chiếm thị phần. Có công ty chọn cho mình những tác phẩm văn học thuộc hàng best seller (sách bán chạy) ở nước ngoài như một dạng “đóng nhãn mác” về chất lượng sản phẩm. Có công ty lại chuyên về một dòng văn học nào đó (như kỳ ảo, giả tưởng, lịch sử…) hoặc văn học của một quốc gia nào đó (như Nhật Bản, Trung Quốc…). Có đơn vị lại có hướng đi khác là chọn các tác giả trong nước được cộng đồng mạng xã hội ưa chuộng, theo đó những tác phẩm đã được đăng tải trên internet được nhiều người thích và chia sẻ, sẽ được chọn lọc, khai thác, biên tập, xuất bản. Có người hóm hỉnh gọi đây là quy trình “xuất bản ngược”, bởi thông thường sách phải được in ấn theo phương thức truyền thống (bản cứng) sau đó mới đưa lên mạng (bản mềm), nhưng với trường hợp kể trên thì quy trình này đã đảo ngược. Điều này là hoàn toàn bình thường trong kinh tế thị trường, vì “cung” đã đáp ứng “cầu”. Và thị trường cũng phải tuân theo quy luật sàng lọc khắt khe: chỉ đơn vị nào tạo dựng được uy tín, kinh doanh có hiệu quả bền vững thì mới có thể tồn tại. Vì vậy cứ sau một thời gian ngắn, thị trường xuất bản sách lại chứng kiến hiện tượng đơn vị xuất bản nào đó ra đi “không kèn không trống”. Thậm chí một ông chủ nhà sách từng đăng đàn bày tỏ tình yêu với văn học, tinh thần cống hiến cho văn học bằng việc tự bỏ tiền túi ra làm sách, song khi hiệu quả kinh tế không đạt được, vốn không thể thu hồi thì tình yêu tha thiết kia khó có thể tiếp tục duy trì. Do đó, sau khi tổ chức in ấn vài ba đầu sách văn học, nhà sách này cũng biến mất trên thị trường.
Bỏ vốn đầu tư và thu về lợi nhuận là bài toán kinh tế mà bất kỳ người nào hoạt động kinh doanh đều phải thuộc nằm lòng. Đối với lĩnh vực xuất bản cũng vậy. Để đạt được hiệu quả cao nhất, thời gian qua nhiều chiêu thức đã được giới xuất bản áp dụng, như: mở cuộc thi để tạo dựng thương hiệu cho đơn vị, đồng thời thu hút bản thảo; tăng giá sách rồi sau đó lại giảm giá sâu, khiến người đọc có cảm giác mua được sách giá rẻ; mở các hội chợ khuyến mãi, giảm giá; tổ chức truyền thông, tiếp thị nhằm quảng bá sản phẩm; gia tăng các giá trị cho sản phẩm bằng các hình thức: giao lưu với tác giả, bán sách kèm chữ ký của tác giả, phát hành CD kèm theo tác phẩm, bán sách bộ kèm quà tặng… Trong kinh doanh truyền thống, thường thì đơn vị xuất bản bỏ vốn, tổ chức bản thảo, in ấn, phát hành, và chỉ khi nào sách được tiêu thụ vượt qua điểm hòa vốn thì đơn vị kinh doanh mới hết… run, cuốn sách kinh doanh có hiệu quả là sách đã được bán hết, hoặc tiếp tục tái bản. Gần đây thị trường xuất bản nổi lên một phương thức kinh doanh mới là gây quỹ cộng đồng. Với hình thức này, lúc đầu tác phẩm được tác giả hoặc đơn vị xuất bản đem ra rao bán (giới thiệu trích đoạn, tóm tắt nội dung…) và trên cơ sở đó, người quan tâm sẽ bỏ tiền góp vốn. Khi số tiền góp vốn đạt và vượt mức đơn vị kinh doanh đề ra thì tác phẩm mới chính thức xuất bản, ra mắt độc giả. Những sản phẩm không đạt mục tiêu về vốn như ban đầu, thương vụ sẽ bị hủy bỏ, số tiền nhận từ độc giả sẽ được hoàn trả. Bằng hình thức gây quỹ cộng đồng, hiệu quả kinh doanh có thể tính toán được ngay, gần đây một số tác phẩm đã được xuất bản theo hình thức này như: Truyện cực ngắn (Đào Quang Huy), Thành kỳ ý (tiểu thuyết), hoặc các truyện tranh: Long thần tướng, Mật ngọt chết mèo, Project Icon, Nhóm máu O…
Một hình thức xuất bản “ăn chắc mặc bền” khác, tuy hoạt động âm thầm, mang tính nhỏ lẻ, hầu như ít được công khai, nhưng vẫn đang được một số đơn vị xuất bản tận dụng, đó là tổ chức in sách văn học cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu. Theo cách thức này, người muốn xuất bản sách chỉ cần bỏ tiền, nộp bản thảo, đơn vị làm sách sẽ tổ chức xin giấy phép và in ấn theo yêu cầu. Một cuốn sách, vì vậy, có thể chỉ in một hai trăm cuốn, hay cả nghìn cuốn tùy theo “đơn đặt hàng”, đơn vị xuất bản chỉ việc đứng ra thu tiền và… làm dịch vụ, miễn sao bản thảo cuốn sách không vi phạm các điều cấm trong Luật Xuất bản. Có người gọi vui đây là “dòng sách câu lạc bộ”! Thị trường là vậy, có mua thì có bán, có cung thì có cầu. Cho nên sẽ không lạ khi biết trên thực tế, có nhà xuất bản lại ở trong tình trạng: sách tự tổ chức bản thảo, in ấn, phát hành chỉ chiếm khoảng 20%, số còn lại là sách bán giấy phép, hoặc liên kết xuất bản!
Nhằm thu hút công chúng quan tâm đến sản phẩm của đơn vị mình, khâu truyền thông được các công ty xuất bản sách quan tâm hơn bao giờ hết. Không thể trông chờ “hữu xạ tự nhiên hương”, giữa cả rừng sách, độc giả dễ lúng túng, họ cần các “chỉ dấu” để chọn lựa, do đó hầu hết các đơn vị xuất bản đều có bộ phận truyền thông. Hiểu một cách đơn giản, nhiệm vụ của bộ phận này là quảng bá, giới thiệu sách. Các cách thức truyền thông phổ biến hiện nay là tổ chức ra mắt sách, tọa đàm giao lưu tác giả - bạn đọc, viết bài giới thiệu sách… Vì thế hằng tháng, thậm chí hằng tuần trên thị trường luôn xuất hiện hoạt động quảng cáo sách mới, tác giả mới. Có nhà văn, nhà báo thậm chí còn ăn lương của đơn vị xuất bản để chuyên “sản xuất” bài review (giới thiệu) sách. Một số nhà phê bình, nhà văn có tên tuổi cũng thường được mời tham dự vào những sự kiện này. Ai cũng hiểu tiếng nói của họ có trọng lượng nhất định với công chúng, do đó sự xuất hiện của họ, các nhận xét, đánh giá của họ giúp khẳng định giá trị của tác phẩm và đương nhiên sẽ tác động tích cực tới việc bán sách trên thị trường. Giữa thời buổi mà mạng xã hội đang phát huy ưu thế vượt trội so với nhiều loại hình nghe nhìn khác, các đơn vị xuất bản sách cũng lập tức nắm bắt “địa bàn online” bằng cách lập các fanpage, tạo sự kiện trên facebook nhằm quảng bá hình ảnh, tương tác với độc giả và… bán sách! Thậm chí nhằm “triệt hạ” đối thủ, có đơn vị còn tổ chức diễn đàn trên mạng để nói xấu sản phẩm của đối thủ như sách thuê sinh viên dịch cho nên chất lượng kém, sách in xấu, nhiều lỗi,…?
Tuy nhiên, kinh doanh trong bất kỳ lĩnh vực nào thì lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài đều luôn rất cần được tính đến. Khách hàng là người bỏ tiền, do đó họ có quyền đòi hỏi về chất lượng sản phẩm mà mình mua. Gần đây, một cuốn sách được báo chí phản ánh có nhiều sai sót, đó là cuốn Xứ Đông Dương. Dù tuyên bố sẽ cho thu hồi để in lại có hiệu đính, nhưng trên thực tế đơn vị xuất bản cuốn sách vẫn đưa bản sách lỗi ra bán trên thị trường kèm theo mẩu đính chính bé xíu, khiến nhiều độc giả bất bình. Trên thực tế còn có hiện tượng một cuốn sách được nhà văn A, nhà phê bình B hết lời khen ngợi, thậm chí còn khẳng định “nếu giải thưởng của Hội Nhà văn không trao tặng cho cuốn này thì đó là một sai lầm”, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, tác phẩm này gần như “mất tích” trên thị trường, chưa nói không ít độc giả vì tò mò tìm đọc đã phải bày tỏ niềm kinh hãi vì sự rối rắm, tối nghĩa, đánh đố của tác phẩm! Rõ ràng truyền thông quá mức có thể khiến cuốn sách nào đó thành hiện tượng best seller ở một thời điểm nhất định, nhưng sau đó lại khiến công chúng nghi hoặc, thậm chí mất niềm tin. Thậm chí truyền thông còn có thể biến một cuốn sách thành “thảm họa”, như với một cuốn thơ cho thiếu nhi xuất bản gần đây.
Có một thực tế là không phải sách văn học nào được coi là bán chạy cũng là cuốn sách có giá trị về tư tưởng - nghệ thuật. Điều đó giúp lý giải vì sao có những cuốn sách đoạt giải Nobel văn chương cũng chỉ được xuất bản với lượng khiêm tốn, còn đôi khi có cuốn sách chỉ viết về tình yêu lại có thể xuất bản lên tới cả chục nghìn bản. Tuy nhiên, những đơn vị làm sách biết nhìn xa trông rộng luôn có ý thức cân đối, phân biệt giữa sách kiếm lời với sách để tạo dựng thương hiệu. Gần đây giám đốc một nhà xuất bản được coi là “ăn nên làm ra” và hiện đang xếp nhóm đầu trong lĩnh vực xuất bản, đã thẳng thắn bày tỏ: “Tôi chỉ muốn làm người bán sách tử tế, xuất bản những cuốn sách tử tế để gửi tới độc giả”. Hai chữ “tử tế” mà vị giám đốc chia sẻ đã xác quyết hướng đi đúng đắn của đơn vị xuất bản này, đồng thời giúp lý giải uy tín đã được gây dựng thành công của nhà xuất bản với thị trường và độc giả.
Rõ ràng thị trường là một thước đo với nhiều loại hàng hóa, nhưng trong lĩnh vực văn học, những giá trị văn chương đích thực lại dẫn dắt thị trường, tạo nên thương hiệu cho đơn vị xuất bản, và tạo niềm tin nơi công chúng.
HÒA PHONG


http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/30167802-thi-truong-co-phai-la-%E2%80%9Cthuoc-do%E2%80%9D-cua-van-hoc.html