Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Thơ Viêm Tịnh

LẶNG LẼ BUỔI CHIỀU

chiều hôm nay đứng bên hành lang của ngôi nhà buồn bã
chờ em theo dòng xe xuôi vào nội thành
thời gian thì trôi lặng lẽ
dòng xe lướt qua lặng lẽ
em vẫn đang ngoài tầm mắt anh

mỗi ngày cứ như vậy
tình yêu âm thầm xây thành bức tường
phong tỏa trong trái tim anh
bằng khuôn mặt em với nụ cười hò hẹn

anh thẩn thờ tìm em
thẩn thờ tìm anh
thản thốt tìm nơi chốn rất riêng mà vẫn rơi vào tuyệt vọng

em xa nghìn trùng trong mắt anh tìm kiếm
bên hướng đông trăng đã nhú màu hoàng thổ
soi bóng con đường hiu quạnh
anh vẫn tìm em
dù ngày ngắn và đêm dài.

tình yêu ơi, hãy đến.
hai ta sẽ sống trong niềm hoan lạc của đời người.
anh muốn luôn được thì thầm với em

mỗi ngày cứ như vậy thì thầm với em : anh yêu em.

(ở nhà 03.02.2009 một ngày của E)




ngày mai a sẽ được gặp em

sương vẫn đang hòa quyện với không gian tỉnh lặng của thành phố tuổi thơ
em đang tới với bước chân rộn rã thanh xuân
đánh thức giấc ngủ muộn một người đã thâu đêm
nghe tình yêu nhẹ gõ những kinh cầu cảm xúc

và anh sẽ hân hoan với tầng mây xám xanh mùa xuân còn lại
của những cánh hoàng mai
nỡ muộn trong khoảng vườn nhỏ của người phố thị
mùa xuân vẫn còn đó
đang ru mình cùng đợt rét nhẹ tháng hai

những câu thơ nhớ về nỗi đau
đắm mình trong vọng tưởng
hương sắc hồng hào lời yêu dấu
vượt qua những ngóc ngách u xám của cuộc đời

tình yêu thăng hoa trắng suốt ánh bình minh
mãi mãi là phúc âm cho những người yêu nhau.

( 09.03.09, Hàng Bè).
Viêm Tịnh

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Trần Ngọc Bảo : Tây Du Ký Sự 18 (kỳ cuối)

Ngày 24-7-2011
Kushinagar (Kusinara, Câu-thi-na)
Còn nhớ tại đền Capala ở Vaishali Đức Phật tuyên bố sẽ nhập diệt trong vòng ba tháng nữa. Ngài nói:
“Này Ananda, bây giờ Như Lai đã kiệt sức, già yếu và gần đến ngày lìa trần. Như Lai đã tám mươi, không khác nào cỗ xe quá cũ kỹ phải cần có những sơi dây để cột lại các bộ phận cho khỏi rời ra. Thân của Như Lai cũng cần có các sợi dây tương tự.”
Thật không ngờ Đức Phật có thể mô tả về mình một cách hóm hỉnh như vậy.
A nan hỏi về người lãnh đạo giáo đoàn hay sangha. Đức Phật trả lời:
“Có người nghĩ rằng ‘Chính ta sẽ lãnh đạo Sangha. ‘ hay ‘Sangha sẽ tùy thuộc nơi ta.’ Hoặc Đức Phật sẽ dạy một điều gì đó liên quan đến Sangha.”
Này A Nan, Như Lai không nghĩ rằng có người nào phải lãnh đạo Sangha hay Sangha phải tùy thuộc nơi người nào. Tại sao Như Lai phải dạy một điều gì liên quan đến Sangha?
Tôi chợt nhớ một câu chuyện mà một vị tỳ kheo kể lại. Vị này người miền Nam. Trong một dịp ra Bắc gặp vị lãnh đạo cao nhất của Sangha, vị ấy sau khi hỏi thăm sức khỏe liền thỉnh cầu, « Thưa Pháp Chủ , xin ngài ban cho con vài lời pháp nhũ để con về Nam nương theo đó tu hành. » Vị Pháp Chủ nói, « Người ta đặt Tao ngồi đây thì Tao ngồi đây, chứ Tao mà là Pháp Chủ cái gì ? Thân Tao, Tao làm chủ còn chưa xong, huống hồ là làm chủ pháp ! »
Thật khó tin là một vị lãnh đạo Sangha mà lại nói như thế , nhưng nếu sự thật là như thế thì đó là những lời mộc mạc rất thật thà.
Vậy thì người Phật tử phải nương tựa vào ai sau khi Đức Phật diệt độ? Đức Phật dạy:
“Này A Nan, hãy tự coi chính con là hải đảo của con, chính con là chỗ nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa bên ngoài. Hãy xem giáo pháp là nơi nương tựa của con, không nên tìm nương tựa ở bên ngoài. »
Nếu có một tu sĩ danh tiếng hoặc tu hành lâu năm, hoặc lãnh đạo một tập thể các tu sĩ tuyên bố rằng những gì vị ấy giảng dạy là giáo pháp của Đức Phật thì sao? Đức Phật dạy không nên chấp nhận ngay cũng không nên bác bỏ liền mà nên đối chiếu với kinh điển, với giới luật để suy xét và kết luận những điều vị ấy giảng là phù hợp hay không phù hợp với giáo pháp ngài đã dạy.
Ngài Anan còn hỏi về nghi lễ sau khi Đức Phật diệt độ. Ngài trả lời :
« Này Anan, con không nên bận tâm về việc làm vẻ vang nhục thể của Như Lai. Hãy chú tâm vào hạnh phúc chu toàn của chính con. Hãy nỗ lực tu tập để đạt được hạnh phúc chu toàn cho mình. »
« Có những người Sát-đế lợi (đẳng cấp Chiến-sĩ) sáng suốt , những vị Bà- la- môn và những cư sĩ trí tuệ tin tưởng vững chắc nơi Như Lai. Hãy để những người ấy bày tỏ lòng tôn kính và làm vẻ vang nhục thể của Như Lai. »
Ngài lên đường đi về hướng Bắc, nhưng không cho biết là đi đâu, về đâu. Ngày nay có học giả bàn luận rằng ngài định đi về Kapilavastu, là quê hương,nơi ngài trải qua thời thơ ấu cho đến năm 29 tuổi hay đi về Lumbini là nơi ngài chào đời, nhưng đi không tới vì quá già yếu.
Kapilavastu hay Lumbini là quê hương của Thái Tử Siddhartha, còn quê hương Đức Phật thì các học giả làm sao biết được mà luận bàn ? Chỉ có điều, nhìn bản đồ, người ta thấy Kushinagar chiếm vị trí trung tâm của những thánh tích khác như: Lumbini (Lâm-tỳ-ni thuộc nước Nepal, cách đấy khoảng 100km), Vaishali (Tỳ-xá-li, cách khoảng 150km ), Sarnath (Vườn Nai, khoảng 200km). Ngày nay có thể đi đến Kushinagar một cách dễ dàng nhờ quốc lộ số 28, đi từ thành phố Gorakhpur (cách 56km), nơi có ga xe lửa lớn và cả sân bay.
Rời Vaishali, ngài đi Bhandagama, Bhoganagara, Rajagaha, Nalanda và Pava. Ở chặng cuối khi Đức Phật đi từ Pava tới Kushinaga chỉ cách hơn 10km ngài đã phải dừng lại nghỉ 25 lần. Ở chỗ dừng cách rừng cây sala Upavattana của bộ tộc Malla khoảng 400m ngài bảo Anan đi lấy nước cho ngài uống. Anan ngập ngừng vì có một đoàn xe bò đông hàng trăm chiếc đang băng qua dòng suối và nước chắc đang bị đục ngầu, e phải mất nửa ngày mới lắng lại. Đức Phật nói không sao đâu. Khi ngài A Nan vâng lời cầm bát xuống suối thì kỳ lạ thay - nước đã trong veo.
Khi Đức Phật bảo Anan trải y xuống cho ngài nằm nghỉ ở giữa hai cây sala trong rừng thì ngài A Nan đã kêu lên tại sao Thế tôn không nhập diệt ở một trong những đô thị phồn vinh, đông người, đông đệ tử như Vương Xá, hay Xá Vệ, hay Ca Tỳ La Vệ mà lại nhập diệt ở một nơi hiu quạnh như thế này.
Đức Phật trả lời trong một thuở xa xôi Câu Thi Na được gọi là Câu Thi Vương Thành, là một kinh thành hoa lệ của một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Nhưng kinh thành hoa lệ hay tiện nghi xa hoa là những thứ mà ngài đã từ bỏ khi đi tìm đạo cũng như khi đi truyền dạy giáo pháp thì cuối đời ngài cũng không màng đến là điều dễ hiểu. Còn Thiền sư Goenka thì nhận xét rằng lúc đản sinh, thành đạo và nhập diệt ngài đều chọn một nơi ở giữa đất trời cao rộng, giữa thiên nhiên – tất cả đều là nơi thanh vắng, tịch mịch.
Ngài bảo ông Anan đi vào thành Kushinagar để thông báo rằng Đức Phật sắp nhập diệt đêm nay. Dân chúng nghe báo liền vội vàng đi ra rừng để đảnh lễ Đức Thế Tôn lần cuối. Trước đó Đức Phật đã từng đến đây để dạy đạo giác ngộ cho người Malla nên họ rất quí trọng ngài.
Trong số người gấp rút đi gặp Phật có một đạo sĩ già tên là Subadda. Ông đạo sĩ lễ Phật xong không chịu lui ra như những người khác mà hỏi ngài Anan xin gặp Đức Phật. Ngài A Nan không cho vì Đức Phật đang mệt, nhưng Đức Phật bảo A Nan cho ông đạo sĩ vào. Ông này nêu thắc mắc là không rõ các đạo sĩ danh tiếng đương thời như Purana Kassapa, Makhala Gosala, Nigantha Nataputta, v.v. đã chứng ngộ chân lý hay chưa. Đức Phật trả lời hãy gác chuyện các vị ấy sang một bên để ngài dạy cho ông ta phương pháp tu tập nhằm đi tới chỗ giác ngộ. Sau khi nghe Phật dạy ông xin xuất gia ngay tại đó, nỗ lực tu tập và cuối cùng trở thành một vị A la hán.
Trên thế giới chưa có một ông thầy nào tới phút gần từ giã cõi đời mà còn dạy học và có kết quả tuyệt vời như thế.
Trước khi Đức Phật nhập đại định, ngài còn hỏi lại (đúng là một ông thầy !) là có đệ tử nào còn thắc mắc gì không, nếu ngại không hỏi thì nhờ người khác hỏi cũng được. Ngài nói :
« Này các đệ tử, nếu các con có bất cứ một phân vân thắc mắc nào liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, con đường, hay phương pháp tu tập, hãy đưa ra câu hỏi.»
Đức Phật hỏi tới lần thứ ba mà mọi người vẫn im lặng. Ngài Anan khen ngợi :
« Thật là kỳ diệu. . . Không có vị đệ tử nào còn bất cứ hoài nghi hay thắc mắc nào. »
Đức Phật nói :
« Này Anan, con nói điều ấy từ đức tin. Nhưng Như Lai biết rõ rằng trong chúng Tăng đây không còn ai hoài nghi hay thắc mắc về giáo pháp, về giáo đoàn, về con đường hay về phương pháp tu tập. Trong năm trăm đệ tử, người chậm chạp nhất cũng đã đạt quả vị Nhập Lưu, không còn phải trở lui nữa, và chắc chắn sẽ chứng ngộ. »
Quả thật trong lịch sử chưa có vị thầy nào dạy học trò đạt kết quả cao như thế, và biết rõ học trò tường tận như thế. Mà đây là những đệ tử từ các nơi về kịp giờ phút Đức Phật sắp nhập diệt. Ngài còn hàng ngàn đệ tử khác đạt quả vị thánh đang còn đi dạy đạo ở phương xa.
Đức Phật nhập Niết-bàn cũng vào ngày trăng tròn tháng Vesak, trùng với ngày đản sinh của ngài. Lúc ấy, theo một số học giả, là vào năm 487 hay 488 TCN, nhưng theo lịch của Sri Lanka và các nước Đông Nam Á thì đó là năm 544-543 TCN. Các nước dùng Phật lịch như Thái Lan tính theo năm thứ nhất là năm Đức Phật nhập diệt.
Kim thân của Ngài được trà tỳ (hỏa thiêu) theo nghi thức tang lễ của một vị Chuyển luân Thánh vương. Sau đó, xá lợi của ngài được ông Dona, một vị Bà-la-môn có uy tín, chia làm tám phần cho tám nước có cử đại diện đến mang về tôn trí vào bảo tháp để thờ phụng . Sau này vua Ashoka đã cho khai quật các bảo tháp ấy, lấy xá lợi Phật và tôn trí vào trong 84.000 bảo tháp mà ông cho xây ở khắp nước Ấn Độ.
Bộ tộc Malla cũng xây một bảo tháp tại nơi lễ làm lễ trà tỳ, gọi là Makutabandhana-ceti hay Ramabhar Stupa.
Chúng tôi xuất hành sớm để thăm Chùa Niết bàn (Mahaparinirvana temple). Đi bộ khoảng 100m chúng tôi đã thấy bên kia đường hai tòa kiến trúc lạ mắt. Bước qua đường để di vào chúng tôi thấy một ngôi đền hình lăng trụ, có chiều dài gấp đôi đường kính hình trụ. Có bốn cửa sổ hình tròn gần trên mái trông ra bốn hướng. Tiền đường có 4 trụ lớn màu đỏ sẫm. Bước vào đền chúng tôi thấy ngay tượng Phật ở tư thế nằm trong chính điện. Gian phòng này hơi hẹp, chỉ vừa đủ chỗ cho hai hàng người, mỗi hàng khoảng 10 người ngồi xung quanh tượng Phật.
Picture 093_resize
Đền thờ và Bảo Tháp Niết bàn
maha nirvana temple
Đền thờ Niết bàn
Vào thế kỉ thứ VII, ngài Huyền Trang đến chiêm bái đã mô tả thánh tích như sau:
Chổ này có bốn cây (Sa La) thật cao. Đây là nơi đức Như Lai đã nhập Niết-bàn. Có tinh xá bằng gạch rất lớn. Trong tinh xá này có một tượng đức Phật nhập Niết-bàn. Ngài nằm quay đầu về hướng bắc như đang ngủ. Bên cạnh tinh xá này là bảo tháp do vua Asoka xây dựng, mặc dù đã hư sụp, nhưng cũng còn cao gần 60 mét. Phía trước tinh xá là một trụ đá ghi chép về sự Niết-bàn của đức Như Lai. »
Ngôi đền đã bị đốt cháy và tượng bị đập phá vào thế kỉ XIII bởi những đội quân Hồi giáo đến từ Trung Đông. Mãi đến năm 1861 Sir Cunningham đã xác định được vùng Kasia ngày nay chính là Kushinagar hồi xưa. Sau đó, năm 1876, nhà khảo cổ Carlleyle đã xác định nền móng của đền thờ Đại Niết Bàn và tìm ra thánh tượng bên dưới đống gạch đổ nát . Trong khoảng từ năm 1904 đến 1912 các nhà khảo cổ như J.Ph Vogel và H Shastri đã tìm ra thêm nhiều nền móng của các tu viện và đặc biệt là một tấm bảng bằng đồng nguyên gắn vào ngôi bảo tháp, ghi rõ đây là nơi Đức Phật nhập niết bàn.
Các Phật tử Myanmar và đặc biệt là gia đình từ Rakhine đã ủng hộ Thượng Tọa Mahawira xây một tu viện vào năm 1900 và trùng tu ngôi đền cũng như bảo tháp vào năm 1927. Năm 1956 chính phủ Ấn Độ lại trùng tu một lần nữa.
Tượng Phật nhập Niết bàn được xem là một trong những kiệt tác về nghệ thuật tranh tượng Phật giáo vào thời đại Kumargupta (413-455). Nhà điêu khắc Haribhada đã tạc pho tượng này từ một khối đá lớn lấy từ vùng núi Chunar, gần thành phố Varanasi. Pho tượng có chiều dài khoảng 6 m, được đặt trên một bệ đá hình chữ nhật cao khoảng 0,5m. Tượng khắc họa Đức Phật nằm nghiêng bên phải, đầu hướng về phía bắc và gối lên tay phải, mặt quay về hướng nam, tay trái đặt xuôi trên hông, hai chân song song chồng lên nhau.
Mahaparinirvana buddha
Tượng Phật nhập niết bàn
reclining buddha
Bên trong ngôi đền Niết bàn
Khi khai quật tượng vào cuối thế kỷ XIX, tượng đã bị gãy làm ba đoạn. Các nhà khảo cổ đã cố gắng lắp ráp lại.
Sau lưng ngôi đền là Bảo Tháp Đại Niết Bàn (Mahanirvana Stupa) được vua Ashoka xây dựng vào thế kỷ thứ III TCN, và cũng được Phật tử Myanmar trùng tu vào năm những năm đầu thế kỷ XX và lần thứ hai vào năm 1972.
Tháp và ngôi đền được xây trên một nền gạch cao khoảng 2,7 m. Tháp hình trụ, mái hình vòm, có đường kính chân khoảng 10m, chiều cao khoảng 45 m. Phía trên vòm tròn ấy có một khối hình trụ nhọn dần lên tận đỉnh, gồm ba tầng, cao khoảng 5,5 m.
Khi ngài Huyền Trang đến chiêm bái thánh tích này, ngài thấy có rất nhiều ngôi bảo tháp như: bảo tháp Niết bàn, tháp tưởng niệm vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật, là ông Subhada, tháp tưởng niệm tiền thân của đức Phật trong một kiếp làm con chim trĩ và kiếp khác làm con nai, tháp tưởng niệm vị thần kim cang Vajrapani, người đã ngã xuống đất bất tỉnh, khi nghe đức Phật đã nhập Niết-bàn, v.v
Hiện nay xung quanh ngôi đền chỉ còn nền gạch của các công trình kiến trúc xưa. Phía trước người ta trồng lại mấy cây sala.
Chúng tôi tiếp tục đi trên con đường chính để đến tháp Trà tỳ. Tại khúc quanh uốn về bên trái, cách đền Đại Niết bàn chừng 200m, chúng tôi nhìn thấy một ngôi đền hình khối vuông nằm bên phải con đường. Hóa ra đây là đền Matha Kuar. Trong đền có một tượng Phật rất lớn bằng đá xanh, cao hơn 3m, nhưng do ngập nước, cửa ra vào duy nhất bị đóng chặt, chúng tôi chỉ nhìn bức tượng qua khe cửa lớn và cửa sổ. Tương truyền đây là nơi Đức Phật nghỉ chân lần cuối và uống nước từ một dòng suối gần đó trước khi đến rừng cây sala nơi ngài nhập diệt.
Matha Kraur1
Đền Matha Kuar
kushinagar-mathakuarshrine1
Tượng Phật trong đền Matha Kuar
Từ khúc quanh đi gần 1km nữa chúng tôi đến bảo tháp Ramabhar, nơi diễn ra lễ Trà tỳ kim thân của đức Thế Tôn. Để bảo vệ ngôi tháp người ta rào lại thành một khu vườn. Tháp Trà tỳ có chiều cao hơn 8 mét, đường kính chân tháp khoảng 34 m. Theo sử liệu, tháp được bộ tộc Malla xây ngay trên đống tro than trà tỳ, nên có màu vàng đen, và lâu ngày bị lún xuống, bị xói mòn cho nên hình dạng không còn tròn như ngày xưa.
Xung quanh bảo tháp Trà tỳ có nhiều tháp nhỏ và nền móng các tịnh xá, tu viện được xây dựng từ thế kỉ thứ I trở về sau. Toàn bộ khu vực này được trồng những thảm cỏ xanh và cây cọ.
Ramabhar stupa
Bảo Tháp Trà tỳ Ramabhar Stupa
Chúng tôi đi nhiễu quanh tháp và ngồi thật lâu trên một ghế băng ở trong vườn để thưởng thức bầu không khí yên tĩnh ở nơi đây.
Sau đó, chúng tôi cũng đi thăm Nhà Bảo tàng Kushinagar để nhìn những cổ vật như các tranh tượng Phật, Bồ-tát, các di chỉ khảo cổ bằng đất nung, đá, đồng, v.v… có tuổi hơn 2000 năm. Trước sân của nhà Bảo tàng có một vườn Nhật Bản.
Theo một tài liệu ở một văn phòng hướng dẫn du lịch, chúng tôi cũng tìm tới cây cổ thụ nơi ông Dona chia xá lợi của Đức Phật. Cây cổ thụ này nằm trên con đường đất phía bên hông của chùa Thái Lan, nằm giữa một cánh đồng, vây quanh là cỏ dại mọc rất cao, không có biển báo hay khuôn viên bảo vệ. Chúng tôi ngồi ở gốc cây này chơi khá lâu, chỉ thấy hai em bé gái dắt dê đi ăn ghé qua rồi đi ngay khi thấy khách lạ.
Picture 116_resize
Cây cổ thụ nơi phân chia xá lợi Phật cho đại diện của tám nước
Chúng tôi đi ngang chùa Thái Lan. Chùa này có khuôn viên rất lớn và có lẽ có qui mô xây dựng lớn nhất trong các chùa quanh đây. Nghe nói chùa xây từ năm 1999, được sự bảo trợ của Hoàng Gia Thái Lan và khánh thành năm 2001. Chùa có chính điện, bảo tháp, tăng xá, thiền đường, và có phòng ăn, ở cho khách hành hương. Nhưng chùa cũng đang trùng tu nên đóng cửa. Chùa có xây một bệnh xá cho người nghèo, các bác sĩ, y tá đều là tình nguyện viên.
Thai temple in Kushin2
chùa Thái Lan
Chúng tôi đi trở lại chùa Tây Tạng. Trên đường về chúng tôi ghé qua chùa Myanmar là ngôi chùa đầu tiên xây tại khu vực thánh địa này để chiêm ngưỡng ngôi bảo tháp dát vàng rực rỡ. Xung quanh chùa có nhiều hàng quán bán hàng trang sức và quà lưu niệm.
Myanmar tenple2
chùa Myanmar
Chúng tôi ghé thăm chùa Linh Sơn. Bây giờ tôi mới biết chùa này trước kia có tên là chùa Song Lâm do một Ni Sư người Hoa trụ trì. Sau khi Ni Sư viên tịch, chùa được hiến cúng cho Hòa Thượng Huyền Vi (lúc ấy là Viện chủ chùa Linh Sơn ở Pháp). Ngôi chùa được đổi tên là chùa Linh Sơn, và Hoà Thượng đã cử sư cô Trí Thuận về trụ trì. Chùa có diện tích khá rộng, và nét đặc sắc là có các mô hình về thánh tích Tứ Động Tâm thu nhỏ, xây dựng ngay trong khuôn viên chùa.
Chùa Linh Sơn cũng có xây một ngôi trường bên cạnh chùa cho trẻ em địa phương. Chùa cũng xây một dãy phòng lưu trú cho khách hành hương khá khang trang, sạch sẽ.
Kushinagarchua VN
chùa Linh Sơn
Chùa Nhật – Tích Lan (Japan-Sri Lanka) cũng là một trong những ngôi chùa có kiến trúc độc đáo - hình vòm – mô phỏng hình dạng của Đại Tháp Niết Bàn. Chùa được chính phủ Nhật tài trợ xây dựng, nhưng thường trú lại là các vị sư Tích Lan.
Japansrilankan
chùa Nhật- Sri Lanka
Con đường duy nhất ở thánh địa này tuy không dài nhưng cũng có một khách sạn rất lớn có tên Imperial Kushinagar. Ngoài ra có khách sạn nhỏ mang tên Nhật là Lotus Nikko.
Sau khi lang thang suốt ngày, chúng tôi ghé vào nhà hàng trong khách sạn Royal Residency vào lúc 4 giờ để ăn. Lúc đó hình như là giờ ăn trưa của xứ Ấn nên chúng tôi thấy khách rất đông. Sau đó một thực khách người Ấn ngồi cùng bàn cho hay ở đây đang có đám cưới và ông là chú của cô dâu. Chúng tôi vui vẻ chúc mừng.
Buổi tối chúng tôi ghé qua Văn phòng hướng dẫn du lịch uống trà và đàm đạo với vị chủ nhà. Vị này hóa ra cũng là một thiền sinh Vipassana. Cuộc nói chuyện rất hào hứng và chúng biết thêm rằng ở Kushinagar có một lễ hội lớn hằng năm vào ngày trăng tròn tháng Vesak (khoảng tháng 5-tháng 6) do chùa Myanmar tổ chức. Lễ hội mang tên Buddha Jayanti có một hoạt động độc đáo là đem nước đến tưới cây bồ đề ở chùa. Lễ hội được dân địa phương ủng hộ rất nhiệt tình. Vị chủ nhà còn cho biết có một dự án đúc một tượng Phật Di Lạc bằng đồng cao tới 152m sẽ được tiến hành ở đây thay vì ở Bodhgaya.
Ký sự Hành Trình về đất Phật hay gọi cho vui là Tây Du Ký Sự kết thúc ở đây tuy rằng chúng tôi còn phải đi ba ngày nữa mới về nhà. Sáng hôm sau chúng tôi lên đường trở lại Gorakhpur, từ đó đáp chuyến xe lửa dài nhất – 24 tiếng đồng hồ - đến Kolkata. Ngày hôm sau mới từ đó bay về Bangkok. Anh Claude ở lại Bangkok để đón một người bà con từ Canada sang Thái chơi. Chúng tôi chia tay nhau lúc sáng sớm ở khu Khao San trong im lặng.
Cuộc hành trình này kéo dài 5 tuần, có lẽ là chuyến đi xa dài nhất trong đời của tôi. Nhưng nhớ lại chuyến du hành của các ngài Pháp Hiển, Huyền Trang thì chuyến đi của mình không có nghĩa lý gì. Ngài Pháp Hiển khởi hành từ Trường An năm 399 lúc ngài đã 65 tuổi. Ngài đi mất 6 năm mới tới Thiên Trúc. Ngài du hành trong xứ Ấn 6 năm và trở về mất 3 năm. Ngài Huyền Trang khởi hành cuộc Tây du vào năm 629, và mất trọn 17 năm mới về lại kinh đô Trường An vào năm 646. Các ngài trải qua rất nhiều hoàn cảnh gian lao, nguy hiểm, vượt qua những sa mạc nắng cháy, những đỉnh núi tuyết cheo leo và băng qua hàng chục nước, hàng trăm vùng đất lạ. Các ngài là các vị xuất gia, đi sang Ấn để học tập, nghiên cứu, thỉnh kinh, dịch kinh, in sách làm lợi cho biết bao người. Ngài Pháp Hiển ghi lại Phật Quốc Ký, còn ngài Huyền Trang viết Đại Đường Tây Vực Ký. Sau này Ngô Thừa Ân viết truyện Tây Du Ký theo cảm hứng từ ký sự của ngài Huyền Trang.
Nhưng nghĩ lại, Đức Phật mới là nhà du hành vĩ đại nhất. Ngài ra đi từ lúc 29 hay 30 tuổi và cuộc lữ của ngài kéo dài 50 năm. Ngoài 6 năm khổ hạnh, những năm còn lại ngài đi khất thực, chỉ ăn mỗi ngày một bữa và có lẽ không ít lần nhịn đói. Ngài mang theo ba chiếc y vừa để mặc, vừa làm chăn đắp. Ngài thường ngủ dưới gốc cây. Chỉ vào mùa mưa ngài mới trú trong các tu viện tường đất, hay tường gạch, mái lá. Sau khi dùng bữa trưa ngài bắt đầu giảng pháp. Có khi buổi tối cũng còn giảng.Ngài đã đi bộ qua những xứ sở xa lạ, các vùng ngôn ngữ khác nhau, các nền văn hóa chưa hề biết đến đạo giác ngộ. Ngài đi qua nhiều con đường có lẽ chưa thành đường. Ngài băng rừng, vượt sông, vượt suối, gặp bao nhiêu thú dữ, rắn rít.
Đức Phật không viết ký sự du hành, cũng không viết sách. Nhưng những gì ngài thuyết giảng được những người đời sau ghi thành sách trong ba tạng kinh điển - kinh, luật, luận – khi in ấn cũng tới hàng trăm ngàn trang.
Ký sự du lịch ngắn này chỉ mong chia sẻ với bằng hữu một ít hiểu biết trên đường đi, mong tạo ra một chút cảm hứng cho bạn bè để lên kế hoạch cho những cuộc hành hương về xứ Phật sắp tới. Và chuyến du lịch chỉ có ý nghĩa khi nó không đơn thuần là một chuyến đi để gặt hái vài cảm giác mới mẻ nhưng chóng phai. Mong rằng mọi người trong chúng ta từ chuyến du lịch bình thường có cảm hứng để làm một cuộc hành trình đặc biệt về nội tâm mình, vì hiểu biết nội tâm là cơ sở để giải tỏa những khổ đau mà ai cũng gặp phải trên con đường đời.
TRẦN NGỌC BẢO
(Bản do tác giả gửi)

Quý độc giả muốn đọc đầy đủ xin vào trang:
http://art2all.net/chantran/chantran_tho/tranngocbao/taydukysu_mucluc.htm

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Tưởng niệm Thái Tuấn

Thái Tun

Đng Tiến

Thái Tuấn tên thật là Nguyễn Xuân Công, sinh ngày 11-9-1918 tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội – trong một gia đình công chức khá giả – đồng tuế và đồng môn với họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm. Anh có vào học trường Mỹ Nghệ Gia Định, và theo lớp dự bị tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, cùng khóa với Phan Tại, Đặng thế Phong, khoảng 1938-1940, rồi bỏ dở.

Thời chiến tranh chống Pháp, Thái Tuấn về sống ở quê ngoại Thanh Hóa, vẽ tranh cổ động, quảng cáo và quan hệ với nhiều nhà văn kháng chiến như Thanh Châu, Quang Dũng, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân. Sau hiệp định Genève 1954, anh di cư thẳng từ Thanh Hóa vào Sài Gòn, sống vào nghề vẽ quảng cáo và trang trí. Mãi đến khoảng 1956-1957 anh mới thật sự vẽ tranh sơn dầu nghệ thuật và dùng bút danh Thái Tuấn. Cùng với các họa sĩ di cư khác : Ngọc Dũng, Duy Thanh, Tạ Tỵ, Thái Tuấn đã góp phần xây dựng nền hội họa hiện đại tại Sài Gòn, được xem như có tham vọng làm thủ đô một nền văn hóa mới. Bốn họa sĩ nói trên đều là nhà văn, nhà thơ ; riêng Thái Tuấn thường viết lý luận về hội họa và mỹ thuật trên các báo Sáng Tạo, Bách Khoa, và Văn, thịnh hành lúc đó ; bài viết của anh ít tính cách kỹ thuật và chuyên môn, nên nhẹ nhàng, cởi mở và phổ quát, giúp nhiều độc giả làm quen với hội họa, là một ngành nghệ thuật mới đối với đại chúng. Những bài viết kết hợp với tác phẩm hội họa đẹp và dễ hiểu, tạo cho Thái Tuấn một uy tín : anh tham gia hội đồng giám khảo ở nhiều giải thưởng và phòng tranh. Những cuộc triển lãm cá nhân 1958, 1970, 1973 được dư luận đánh giá cao – về nghệ thuật và thương mãi.

Thái Tuấn đến với sơn dầu ở tuổi bốn mươi, nên tranh anh ít sắc cạnh, khai phá, mà giàu chất hoài niệm và tính văn học, tạo không gian thoáng rộng, u hoài, thi vị. Đề tài, ưu tiên là phụ nữ trong nhan sắc, dáng dấp, cử chỉ, y phục thuần túy Việt Nam trên nền màu sắc dịu nhẹ, dung dị mà tế nhị.

Nhan sắc ở đây chủ yếu không phải chỉ là nữ sắc mà là một thoáng đẹp giữa trần gian. Thái Tuấn vẽ nét đẹp của phụ nữ hơn là phụ nữ đẹp, người đàn bà hóa thân làm vẻ đẹp trong tranh, diễm ảo mà hư ảo, một thoáng hồng nhan, như một lời thơ. Họa sĩ Đinh Cường, tâm giao và thâm giao với anh từ non nửa thế kỷ, đã có lần nhận xét Thái Tuấn biến bức tranh thành một cấu trúc tiềm ẩn (1). Anh chỉ vẽ tiếng hát chứ không vẽ người mẫu, mà vẫn nhìn ra (ca sĩ) ; anh thường tâm sự : vẽ người mà không vẽ người. Vẽ như không vẽ mới đã...

Vẽ phụ nữ, Thái Tuấn quan tâm đến mái tóc, đôi khi mái tóc vận hành cấu trúc bức tranh, như bức Cội Nguồn, 1970 ; nhưng mái tóc trong tranh còn là một trời thu tạnh mơ say hương nồng. Anh có bức chân dung thiếu nữ, 1964, đặt tên bằng tiếng Pháp « Tes Yeux » (Mắt Em) , nhắc câu thơ mắt em là một dòng sông ; 1974 bức Bông Hồng Bạch, là hồn của bông hường trong hơi phiêu bạt, như một lẵng hoa vắng cả bông hoa / un bouquet absent de fleurs, theo một ý của Mallarmé.

Đến với hội họa ở tuổi bốn mươi, trải qua nhiều kinh nghiệm văn chương, Thái Tuấn để lại nhiều họa phẩm phảng phất chất văn học – có khi là một bài hát, như Dư Âm, hay Dòng sông cũ (vẫn xuôi niềm thương… )

Tiếng Pháp gọi họa sĩ làartiste-peintre ; ở Thái Tuấn, chất artiste nhiều hơn chất peintre, anh là nghệ sĩ hơn là họa nhân, anh là thi sĩ vẽ tranh, gọi anh là họa sĩ - thi nhân, như một Vương Duy thời Đường, có lẽ đúng. Trong mỗi họa sĩ, có một nghệ sĩ và một nghệ nhân : nghệ nhân lấy bức tranh làm đối tượng, nghệ sĩ lấy Cái Đẹp làm cứu cánh. Mà chữ Đẹp viết hoa là cõi Vô Cùng. Từ đó mỗi bức tranh Thái Tuấn dù đã hoàn tất và toàn bích, vẫn còn, vẫn là nỗi chờ mong – thiếu vắng. Đó là cách đọc những khoảng mông mênh trong tranh Thái Tuấn, những trời thu xanh ngắt, quạnh vắng chiều sông, nắng chia nửa bãi, để mộng tàn lây, nhớ nhà châm điếu thuốc… một không gian tư lự, u hoài và mơ ước trong mùa xuân chưa đi, mùa thu chưa đến. Đời Thái Tuấn là một bức tranh duy nhất và dở dang. Vẽ hoài mãi vẫn chưa xong một vạt trăng tơ, một tà nắng lụa.

Giới phê bình thường nhận xét : tranh hiện đại, tây phương của Thái Tuấn vẫn giàu chất Á Đông và dân tộc. Thật ra anh không mấy chủ tâm vào truyền thống, trường phái hay dân tộc tính, thậm chí trong thời kỳ sáng tác dồi dào nhất, những năm 1960-1970, anh còn hờ hững với dân tộc, định hình trong biên giới và lịch sử. Sau này, 1984, ra nước ngoài, ở tuổi xế chiều, anh mới hoài vọng về cảnh nông thôn và nông dân Bắc Bộ hồi đầu thế kỷ trước. Và đề tài quê hương mới rõ nét như một ám ảnh.

Ngày nay nhiều người đòi hỏi bản sắc dân tộc trong nghệ thuật, với những luận điệu có khi thô sơ. Để lý luận được khách quan, ta thử đối chiếu với một đề tài tương tợ : nghệ thuật và tôn giáo. Nhà văn công giáo thuần thành Jacques Maritain trong sách Nghệ Thuật và Kinh Viện đã nhắc nhở các nghệ sĩ, đại khái : nếu anh dùng nghệ thuật để phụng vụ đức tin, hay dùng tín ngưỡng để phục vụ nghệ thuật, thì hoặc là anh làm hỏng tranh, hoặc là anh làm rối đạo. Chuyển lý luận ấy sang chuyện dân tộc, cũng vậy thôi. Maritain càng nói rõ : trên lý thuyết nghệ thuật là siêu thời gian và siêu không gian, supra tempus, supra locum.(2) Nhưng trong thực tế, nghệ thuật do đề tài và cội rễ, thuộc một thời đại và một xứ sở. Những tác phẩm toàn cầu nhất, nhân đạo nhất đều mang rõ rệt dấu ấn của tổ quốc.


Về Thái Tuấn, Đinh Cường còn lưu ý: anh là người ngoan đạo nhưng không thấy anh đi nhà thờ. Màu sắc dân tộc e cũng cùng một cội nguồn, là những tình cảm đã nhập vào anh, ẩn sâu trong tiềm thức. Khi vẽ tự động ra.
Do đó mà Thái Tuấn vẽ cái gì rồi nó cũng ra dân tộc; vì suốt đời anh chỉ vẽ thuần một giấc mơ. Con người làm chủ, kiểm soát, điều khiển được tư tưởng, thậm chí tình cảm, nhưng không ai làm chủ được giấc mơ. Giấc mơ là cái gì không thể chia chác, và cũng không thể tái lập. Nhưng dường như các nghệ sĩ có khả năng sống lại, và làm sống lại trong một bức tranh.

Nếu ai cho tôi một từ, chỉ một từ thôi trong tiếng Việt để mô tả tranh Thái Tuấn, tôi sẽ xin chữ « thơ mộng », thơ của tuổi thơ và mộng làm bươm bướm. Nếu là tiếng hán việt, tôi sẽ dùng chữ « hoài vọng » ; hoài những bến xuân xưa và vọng về Miền Đẹp bồng đảo xa khơi.

Tranh Thái Tuấn là miền, là niềm an tịnh vô biên. Mỗi bức tranh Thái Tuấn là một tâm cảnh dạt dào tâm cảm, một thời khắc im lặng dặt dìu âm hưởng.

Nhưng hôm nay, chiều nay, giờ này , niềm lặng im bổng òa vỡ thành tiếng khóc

Đặng Tiến

Orléans, 20/10/2005, viết lại 26-9-2007

Ghi chú

(1) Đinh Cường, Thái Tuấn Cội Nguồn, báo Ngày Nay (Mỹ) số 354, ngày 01/11/1996

(2)Jacques Maritain, Art et Scholastique, báo Les Lettres, tháng 9-10, 1919, in lại 1935, trang 115 va 130, nxb Louis Rougart, Paris

Thư tịch:

Thái Tuấn, Câu Chuyện Hội Họa, nxb Cảo Thơm, 1967

, Sài Gòn


Thái Tuấn, Tuyển Tập Tranh và tiểu luận, nxb Vaala, 1996, California. (Có phụ lục phần phê bình, giới thiệu của nhiều tác giả khác)

Thái Tuấn, Nguồn Mỹ Cảm, tạp chí Văn, số 93, 1967, Sài Gòn.
Thái Tuấn, trả lời phỏng vấn Huỳnh Hữu Ủy, tạp chí Văn, số 199, 1972, Sài Gòn

Huỳnh Hữu Ủy, Bóng dáng Thái Tuấn giữa nền nghệ thuật hiện đại, tạp chí Thế Kỷ 21, số Xuân Bính Tý, 1996, California.
Phan thị Đỗ Quyên : Xem tuyển tập tranh và tiểu luận Thái Tuấn, tạp chí Thế Kỷ 21, số 91, tháng 11/1996, California

Nguồn: http://www.luanhoan.net

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 85 –19.9.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010, xem MỤC LỤC DANH SÁCH ở Kỳ 75)

851 - Đặng Thị Bích Ngọc

LIỆT SĨ SỐNG LẠI 34

Cán bộ về hưu tên cũ Nguyễn Thị Ngọc sinh 1952 tại Quảng Nam. Sống ở Tiền Giang (2011).

Mới 15 tuổi đã thoát ly đi du kích đánh Mỹ.

Chỉ không bao lâu bị thương nặng năm 1966 cứu chữa tại địa phương không hết nên cuối năm 1969 được đưa ra Bắc chưa tiếp.

Sau khi tạm lành bệnh được chuyển vào lại chiến trường Tây Nguyên rồi xuống Nam bộ làm ở bộ phận y tế chiến trường. Lại bị thương nữa may mà không chết song ảnh hưởng thần kinh.

Sau chiến tranh ở lại Tiền Giang làm ngành y tế song không nhớ gì về quảng đời đã qua lẫn quê hương gia đình thân thích.

Trong khi đó ở quê nhà mẹ mất, cha dượng không nhận được tin tức nên làm hồ sơ công nhận liệt sĩ năm 2001 theo tên cũ Nguyễn Thị Ngọc.

Trong lúc đó “liệt sĩ” vì bệnh dai dẳng đã được cho về hưu non năm 1982 ở tận Tiền Giang. Trí nhớ vẫn mơ hồ mờ mờ ảo ảo như người đi đêm.

Mãi đến năm 2011 không hiểu sao nhờ đâu mới dần hồi phục trí nhớ mình (từng) là ai ở đâu. Rồi từ đó lần mò tìm đường về thăm quê làm mọi người một phen… hết hồn!

852 – Lê Hoàng Khải

DẤU ẤN CÔ NHI VIỆN

Nông dân sinh khoảng 1960 tại Quảng Ngãi. Sống ở Quảng Ngãi (2011).

Năm 1968 trở thành trẻ mồ côi do cha mẹ trúng bom chết trên đường chạy loạn. Được người khác dắt díu chạy tiếp theo quán tính cùng đoàn người chạy loạn đi ăn xin khắp chợ, nhà ga Quảng Ngãi.

Cuối cùng được các xơ đưa về nuôi trong cô nhi viện Phú Hòa ở huyện Sơn Tịnh. Không nhớ cả tên cũ là gì nên mới được các xơ đặt tên mới ngày nay.

Sau hòa bình lập lại đã nhiều lần cất công đi truy tìm gốc gác tin tức gia đình cũ song đều không kết quả. Đành quay về quê mới Sơn Tịnh kiếm mảnh đất ở gần cô nhi viện xưa kia làm nông sống qua ngày.

Nhưng linh cảm thấy mình vẫn thiếu thốn tình thương gia đình nên mới nghĩ ra cách bù đắp bằng tình cảm cô nhi viện ngày nào từng ấp ủ nuôi dưỡng mình. Thế là quyết tâm noi theo tấm gương cô nhi viện ấy bằng cách tự xây dựng riêng cho mình một cô nhi viện nhỏ: Dùng nhà tranh vạch lá nông dân của mình để nuôi trẻ mồ côi đi “lượm” khắp nơi mang về! Đến nay đã nuôi 17 em như vậy, có em đã trưởng thành ra đời.

Để nuôi đủ đàn con không máu mủ, phải nai lưng làm đồng suốt ngày, làm lúa, tỉa bắp tỉa đậu, trồng mía trồng mì trên 10 sào đất nắng chang chang. Chiều rảnh thì tranh thủ chạy thêm xe thồ hay xe ba gác chở hàng kiếm tiền cho các “con” ăn học.

Không chỉ vậy còn hy sinh cả hạnh phúc đời riêng cho sự nghiệp “cô nhi viện tự phát” này: Lấy vợ được 2 tháng thì người vợ trẻ không chịu nổi cảnh nuôi “con người ta” nheo nhóc quá mệt mới đòi “ra riêng” nhưng chồng không đồng ý nên đôi bên phải sớm nói lời chia tay! Giải thích “Mình mà đi thì ai nuôi mấy đứa?”.

Đành chấp nhận “chết” tên “Ba Khải” một cái tên tiền định: Tên có từ hồi còn ở cô nhi viện do mình lớn thứ nhì trong nhóm trẻ mồ côi, còn nay là tên cha của tụi nhỏ vô gia đình vô gia cư nay đã tìm thấy mái ấm gia đình: “Điều tôi mong nhất là làm sao trên cuộc đời này không có những đứa trẻ phải vào cô nhi viện nữa.”

853 - Lê Khắc Hơn

LIỆT SĨ SỐNG LẠI 35

Thương binh sinh 1951 tại Thái Nguyên. Sống ở Cần Thơ (2011).

Thượng sĩ bộ đội chiến đấu ở Bến Tre và bị thương nặng ở đầu đúng vào ngày 30.4.1975.

Được đưa đi cấp cứu rồi chuyển qua Tiền Giang, Cần Thơ tiếp tục chữa trị trong thời điểm tình hình lộn xộn đơn vị ở Bến Tre không biết nên sau đó báo tử về quê Thái Nguyên công nhận liệt sĩ!

Nằm viện một thời gian dài ở Cần Thơ được chữa lành các vết thương bên ngoài nên được cho ra viện nhưng vết thương ở đầu vẫn còn nguyên gây bệnh mất trí nhớ.

Vì thế ra ngoài đời ngơ ngác không nhớ gì hết không biết mình là ai cũng không người quen bà con thân thích không thể cầu cứu nương nhờ vào đâu. Đành sống đời lang thang bụi đời làm đủ thứ việc để sống tạm qua ngày.

Đến năm 1991 gặp được một phụ nữ góa chồng (có 2 con đời trước) thương cảm đưa về nhà lấy làm chồng cùng làm bánh bông lan bỏ chợ. Sinh được 2 con.

Năm 2002 tình cờ một đồng đội cũ gặp được mới truy ra gốc tích quê hương, gia đình cũ rồi tìm cách báo về Thái Nguyên cho bà chị dâu biết.

Bà chị dâu vào tìm gặp rồi đưa về thăm quê sau 36 năm lưu lạc mất tích. Bấy giờ được làm lại giấy tờ hồ sơ thì Cần Thơ mới chính thức cho… nhập hộ khẩu!

854 - Lê Lý

CẢI ĐẠO TIN LÀNH VẪN XÂY CHÙA

Thường dân Việt kiều Mỹ sinh 1933 tại VN. Sống ở Mỹ (2008).

Di tản năm 1975 qua Mỹ.

Bước đầu bơ vơ trên đất lạ xứ người nên chấp nhận bỏ đạo Phật gia truyền cải đạo Tin Lành để được nhà thờ hỗ trợ nuôi con. Nhưng trong thâm tâm vẫn luôn thầm tụng kinh niệm Phật cố giữ niềm tin truyền thống khỏi bị mất gốc.

Vì thế khi con cái thành đạt cả rồi mới thương mẹ tìm cách xây cho mẹ một ngôi chùa ngay tại Texas nơi gia đình cư ngụ bởi biết đó là “giấc mơ cả đời” của mẹ.

Từ đó bà đã về VN hai lần năm 2005 và 2006 để chọn lựa kiểu dáng và vật liệu đưa sang Mỹ dựng nên một ngôi chùa nhỏ “đúng nghĩa và đúng kiểu” cho mình tu hành cuối đời.

Chùa đã khánh thành năm 2008.

855 – Lê Quang Ánh

“CÁNH TAY THÉP” CỦA NGƯỜI CHA

Bộ đội về hưu sinh 1940 tại Hà Nội. Sống ở TPHCM (2008).

Vào bộ đội năm 1963 từng chiến đấu trên những mặt trận ác liệt Khe Sanh, đường 9 Nam Lào rồi chuyển qua làm lính vận chuyển xăng dầu đường Trường Sơn. Vợ cũng là thanh niên xung phong rồi làm giao liên.

Sau chiến tranh về nhận nhiệm vụ tại Hà Nội.

Sinh được 3 con trong đó có một con gái sinh năm 1981 cũng là năm mình 50 tuổi bỗng nhiên tóc bạc trắng là một dấu hiệu dính CĐDC mà không biết. Cho nên cháu bé sinh ra đã bị di chứng CĐDC thân hình bé nhỏ chỉ cao chưa tới 1m, hai chân bại liệt không đi đứng được, 2 bàn tay co quắp.

Con không đi đứng được nên bố phải bồng bế lo mọi việc cho con từ làm vệ sinh đến thay áo quần, ăn uống, lên gác xuống gác. Vợ già cũng bệnh hoạn, còn hai con đầu đã lập gia đình ở riêng nên rốt cuộc chỉ còn mình ông bố lo cho em.

Rồi con lớn chút nữa ham học nên bố phải chiều con tự tay mình bồng con đi học Bồng bế con gái bằng 2 tay phía trước chứ không cõng trên lưng, may mà em bị bệnh nên chỉ nặng chưa tới 30kg!

Bồng con đi như vậy suốt thời gian học tiểu học. Đến cấp 2 mới kiếm được chiếc xe đạp chở con đến trường, qua cấp 3 mới có chiếc xe máy cũ thay vào, sau đó mới bế con vào lớp. Dù đã lớn tuổi vẫn cắn răng bế con lên mấy thang lầu vào lớp rồi quanh quẩn ngoài sân trường chờ tan trường lại đón con bồng về nhà, có khi gặp trời mưa gió phải đi cả tối mịt mới về.

Nhẫn nại lặng lẽ đưa con đi đi về về tất cả bằng 2 “cánh tay thép” của người thương binh tưởng giống như anh bộ đội ngày nào “chân trần chí thép”!

Nhưng con đường đi học của con ngày càng dài ra bởi có khi em phải học 2 năm mới xong một cấp lớp do bị bệnh tật hành hạ, nhất là vào mùa đông lạnh giá thường xuyên bị đau nhức các khớp xương toàn thân. Cũng vì thế năm 1994 bố phải xin chuyển cả gia đình vào TPHCM sinh sống tránh cái lạnh miền Bắc đồng thời tiện cho em vào Làng Hòa Bình của bệnh viên Từ Dũ.

Tuy nhiên bây giờ bố phải làm việc gấp đôi mỗi ngày 4 đợt bế con đi và về, ngày bế vào Làng làm quen với cuộc sống chung cùng bạn bè đồng cảnh ngộ, tối bồng đi học bổ túc.

Mất tới 17 năm dài như vậy con mới tốt nghiệp phổ thông bấy giờ thì bố đã gần còm lưng xệ vai gánh nặng tuổi tác. Con thấy vậy thương bố đã già rồi sợ không còn đủ sức bồng bế mình đi học nữa nên thôi không dám thi vào đại học.

May thay năm 2008 em được nhận vào lớp học nghề cắm hoa mỗi tuần chỉ đi học một buổi nên “người bố vĩ đại” – lời của em – mới đủ sức tiếp tục hành trình bế con đi học. Với ước mong con ra nghề mở shop bán hoa tại nhà để tự nuôi thân một khi “cánh tay thép” của bố đã xuội lơ không còn bồng bế em nổi nữa trên bao dặm đường đời vạn lý ngược xuôi...

856 – Lê Quang Chọn

3 THẾ HỆ UNG THƯ XƯƠNG

Nông dân sinh 19512 tại Thanh Hóa. Sống ở Thanh Hóa (2009).

Năm 1971 vào bộ đội lên đường chiến đấu ở mặt trận Nam Lào. Đến 1972 bị thương khá nặng (thương tật 51%) song vẫn theo đơn vị tiếp tục lên bám trụ Tây Nguyên cho đến ngày toàn thắng.

Sau 1975 xuất ngũ về quê làm ruộng, lấy vợ.

Nhưng vợ 3 lần mang thai đều sinh ra con dị dạng chết sớm. Mãi đến năm 1978 mới sinh được một con gái rồi 2 con trai nữa năm 1982 và 1985.

Tuy nhiên đến năm 1993 đứa con trai đầu bị phát hiện mắc bệnh ung thư xương phải cắt cụt một chân vẫn bị di căn lên phổi qua đời năm 1995. Tiếp đó cô con gái đầu 15 tuổi cũng dính căn bệnh này và cũng phải cưa cụt một chân may mà còn chống nạng sống sót .

Tới năm 2003 đến lượt đứa con trai thứ hai cũng lâm bệnh y hệt khiến cha mẹ chạy vay nợ tứ tung để cho con hóa trị song cuối cùng cũng lại phải cưa một chân nhưng cũng chỉ kéo dài sự sống được đến năm 2007. Nhà đã nghèo càng nghèo hơn một cái bát ăn cơm lành lặn cũng không có.

Tất cả lúc bấy giờ mới biết đều là hậu quả từ người cha cựu chiến binh nhiễm CĐDC từ chiến trường Tây Nguyên. Vì thế bản thân người cha lâu nay mang đủ thứ bệnh trong người mà không hiểu do đâu từ bệnh tiểu đường đến phù não cũng như thoái hóa cột sống một biến chứng khác của ung thư xương phải trải qua 2 lần phẫu thuật cắt bỏ 2/3 dạ dày.

Người mẹ đau lòng quá sinh ra mắc bệnh tâm thần thường xuyên lên cơn hoảng loạn thành người điên luôn!

Chưa hết, cô con gái sau này được một trai làng làm nghề hớt tóc thương cảm lấy làm vợ nhưng sinh con lại tiếp tục là một cháu bé bị… dị tật cột sống nữa. Chồng buồn chán quá bỏ đi khiến bị nhà chồng ruồng rẫy đành ôm con về nhà cha mẹ chưa biết ngày nào bóng ma ung thư xương trờ tới!

857 – Lê Quang Luận

CẦM NHẪN CƯỚI ĐI TÌM HÀI CỐT ĐỒNG ĐỘI

Lao động nghèo sinh năm 1946 tại Hà Đông. Sống ở Hà Tây (2006).

Năm 1967 cùng thanh niên trai tráng trong làng đi bộ đội vào Nam chiến đấu. Lăn lộn trên chiến trườøng miền Trung, Tây Nguyên, Nam Lào, Nam bộ.

Năm 1982 ra quân với một mảnh đạn còn nằm trong bã vai. Về quê làm cán bộ thuế, lấy vợ sinh 2 con.

Nhưng chỉ thời gian ngắn sau đó cả 2 vợ chồng lâm vào cảnh thất nghiệp, mình bị cho nghỉ vì lý do sức khỏe vết thương cũ tái phát, còn vợ do nhà máy làm ăn thua lỗ giải thể. Thế là vợ chồng lăn lưng vào làm đủ thứ nghề chân tay kiếm sống nuôi con nhỏ, bản thân chạy xe ôm, bốc vác, phụ thợ hồ, vợ thì buôn bán lặt vặt ngoài chợ. Cả nhà sống chui rúc trong căn nhà xập xệ tạm bợ rộng chỉ 9m2.

Nhưng khổ không sợ mà sợ đêm về không ngủ không yên giấc vì “Cơm đói, sống khổ tôi chịu được nhưng chẳng giấc ngủ nào được trọn vẹn vì hình ảnh đồng đội cũ cứ ập về làm tôi cứ thấy họ còn nằm trơ vơ đâu đó trên gò đất, bờ sông hoặc sâu hun hút trong cánh rừng tràm bạt ngàn…”

Lòng cứ mãi day dứt như thế nên năm 1993 quyết định giao chuyện nhà lại cho vợ để mình đơn thân độc mã tìm về lại chiến trường xưa ở miền Nam đi tìm hài cốt, mộ phần đồng đội một thời cho trọn lời thề năm xưa “ai còn sống thì lo cho người đã chết”. Ra đi mà trong tay tiền bạc mang theo chẳng bao nhiêu khiến vợ thương cảm tháo cả chiếc nhẫn cưới đưa cho chồng mang theo phòng ngừa khi hữu sự!

Kết quả chuyến đi đầu tiên vào tận Quảng Nam tìm được hài cốt một đồng đội. Qua năm 1995 tiếp tục vào Đà Nẵng tìm nữa, được thêm 21 bộ hài cốt khác.

Sau 14 năm lặn lội truân chuyên như thế đã tìm được tổng cộng 61 hài cốt đưa về Bắc, báo tin cho hơn 300 gia đình thân nhân liệt sĩ biết.

Dù vậy người thương binh già chạy xe ôm vẫn chưa chịu dừng bước mà “Còn sức là tôi còn đi” với niềm tin tâm linh sâu sắc chẳng quản ngại gian khổ hiểm nguy bom mìn còn nằm đâu đó bên cạnh các huyệt mộ: “Mình đi đưa anh em về tất đã có anh em dưới đó bảo vệ, không chết đâu mà sợ”!

858 - Lê Thị Bích Hường

NỮ ANH HÙNG “KHÔNG CHẾ ĐỘ”

Nông dân sinh 1941 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2009).

Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ phải đi chăn trâu cho nhà người để có cơm ăn qua ngày.

Năm 1962 gia nhập lực lượng dân quân xã tham gia trực hiến, đi rà phá bom mìn, vận chuyển bảo vệ các chuyến hàng hóa quân sự đưa vào phục vụ chiến trường miền Nam.

Cuối tháng 8.1966 máy bay Mỹ ném bom vùng này bị bắn rơi 2 chiếc trong đó có một thiếu tá phi công Mỹ nhảy dù thoát chết rơi xuống trên một quả đồi. Bản thân mình đang đi chăn trâu gần đó nhìn thấy nên chạy đến trong tay chỉ cầm một chiếc liềm vẫn xông đến bắt sống!

Thế là vinh quang tột đỉnh đến với người nữ anh hùng dân quê 100%: Được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huân chương, kết nạp Đảng cùng một loạt huân huy chương và bằng khen khác, cử đi báo cáo chiến công khắp nơi…

Rồi được cử đi học văn hóa bổ túc đào tạo thành cán bộ song đến nơi mới biết đương sự… mù chữ nên đành chịu, phải trả về đơn vị cũ dân quân xã!

Cuối năm 1968 gặp và lấy chồng là một thanh niên xung phong địa phương.

Sau 1975 dân quân lẫn thanh niên xung phong giải tán, 2 vợ chồng về quê làm ruộng sinh sống hoàn toàn không được hưởng chế độ gì cả.

Riêng mình dù một thời vinh danh anh hùng song lại không thuộc biên chế quân đội chính quy nên không có quy chế đãi ngộ lâu dài. Đã vậy, sau này địa phương mình ở bị chuyển qua xã khác (do phân chia lại địa giới các xã) nên xã cũ “quên” mất mình mà xã mới thì coi như không biết!

Hai vợ chồng chỉ còn biết cắm mặt xuống đất mà sống, bản thân mình phải đi mót củi gánh ra chợ bán, đi chặt cây chuối về thái ra nuôi lợn. Sinh được 2 con lớn lên đều vào Nam làm lụng kiếm sống để lại 2 vợ chồng già lủi thủi trong căn nhà xập xệ dột trước dột sau.

859 - Lê Thị Thắm

NỮ HỌA SĨ “NHÍ” VẼ BẰNG… CHÂN!

Học sinh sinh 1998 tại Thanh Hóa. Sống ở Thanh Hóa (2010).

Sinh ra đã không có 2 tay do di chúng CĐDC từ bà ngoại từng tham gia chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên.

Không chỉ thế, cơ thể ốm yếu của em trải qua bao vất vả mới sống được: Gần 2 tuổi mới biết trườn, 3 tuổi mới tập đi chập chững, 4 tuổi mới nói được…

Lên 5 tuổi đòi đi học mẹ phải nài nỉ xin cho vào trường mẫu giáo, rồi vào tiểu học.

Rất chịu khó ham học nên cần cù luyện tập viết bằng… chân trái kể cả khi lên viết bảng đen chỉ đứng một chân (phải) làm chỗ tựa để chân (trái) kia cặp viên phấn vào mấy ngón chân viết lên bảng.

Vậy mà lại viết chữ nắn nót… đẹp nhất lớp!

Từ đó còn phát hiện ra năng khiếu… vẽ tranh với những đường nét in đậm cảm xúc độc đáo. Một bức tranh như vậy đã đoạt giải nhì trong cuộc thi do Hội Mỹ thuật Thanh Hóa tổ chức năm 2007.

Hiện tiếp tục dùng một chân tập đánh vi tính chân kia “nhấp” con chuột để theo kịp các anh chị lên lớp cấp 2.

860 - Lê Triết

BỊ ÁM SÁT CẢ 2 VỢ CHỒNG

Nhà báo Việt kiều Mỹ sinh 1929 tại VN – Mất 1990 ở Mỹ (61 tuổi).

Qua Mỹ sau 1975 chuyên viết bình luận cho tuần báo Văn nghệ Tiền phong.

Tuy đây chỉ là tờ báo chuyên về văn nghệ giải trí song đôi lúc không tránh khỏi đụng chạm với một số tổ chức chống Cộng cực đoan. Từ đó năm 1990 cả 2 vợ chồng đã bị bắn chết trên ô tô khi vừa về đến nhà ở bang Virginia.

Trước đó vào năm 1989 họa sĩ trình bày của báo Đỗ Trọng Nhân cũng đã bị bắn chết trên xe hơi của mình cùng tại bang này.

Thủ phạm tự nhận là “Diệt Cộng Hưng quốc Đảng” (VOECRN) song cảnh sát Mỹ điều tra không tìm ra ai cả!

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/hshc-ki-85

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 84 –12.9.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010, xem MỤC LỤC DANH SÁCH ở Kỳ 75)

841 – Đặng Thị Xơ

NGƯỜI VỢ 7 NGÀY

Công chức về hưu sinh khoảng 1952 tại miền Bắc. Sống ở Hà Nội (2011).

Năm 20 tuổi lấy chồng là một sinh viên năm thứ ba ĐH Xây Dựng Hà Nội được gọi nhập ngũ trong đợt tổng động viên khẩn cấp năm 1972 huy động khoảng hơn 20.000 sinh viên thủ đô cấp tốc vào phục vụ chiến trường Quảng Trị nóng bỏng.

Vì thế đôi vợ chồng trẻ chỉ sống với nhau được một tuần lễ thì người chồng sinh viên phải lên đường vào chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972.

Trên chiến trường khốc liệt này, người lính thư sinh của thế hệ “những chàng trai binh nhì” linh cảm thấy cái chết gần kề khó tránh khỏi nên đã viết thư về dặn người vợ mới cưới rằng nếu mình có mệnh hệ gì thì “Em hãy gạt nước mắt cho đời được trẻ lâu. Nếu có điều kiện, hãy đi bước nữa. Và hãy nhớ đến anh để hồn anh được bay cao ôm ấp hạnh phúc mới của em.”

Và quả đúng như lời tiên tri, người chồng đã sớm bỏ mình trên trận địa máu lửa dữ dằn vào loại bậc nhất cuộc chiến, thành một trong trên 10.000 liệt sĩ binh nhì thanh niên mầm non trí thức của Hà Nội.

Chỉ có điều người vợ ngắn ngủi kia không nghe không làm theo lời anh nhắn nhủ mà vẫn ở vậy 40 năm thờ chồng để cho hồn anh được trọn vẹn bay cao.

842 - Lại Anh Tuấn

KHI NGƯỜI CÂM ĐI LẠC

Nông dân sinh 1972 tại Tây Ninh. Sống ở Tây Ninh (2009).

Cha mẹ sống trong vùng chiến khu Tây Ninh nên bị dính CĐDC, sinh ra con trai câm điếc từ nhỏ.

Còn nhỏ lại bệnh tật ngờ nghệch nên một ngày nọ bị kẻ xấu dụ theo mình lưu lạc xuống tận Đồng Tháp Mười một thân một mình bơ vơ đói khát. Cuối cùng được một gia đình nọ thương tình cưu mang.

Cha mẹ nuôi muốn giúp đỡ con nuôi tìm lại gia đình song đành chịu vì không hiểu người câm “nói” gì! Đành cho đi chăn vịt sống qua ngày.

Bà mẹ bỏ hàng chục năm lặn lội khắp nơi tìm con không ra.

May mà mãi đến năm 2009 nhờ chương trình tìm người thân của VTV đưa xuống tận Đồng Tháp mới thấy lại mặt con, khi đó con (câm) đã gần 40 tuổi chỉ còn biết mếu máo ú ớ nhìn mẹ òa khóc mà thôi.

843 - Lâm Văn Phát

ĐẢO CHÁNH CHẾ ĐỘ CŨ VẪN ĐI CẢI TẠO

Thiếu tướng VNCH sinh 1927 tại Cần Thơ – Mất 1998 ở Mỹ (72 tuổi).

Thuộc gia đình đại địa chủ nhưng giác ngộ cách mạng sớm có tư tưởng tiến bộ bậc nhất miền tây Nam bộ từ người cha là nhà giáo hiệu trưởng trường Pháp Taberd Cần Thơ (nay là trường Châu Văn Liêm) nhưng lại là đảng viên cộng sản chống Pháp, thầy của các tên tuổi cộng sản Nam bộ sau này Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Hưởng. Và người chị đầu vừa nhan sắc vừa trí thức (tốt nghiệp tú tài Tây) tham gia hoạt động tình báo từ thời trẻ.

Vì thế bản thân mình lúc trẻ từng có thời gian được chị dẫn dắt theo cộng sản. Tuy nhiên thời cuộc xoay chuyển hướng cuộc đời theo con đường khác: Năm 1946 bị Pháp bắt đi lính liền đào nhiệm bỏ vào chiến khu chống Pháp; năm 1948 về Cần Thơ ở với chị hoạt động thân Cộng được một thời gian thì chị bị lộ bỏ trốn còn mình bị bắt may được người quen bảo lãnh cho thoát tội đưa qua Pháp học lớp sĩ quan thiết giáp.

Năm 1949 về nước mất liên lạc nên chấp nhận ở lại trong quân đội Pháp rồi 1954 chuyển vào Nam phục vụ chế độ Ngô Đình Diệm trong khi cha và chị tập kết ra Bắc (cha qua đời tại đây).

Nhưng bản thân dù xuất thân sĩ quan Pháp cộm cán vẫn không được chế độ miền Nam tin dùng do quá khứ có liên quan cộng sản. Vì vậy sinh bất mãn liên tục tham gia 4 cuộc đảo chính nhằm lật đổ các chế độ quân nhân cầm quyền ở Sài Gòn thời này.

Đầu tiên năm 1963 theo tướng Dương Văn Minh lật đổ chế độ Diệm. Tiếp đó đầu năm 1964 lại theo tướng Nguyễn Khánh đảo chính Dương Văn Minh nên được phong chức tư lệnh quân đoàn rồi ra làm bộ trưởng chính phủ Nguyễn Khánh. Cuối năm 1964 lại theo tướng Dương Văn Đức âm mưu đảo chính Nguyễn Khánh bất thành. Qua năm 1965 theo Phạm Ngọc Thảo (đại tá cộng sản nằm vùng, em cố bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nhân vật chính Nguyễn Thành Luân trong thiên truyện “Ván bài lật ngửa” của nhà văn chính trị Trần Bạch Đằng) giật dây đã đứng ra tổ chức đảo chính Nguyễn Khánh lần nữa. Lần này tuy đánh đổ được Nguyễn Khánh nhưng bị nhóm “tướng trẻ” Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ cướp quyền và bắt đưa ra tòa tước quân hàm buộc xuất ngũ (riêng PN Thảo bỏ trốn rồi bị ám sát chết).

Đến trước 30.4.75 được “tổng thống một ngày” Dương Văn Minh gọi ra giao chức tư lệnh biệt khu thủ đô Sài Gòn vừa nhận nhiệm vụ thì được lệnh… đầu hàng! Trước đó đã được bà chị thiếu tá quân báo cộng sản (năm 1962 bí mật trở lại miền Nam hoạt động binh vận) vận động nên có thể cũng vì thế mà sẵn sàng thi hành lệnh “bàn giao” cho cộng sản bất chấp phản đối của thuộc cấp (đại tá tư lệnh phó đòi đánh không được đã rút súng tự sát). Cũng không lên máy bay trực thăng chờ sẵn để di tản vì “Tôi có chí hướng của tôi”.

Không biết “chí hướng” đó rõ ràng thế nào song sau đó phải trả giá bằng hơn 10 năm đi cải tạo dù có bà chị cách mạng sau này được phong Anh hùng, trở thành nhân vật tiểu thuyết và phim truyện tôn vinh là “người đẹp Tây Đô” đánh Pháp đánh Mỹ chiến công lẫy lừng (mất 2010 thọ 93 tuổi)!

Sau khi được tự do đi H.O qua Mỹ và qua đời trên đất khách quê người.

844 - Lê Cung Bắc

GIỮA 2 BỜ GIỚI TUYẾN

Đạo diễn điện ảnh tên thật Lê Hữu Ty sinh 1947 tại Quảng Trị. Sống ở TPHCM (2011).

Sinh ra và lớn lên ngay bên dòng sông Thạch Hãn chia đôi bờ Bắc – Nam cũng là biểu tượng chia đôi gia đình anh em cùng cha khác mẹ nửa tập kết ra Bắc nửa ở lại làm quan chức miền Nam.

Từ cấp 3 trung học vào Huế học trường Quốc Học, sau đó lên Đà Lạt học đại học tốt nghiệp cử nhân chính trị kinh doanh. Trong thời gian này phát huy năng khiếu bẩm sinh đóng kịch rất nghề trong ban kịch “Thụ Nhân” của ĐH Đà Lạt.

Năm 1971 xuống Sài Gòn tham gia làm báo trong đó có tờ Sóng Thần của Chu Tử theo khuynh hướng chống Cộng cực đoan đồng thời được mời đóng kịch trên đài truyền hình Sài Gòn. Được chế độ Sài Gòn ưu ái cho đi theo đoàn đại biểu dự liên hoan, hội thảo văn hóa giáo dục ở Pháp và Canada.

Rồi bị động viên đi lính trường bộ binh Thủ Đức. Ra trường chuyển về làm ở đơn vị hậu cứ đóng tại Thủ Đức.

Vì thế sau 1975 bị đi cải tạo 3 năm, trở về phải chạy lên Đồng Nai kiếm đất làm rẩy đại khái để tránh bị đi kinh tế mới. Nhưng không đi vượt biên vì nhận mình bản chất “thuộc dạng người sống với quá khứ và nặng tình hoài hương”.

May sao đến lúc đó anh em từ miền Bắc trở về (làm khá lớn) mới kịp làm hồ sơ chứng nhận thuộc “gia đình cách mạng” tạo điều kiện cho trở lại TPHCM năm 1981 đượïc bạn bè cũ đưa đi đóng phim. Bắt đầu từ đó nổi lên là một diễn viên có trình độ trí thức nghiêm túc, diễn xuất có chiều sâu, nổi nhất là vai diễn trong phim “Con thú tật nguyền”.

Từ đó qua kinh nghiệm diễn xuất và tự học phát triển lên làm đạo diễn với bộ phim đầu tay “Nhịp đập trái tim” năm 1994. Tiếp theo là một loạt phim điện ảnh (“Dòng đời”, “Cõi tình”, “Dấu ấn của quỷ”…) lẫn truyền hình được đánh giá cao (“Người đẹp Tây đô”, “Không thể rẽ trái”, “Vó ngựa trời Nam”)…

Là nghệ sĩ - sĩ quan Ngụy hiếm có (duy nhất?) được chế độ mới phong Nghệ sĩ Ưu tú.

845 – Lê Dân

TỪ PHIM XÃ HỘI ĐẾN PHIM CỘNG SẢN

Đạo diễn điện ảnh tên thật Lê Hữu Phước sinh 1928 tại Tây Ninh. Sống ở TPHCM (2011).

Năm 1946 đi du học Pháp trở về Sài Gòn bắt đầu làm phim truyện đầu tay nổi tiếng “Hồi chuông Thiên Mụ” năm 1957 đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của nữ diễn viên Kiều Chinh sau này được xem là ngôi sao điện ảnh trình độ nhất miền Nam (hiện vẫn còn hoạt động điện ảnh ở Mỹ).

Sau đó là một loạt tác phẩm điện ảnh khác khá thành công điển hình là “Loan mắt nhung” (phỏng theo tiểu thuyết của Duyên Anh), “Xóm tôi”, “Sau giờ giờ giới nghiêm”… Hầu hết đều tập trung vào mảnh đề tài xã hội miền Nam thời chiến tranh phát sinh nhiều tệ nạn.

Đáng ngạc nhiên sau 1975 là đạo diễn hiếm hoi chế độ cũ được chế độ mới tin dùng tiếp tục thực hiện nhiều bộ phim truyện nhựa khác nhiều hơn cả… đạo diễn cách mạng chính cống! Như các phim tiếp tục đề tài xã hội dưới cái nhìn lạc quan của chế độ mới “Trang giấy mới”, “Cánh đồng mơ ước” “Con mèo nhung”, “Pho tượng”, “Xương rồng đen”…

Đặc biệt một số phim khắc họa hình tượng chiến sĩ cộng sản anh hùng như “Người con gái đất đỏ” (cuộc đời liệt sĩ Võ Thị Sáu), bộ phim truyền hình “Ông Cố vấn” (theo truyện tình báo cộng sản của Hữu Ma). Và gần đây nhất năm 2010 là “Những bức thư từ Sơn Mỹ” lấy cảm hứng từ vụ lính Mỹ thảm sát ở Mỹ Lai (Quảng Ngãi) có dự Liên hoan phim Cannes tại Pháp.

Thì ra đạo diễn thời học ở Pháp từng gia nhập Đảng Cộng sản Pháp nên 1952 bị trục xuất về nước, sau đó có bị bắt ở tù vì tội thân Cộng!

846– Lê Đình Chiến

TRẢ NGHĨA ĐỒNG ĐỘI RỪNG SÁT

Quản trang sinh 1948 tại Trà Vinh. Sống ở TPHCM (2007).

Năm mới 16 tuổi đã đi du kích đánh Mỹ ở quê nhà Trà Vinh.

Năm 1966 chuyển về làm lính đặc công thủy Đoàn 10 chuyên đánh giặc trên sông Lòng Tàu trong đặc khu Rừng Sát thuộc huyện Cần Giờ TPHCM ngày nay.

Sau 75 còn làm nhiệm vụ huấn luyện tân binh cho chiến trường Campuchia. Đến 1978 mới xuất ngũ thiếu úy thương binh 4/4 về quê Trà Vinh lập gia đình, được cấp đất cấp nhà ổn định cuộc sống.

Nhưng khi đời sống đã tạm ổn vẫn thấy lòng day dứt không yên khi nhớ về bao đồng đội cũ đã bỏ mình mất xác không biết nơi đâu, cả gia đình thân nhân cũng bặt tin. Nhớ lại hồi đó anh em thường dặn nhau, hứa với nhau rằng sau này ai còn sống có bổn phận phải lo cho người đã chết.

Vì thế năm 1989 bỏ lại tất cả cơ nghiệp xây dựng dắt díu vợ con về lại chiến trường cũ Rừng Sát xin vào làm quản trang nghĩa trang Rừng Sát mới thành lập còn tiêu điều xơ xác.

Từ đó suốt ngày chăm lo cho từng ngôi mộ đồng đội, còn đi khắp nơi tìm kiếm hài cốt đưa về nghĩa trang nâng số mộ từ 800 lên hơn 1.000 mộ trong đó gần đủ 810 mộ liệt sĩ Rừng Sát bạn mình ngày nào. Lương quản trang không đủ sống khiến các con sau giờ học phải ra biển cào nghêu đem bán kiếm thêm tiền lo việc học hành.

Dù vậy vẫn miệt mài bên cạnh các ngôi mộ thân quen săn sóc “trò chuyện” hàng ngày tuy còn 5 vết thương trong người trái gió trở trời luôn gây đau nhức toàn thân: “Nghĩa tử là nghĩa tận đây là việc phải làm vì mình may mắn hơn anh em được hưởng cuộc sống hòa bình…”

Càng về già càng ráng làm chăm lo mộ phần không ngơi tay vì sợ không còn sống được bao lâu nữa!

847 - Lê Hoàng Hoa

LÀM PHIM ĂN KHÁCH CẢ 2 CHẾ ĐỘ

Đạo diễn điện ảnh tên thật Đoàn Lê Hoa sinh 1933 tại Nha Trang. Sống ở Ba Lan (2011).

Lớn lên ra Huế học trường Khải Định rồi được học bổng đi Mỹ học đạo diễn điện ảnh 7 năm nắm vững bí quyết làm phim thành công hiện đại 30% nghệ thuật + 70% thị trường.

Từ đó về Sài Gòn nhanh chóng trở thành tác giả nhiều bộ phim rất ăn khách (nhờ pha thể loại trinh thám, hành động, kinh dị) trước 75 ở miền Nam như “11 giờ 30 phút”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”, “Điệu ru nước mắt”, “Chân trời tím”, “Con ma nhà họ Hứa”, “Gác chuông nhà thờ”, Bẫy ngầm”…

Sau 1975 cùng vợ một nữ ca sĩ và 2 con vượt biên nhưng nửa chừng vợ con mất tích trên biển còn mình bị bắt giam hơn 9 tháng.

Khi được thả ra may mắn được một quan chức chế độ là nhà văn Trần Bạch Đằng mở đường mời thực hiện bộ phim truyền hình “Ván bài lật ngửa” phỏng theo tiểu thuyết của ông (cùng lúc bảo lãnh cho diễn viên Nguyễn Chánh Tính cũng đang ở tù vượt biên về đóng vai chính phim này). Làm trong 5 năm hoàn thành 8 tập phim được đông đảo khán giả theo dõi khen ngợi.

Nhờ đó vượt qua được cuộc khủng hoảng tinh thần nỗi đau mất mát gia đình ruột thịt. Cũng vì thế lấy nghệ danh mới Khôi Nguyên ghép tên lưu niệm 2 đứa con xem như đã vùi thây trên biển cả.

Tiếp đó làm đạo diễn một loạt phim ăn khách khác gồm “Lệnh truy nã”, “Cao nguyên F-101”, “Xác chết trên cao nguyên”, “Aùn mạng trong ốùng kính”…

Rồi lấy vợ mới nhỏ hơn… 30 tuổi (có tiếng đào hoa, người vợ trước cũng nhỏ hơn 20 tuổi!).

Năm 1995 qua định cư ở Ba Lan theo nhà vợ vì muốn lo cho con gái duy nhất còn lại.

Năm 2007 con đã trưởng thành mới quay về nước ấp ủ dự định mở hãng phim bởi đi xa vẫn nhớ nghề nhớ quê hương sự nghiệp một đời thành đạt hiếm có giữa cơn biến động lịch sử vùi dập bao con người trong đó có vợ con mình: “Tôi hài lòng cả 2 giai đoạn làm phim trước và sau 75. Tôi rất hạnh phúc được khán giả mến mộ mặc dù tôi chẳng giỏi gì về chính trị hay về cái gì khác… Tôi cũng rất hạnh phục được chứng kiến cả 2 giai đoạn lịch sử. Tôi được sống cả 2 giai đoạn và được quần chúng thương mến, đó là cái mà tôi xem quý hơn tất cả các giải thưởng điện ảnh.”

848 - Lê Hồng Sơn

LÀM THỢ MỘC BẰNG… CHÂN!

Lao động sinh tại Hà Tĩnh. Sống ở Hà Tĩnh (2010).

Chịu di chứng CĐDC từ bố bộ đội đánh Mỹ ở miền Nam nên từ khi sinh ra đã bị liệt 2 tay, còn 2 chân đi được nhưng khỏng kheo với 2 bàn chân to bè ra dính các ngón vào nhau như màng chân vịt.

Nhưng vẫn không nản lòng, cố gắng học hành đàng hoàng rồi lớn lên ra thành phố học nghề thợ mộc. Do 2 tay xem như vô dụng nên tập luyện sử dụng 2 chân thay thế có thể làm đượïc bất cứ việc gì mà người khác làm bằng 2 tay, đã vậy đây lại là những việc khó trong nghề mộc như cưa, bào, khoét lỗ, đóng mộng, đóng đinh…

Sau khi thành nghề rồi quay về làng nghèo xã Phú Gia làm nghề, mở cơ sở sản xuất đồ gỗ riêng sống được. Lấy vợ sinh con bình thường.

Không chỉ thế, còn mở lớp dạy nghề miễn phí giúp kiếm công ăn việc làm cho những nạn nhân CĐDC đồng cảnh ngộ như mình. Với chí hướng rành rẽ: “Mình sống không phải chỉ để cho riêng mình mà phải biết chia sẻ với ngườøi khác, những người cùng có số phận không may như mình.”

849 – Lê Hồng Thủy

KỲ TÍCH NGƯỜI MÙ

Dịch giả sinh năm 1929 tại Nghệ Tĩnh. Sống ở Hà Nội (2009).

Năm 1964 vào miền Nam chiến đấu. Tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968 rồi chuyển qua công tác quân báo.

Năm 1969 trong một trận chống càn ở Củ Chi (Sài Gòn) bị thương mù cả 2 mắt. Được chuyển về Bắc chữa trị rồi xuất ngũ thương binh mù.

Trở về đời thường không cam chịu sống đời vô vị nên đã kiên trì tập đọc chữ nổi Braille dành cho người mù (đọc bằng cách sờ lên mặt chữ). Trước hết là chữ Braille tiếng Việt rồi nhờ có sẵn kiến thức ngoại ngữ mới chuyển qua học chữ Braille tiếng Pháp và tiếng Anh.

Không chỉ tập đọc, viết chữ nổi mà còn tập đánh máy chữ Braille nữa. Tất cả nhằm thực hiện ý định dịch sách từ chữ Braille Anh, Pháp qua chữ Braille tiếng Việt nhằm quảng bá kiến thức cho những người đồng cảnh ngộ mùa lòa như mình. Đòi hỏi nỗ lực quá lớn đối với một thương binh tàn tật đã khá lớn tuổi với trong người còn vết thương chiến tranh, cần rất nhiều ý chí, nỗ lực cần cù, chịu đựng, nhẫn nại, tỉ mỉ …

Cuối cùng tác phẩm dịch từ chữ nổi tiếng Pháp ra chữ nổi tiếng Việt đầu tiên hoàn thành dày 300 trang sau ròng rã 4 tháng trời “đánh vật” với chiếc máy chữ Braille mỗi ngày 12-14 tiếng đồng hồ.

Cứ thế tiếp tục dịch hàng ngàn trang sách chữ nổi tiếng Anh, Pháp. Bên cạnh đó còn chép lại hơn 50 cuốân sách giáo khoa cấp 1-2, sách truyện cổ tích – danh nhân VN ra chữ nổi để phổ biến trong giới người mù trình độ thấp.

Không chỉ thế, từ kinh nghiệm làm việc của riêng mình còn góp ý cải tiến hệ thống chữ nổi và bảng viết chữ nổi tiếng Việt.

Từ năm 2000 còn lên kế hoạch làm Tủ sách “Người mù đó đây” với chỉ tiêu tự đặt cho mình là mỗi tháng dịch và đánh máy xong một tập sách chữ nổi tiếng Việt cỡ 80-100 trang phổ biến kiến thức đại chúng cho người mù.

850 - Lê Huỳnh

NGƯỜI CHA ĐỘC THÂN CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT

Cán bộ về hưu tên thật Huỳnh Văn Cam sinh 1940 tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2011).

Xuất thân con nhà nghèo mồ côi được bạn của cha giúp đỡ nuôi ăn học. Lớn lên làm nghề dạy học ở Bến Tre được 3 năm rồi thoát ly đi kháng chiến năm 1960 vào chiến khu Giồng Trôm.

Làm văn công viết tuồng cải lương lấy nghệ danh Lê Huỳnh ghép họ nội và họ người mình xem như cha nuôi. Năm 1970 bị bom ném trúng hầm làm chấn thương cột sống may mà sống sót.

Sau chiến tranh ra quân thương binh 3/4, mất sức lao động 45% chuyển qua làm cán bộ chính quyền. Năm 1987 làm Phó chủ tịch Bến Tre, qua năm 1996 lên chủ tịch tỉnh đến năm 2000 về hưu.

Từ khi còn tại chức đến cả sau khi về hưu luôn tập trung chăm lo cho trẻ em khuyết tật, bệnh hoạn trong tỉnh (một số là nạn nhân CĐDC) thông qua vận động các tổ chức nhân đạo quốc tế đặc biệt nhiều nhất là từ Nhật Bản. Giúp xây bệnh viện, mở phòng khám bệnh miễn phí, mở trường nuôi dạy trẻ, tổ chức phẫu thuật hở môi – hàm ếch và mổ tim cho trẻ em nghèo, cấp học bổng... Thành lập Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và người tàn tật Bến Tre năm 2003.

Do những đóng góp đó năm 2002 được Nhật trao tặng giải thưởng Kazuo Itoga vì sự nghiệp cống hiến cho trẻ thơ bất hạnh, tàn tật. Được viết sách và dựng phim chân dung tại Nhật.

Bản thân vì hậu quả trận bom năm xưa nên mắc bệnh cột sống lẫn bệnh tim kéo dài hơn 40 năm. Vì thế không dám lấy vợ, trở thành ông già độc thân không vợ con nhưng đi đâu gặp trẻ em khuyết tật Bến Tre đều trìu mến gọi “Ba Năm”!

Xem như là phần thưởng an ủi một đời người tận hiến cho hạnh phúc trẻ thơ bất hạnh: “Đó không phải chỉ là trách nhiệm của tôi đối với xã hội mà qua đó tôi còn tìm thấy niềm vui và học hỏi được nhiều điều từ người tàn tật và trẻ em mồ côi như ý chí vươn lên, tinh thần lạc quan yêu đời…”

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hshc-ki-84