Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2021

Bài viết DU TỬ LÊ: Giới thiệu Thơ TỪ HOÀI TẤN

 

Du Tử Lê giới thiệu: Hành trình thơ Từ Hoài Tấn trong hơn nửa thế kỷ

Hành trình thơ Từ Hoài Tấn  trong hơn nửa thế kỷ 
người giới thiệu: Du Tử Lê

1- Mưa, chiếc bóng thứ hai, trong hành trình thơ Từ Hoài Tấn?

Kể từ giữa thập niên 1960, tiếng thơ Từ Hoài Tấn đã được nhiều người biết tới, qua những bài thơ tình trên các tạp chí, tuần báo văn chương như Văn, Nghệ Thuật, Trình Bày, Khởi Hành v.v… Nhưng bản chất khiêm nhường, kín đáo, trong đời thường rất ít người biết ông là nhà thơ (ngay cả những bạn thân tình). Với tôi, đây là một tâm-thế-sống, chọn lựa lui vào, ẩn sâu trong cõi riêng, rũ bỏ phồn tạp đời thường – – Phong cách trực diện với nín lặng, cô đơn thường thấy ở một số thi sĩ? Hay đó là hiệu ứng, “phản cung” những tra khảo, cay nghiệt của xã hội?
Không rõ, nhưng tôi trân trọng tính “lui vào, ẩn sâu cõi riêng” rất thi sĩ của ông.
Về tính khiêm cung của Từ Tấn Hoài, nhà thơ và cũng là họa sĩ Võ Công Liêm (*), hiện cư ngụ tại Canada, từng cho biết:
“Tôi thân quen với Từ Hoài Tấn hồi năm 1968. Sau Tháng Tư 1975 thì chúng tôi được đời chọn cho mỗi người một cuộc sống khác nhau. Thuở ấy tôi chưa biết Từ Hoài Tấn là nhà thơ. Mặc dù anh đã có thơ đăng rải rác trên các tạp chí ở miền Nam. Chúng tôi trao đổi những chuyện thế sự qua tách cà phê hoặc nhiều khi họp mặt anh em. Tuyệt nhiên không nghe ai nói anh làm thơ. Tôi thường gọi tục danh anh mỗi khi xưng hô, đâu có biết, về sau này người bạn thân tôi là thi sĩ. Từ đó tôi thường hay đọc thơ anh và yêu thơ anh.
“Khi sống gần gũi những năm tháng sau nầy mới nhận ra được nhân cách sống của anh rõ nét hơn. Anh trầm lắng hơn trước đây hay đời biến đổi anh, tôi nghĩ như thế. Nhưng không, anh vẫn hài hòa như ngày nào, tuy nhiên vẫn không giấu được nỗi thầm kín trên gương mặt anh, không phải vì làm thơ mà anh trở nên thơ thẩn để cho ra ‘thi sĩ’. Cái bản chất anh là thế! Bởi vì xưa nay anh không tỏ một ‘dấu yêu’ nào là anh làm thơ và không chứng minh điều gì về thơ cả, anh ung dung trong tư thế đó. Tôi đem lòng khâm phục đức tính nhân hậu, khiêm tốn của một nhà thơ như anh…” (*)
Có dễ khởi đi từ tình thân trải dài nhiều năm trong đời thường, nên khi nhận định về cõi-giới thơ Hoài Tấn, họ Võ đã có những ghi nhận khá sâu sắc, cụ thể:
“Thuở đó và ngay cả bây giờ có rất nhiều người làm thơ, làm thơ vần lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ, thơ tự do, thơ mới và thơ tân hình thức. Tôi thích thơ Từ Hoài Tấn dưới mọi thể anh làm. Thơ anh phản ảnh nhiều mặt tình cảm, đời sống, quê hương đất nước và tình người. Tất cả chứa đựng chất hiện thực và hiện sinh trong thơ anh, có nhiều bài thơ đọc lên thấy được đôi điều mà anh trút hết sự thầm kín đó vào thế giới nội tâm hơn là thế giới ngoại hình, rồi từ đó anh phá lệ, vượt thoát qua mọi thể thơ anh viết. Thơ anh tiềm ẩn và sáng tạo, dòng thơ đi lần vào dạng thơ siêu thực, đó là khuynh hướng siêu thực thơ (surrealism poetry) mà rất ít tìm thấy ở những nơi khác. Anh muốn vượt ra khỏi hiện hữu để trở về bản chất cố hữu của riêng anh.
“Từ Hoài Tấn dồn hết những xúc cảm nội tại vào thơ qua những tình huống xảy ra trong đời tác giả. Những tai ương, những khốn cùng mà anh tiếp cận với cuộc đời, đặc biệt về mặt tình cảm nói chung là nỗi ray rứt không nguôi trong dòng đời anh đi qua và anh nhủ thầm điều bất hạnh đó chỉ dành cho anh. Chính những băn khoăn với đời, với tình mà biến anh trở nên trầm lắng, trầm lắng của bản chất hay trầm lắng bởi tuyệt vọng? Ðó là cái nhìn dưới mắt tôi qua đôi mắt sầu muộn của Từ Hoài Tấn.
“Gởi vào em một cơn mưa
Cơn mưa đổ hết canh khuya khoắt nầy.
(Gởi tặng Ph.1970)
“‘Canh khuya’ Từ Hoài Tấn chưa thấy đêm sâu, anh cho thêm chữ ‘khoắt’ để thành ngữ nầy gói trọn nỗi nhớ của anh. Cho nên anh mượn thiên nhiên để gởi gắm nỗi thầm kín đó, thơ Từ Hoài Tấn nặng hình dung từ và ẩn dụ vì thế ngâm lên cũng thấy được cái chất lãng mạn riêng của Từ tiên sinh.
“Anh sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến (**) , anh đối đầu với lửa đạn. Anh nuốt đau thương của vận nước trong tim gan anh. Từ Hoài Tấn không ta thán hay phẫn nộ. Anh điềm nhiên tự tại như dòng sông trôi về biển mẹ, trước những khắc khoải đó anh không oán, không trách mà coi như đó là thân phận làm người. Anh nuôi dưỡng tất cả những biến cố đời trong tâm trí anh để anh phát tiết những câu thơ hàm chứa đầy đủ yếu tố nhân sinh quan và chính là con đường giải thoát tâm hồn của một nhà thơ. Nỗi trăn trở đó hiện diện trong thơ Từ Hoài Tấn là thảm kịch đời mà hình như anh gánh chịu, một cảnh đời bề bộn, xung đột giữa nội quan và ngoại quan đã làm cho Từ Hoài Tấn quặn mà không nói nên lời, điều ấy anh luôn luôn hoài niệm cho tới ngàn sau.
Ðọc bài thơ ‘Mạ’ anh nói lên cái tình của người mẹ nuôi con, nghe rất cảm động, anh sử dụng thể thơ 7 chữ, đọc lên nghe phảng phất lục bát của Tú Xương; nghe thử:
“Hai sương một nắng nào đâu sá
Con bầy một lứa phận nữ nhi
Lều tranh cuối vườn nương nhà ngoại
Tháng chờ năm đợi buổi người đi
… 
“Thương nhớ một đời ta là mạ
Nhưng hồn ta vất vưởng vẫn lệ nhòa
(Mạ 1998)
“Ðọc thơ Từ Hoài Tấn cho tôi một cảm giác lâng lâng, lạc vào thế giới huyền ảo của mộng mơ, lúc chơi vơi, lúc chìm đắm giữa một khung trời lập thể đầy sắc màu. Anh thả xuống những câu thơ nghe lạ tai, nhưng lại truyền cảm, cái hay của Từ Hoài Tấn là ở chỗ đó!
“Trong tập ‘Hành Tinh Phiêu Lạc’ trang đầu ‘Mở’ thay lời tựa, tác giả chỉ nói lời giản dị (16 chữ) nhưng trọn cả hành trình anh đi. Ðó là cái chân tình của nhà thơ như anh, không phải anh tiết kiệm ngôn ngữ để nói về đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang, chắt chiu. Có lẽ, Từ Hoài Tấn cho rằng có nói cũng không cùng; ai nghĩ sao thì nghĩ, có sứt môi méo miệng cũng là con anh, nhưng phải nghĩ một cách sâu xa, chính trong cái ‘khác đời’ đó là cái đẹp chân phương ‘Le laid peut etre beau, le joli jamais’ (P.Gauguin). Ðúng! Từ Hoài Tấn chấp nhận cái đẹp một ít hơn cái gì trau chuốt cho đẹp. Vì thế mà tôi mến cái thủy chung của anh, thiết tưởng người đọc sẽ tìm gặp một cảm nhận như tôi.
“Quay về – một mối
Ra đi – muôn đường
Tìm em – nguồn cội
Mấy trời – tang thương.”

2- Thơ Từ Hoài Tấn, những game màu khẩm nặng trầm tích

“Tôi thích cái lối chơi thơ của anh. Từ Hoài Tấn chế cái gạch ngang (-) như nhấn mạnh cho người đọc hiểu cuộc đời anh là thế đó. Du Tử Lê thì chặt (/) xuống mỗi con chữ, thành thử khi đọc hay ngâm thơ ông có cái gì như bóp cuống họng mình lại, nhưng làm quen hình thức đó rồi, đến khi đọc thì thấy thơ của Du tiên sinh hay siêu việt và bay bổng. Cho nên thơ nó nằm ở cõi phi ấy nhưng phải khởi từ cõi thực. Cho dù gạch ngang hay gạch dọc, chưa phải xác định được một bài thơ đặc thù, bởi một bài thơ không phải là muốn nói một cái gì mà hiện-hữu (a poem should not mean but be) ngoài ra có những siêu lý của thơ nghĩa là thơ phải đi lạc đường mới là thơ hay! Tôi nói dông dài về thơ, tại vì thơ của Từ Hoài Tấn tợ như thơ Thiền. Nghe thiền sư Cổ Ðức làm bài thơ 4 chữ này:
“Khi đói ta ăn
Khi mệt ta ngủ.”
“Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhứt thể của đạo Phật. Từ Hoài Tấn là đệ tử chân chính của những nhà thơ thiền (?) cho nên bài thơ mở đầu cho tập thơ “Hành Tinh Phiêu Lạc” cũng được ngắn gọn và thâm hậu như lời nhắn gởi với muôn trùng…
“Tôi nghĩ, chính lối sống vô tư của anh đã giúp anh vượt qua những thử thách, những gian khổ từ trong trại học tập cho đến khi trở về nguyên quán. Từ Hoài Tấn không muốn ai quản chế mình một lần nữa, anh cho rằng tự-giác-giác-tha, anh tự khắc phục anh, hội nhập với đời, thích nghi kịp thời như anh đã lao mình; chính sự dấn thân của anh là những dòng chảy bất tận trong thơ. Từ Hoài Tấn một con người nhạy cảm về tình cảm (sentimental) về tình người cũng như thiên nhiên. Do đó thơ Từ Hoài Tấn phong phú và dồi dào. Từ làm thơ đa dạng, có khi niêm luật, có khi tự do… theo tôi nghĩ thơ anh xây dựng dưới dạng thức nào, tiết điệu trong thơ anh là tiết điệu của thời thượng hôm nay.
“Thơ lục bát Từ Hoài Tấn làm nghe điệu và mềm, chữ dùng rất Huế. Ðan cử bài thơ nầy:
“Ngày dài lóc cóc ngoài hiên
Ngựa xe qua hết một miền còn lưa
Ngày ngồi nắng đổ chưa bưa
Như sầu ai thắp canh khuya chưa tàn.”
(Dáng Thơ)
“Từ Hoài Tấn có những bài thơ tự do, thơ không vần (blank verse) nhưng đọc lên vẫn thấy như có âm hưởng của thơ vần đó là cái vi vu theo tiết nhịp vần xoay mà cuộc sống là biến động miên man theo mảnh lòng người hoài mong; tự do và thoát tục.
“Tôi đứng bên kia con đường
Một ngày đầu đông
Ðợi người tình quá khứ
Và mong đời nhẹ gót qua đây…”
(Huế-1968) (Nđd.)
Trên đây là chân dung thơ Từ Hoài Tấn, vẽ bằng chữ viết của Võ Công Liêm, qua thi phẩm đầu tay “Hành Tinh Phiêu Lạc” xuất bản năm 2003, bởi Nhà XB Thuận Hóa. Gần mười năm sau, năm 2012 Từ Hoài Tấn cho ra đời thi phẩm “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” – – Như tôi biết, đó là thi phẩm mới nhất của ông, tính tới hôm nay.
Vẫn là những cảm quan, cái nhìn đi ra từ trái tim mẫn cảm của một nhà thơ chọn ăn, ở một đời với cô quạnh, nhưng với “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” Từ Hoài Tấn đã cho thấy, dường ông bước lùi sâu hơn vào cõi riêng của mình. Tôi hiểu, khi chọn tựa đề “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” cho thi phẩm mới của mình, tác giả cho thấy dòng đời vẫn xuôi chảy, dù chúng ta có chạy, đi theo hay đứng lại. Nhưng tâm thức của mỗi cá nhân vốn độc lập.
Nó nằm ngoài định luật tự nhiên này – – Hiểu theo nghĩa chúng ta có toàn quyền chọn cho mình một thái độ ứng hợp: Xuôi theo hay đứng lại, bên lề…
Với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” mà thơ ông còn cho thấy quá khứ, thiên nhiên những bức tranh tĩnh lặng, tựa những game màu cũng đã khẩm nặng trầm tích qua những liên tưởng sắc, buốt, xỉa-xói-vết-thương:
“Ly thủy tinh trong vắt như nỗi buồn không soi đáy
Khuôn mặt em hình quả mãng cầu gai
Ta nhảy múa với niềm vui cô độc
“Một kẻ lạ đi qua
Lời nguyền rủa
Như thanh kiếm chém vào mặt
“Một cô nàng đi qua
Tiếng cười vỡ
Ly thủy tinh ném xuống mặt đường
“Ngày đi qua
Thì thầm điệu ru tội lỗi
Ðôi tình nhân hôn nhau cuối hẻm”
(Trích “Trong Quán Rượu”)
Hoặc:
“Ta thử khóc và cười mỗi ngày
Hình như không ai nhìn thấy
Ngày đi và đêm xuống
Không có nghĩa gì với gã ăn mày mù lòa tự nhiên đi qua công viên
Hay ngồi lặng lẽ trên băng ghế
“Ngày đi và đêm xuống mối tình em mang rơi theo
Sao viên đá nặng vẫn đeo trên cổ.”
(Trích “Khúc Ban Chiều”)
Hoặc nữa:
“Trong một cố gắng không dừng lại
Tôi hẹn hò em
Ám hiệu ngắn
9 giờ sáng – góc ngã tư – bờ tường tím – đội nón xanh
Tin đi
Người đi
Cuộc hẹn đi
Thời gian đi
“Và như thế
Trong một cố gắng không dừng lại
Tin mất
Người mất
Thời gian mất
“Chỉ còn lại
Tôi.”
(“Cuộc Hẹn”)
Vẫn với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Ði, Ðứng và chạy… với thời gian” mà ông còn cho thấy chia ly và bóng tối từ những tháng, năm khuất lấp vẫn tìm về trong thơ ông, tựa những game màu ám-dụ, đầy những liên tưởng sắc, buốt; mang theo những lát dao lạnh lùng đào-xới-những-vết-thương cũ, mới:
“Trả lại cho tình em vì không còn cách nào giữ lại em
Khi em đã là người khác
Khi đôi mắt em là ngọn lửa khác
Khi lời tình yêu đã là tiếng vang vọng
Và khi ngày đã trở qua đêm”
(Trích “Chỗ Không Cùng”)
Hoặc:
“Vào những đêm khuya khi vầng trăng không còn
Sao Hôm dần biến mất
Anh tìm em trong bóng mây qua
Ðôi mắt em ẩn chứa niềm bí mật
“Chúng tôi sống lặng lẽ mơ ước trong gió bụi của khốn khổ
Hàng đêm nhìn lên khoảng trời xanh
Thì thầm cầu nguyện và mong đợi phép lạ…”
(Trích “Những Ngôi Nhà Thuê ở Ðường Số 37”)
Tuy nhiên, có dễ mưa mới người bạn hoặc, nói một cách thậm xưng, là người tình thủy chung nhất của nhà thơ này.
Với tôi, mưa là hiện tượng thời tiết quen thuộc, thân thiết của rất nhiều thi sĩ Việt Nam. Nhưng, nếu có một nhà thơ cho thấy mưa hiện diện cùng khắp các trang thơ của họ thì, một trong những người đó là Từ Hoài Tấn:
“Tháng mười hai năm ấy
Mưa trở lại
Trong hẻm nhỏ có quán cà phê
Bà chủ bốn mươi tuổi
Em trở lại ngồi bên ta
Lời tình ái dài và đều như mưa ngoài cửa”
(Trích “Kỷ Niệm”)
…….
“Mùa mưa anh không thoát khỏi chiếc bóng em
Sự suy tư mòn gặm
(…)
“Buổi sáng theo cơn mưa đầu ngày
Một chút nhớ làn khói bay
(…)
“Em thiên nhiên đóa hoa mùa hạ
Những giọt mưa đầu mùa sóng sánh chiếc ly không
(…)
“Ai đi ngang che giấu mặt nõn nường
Mưa vang âm dòng suối”
(Trích “Khi Yêu”)
……
“Buổi chiều mưa bất thường trái mùa
Khúc trầm bên chén trà
Người phụ nữ bước qua bên kia đường đón xe buýt
Dưới tàng cây che phủ vệ đường núp mưa những cô gái nhỏ xì sầm
Cảnh tượng chiều xám”
(Trích “Thơ Cuối Năm”)
……
“Những ngày này thường có cơn mưa đêm về sáng
Ðều đều như lời kinh dịu dàng cám dỗ
Mùa mưa chưa qua sao”
(Trích “Lời Cám Dỗ Dịu Dàng”)
……
“Cơn mưa đi qua ánh sáng của ngày
Khúc hát ru chiều sẩm tối
Người thanh niên đứng trong hẻm cụt nói rằng
Môi hôn trên cây và nụ cười trên gió”
(Trích “Khi Mùa Mưa Bắt Ðầu”)
……
“Buổi chiều về qua ngõ
Không nghe tiếng dương cầm
Vị mặn ở đầu lưỡi
Mưa và em”
(Trích “Là Khi Em Ði”)
……
“Chiếc dù che góc quán nhỏ vệ đường ngồi hai người
Những chiếc ly không đầy nước
Ngày mưa qua
Ðôi mắt ẩm ướt em nhìn ngắm giọt đều không tạnh…”
(trích “Thành Phố Mưa”)
…….
Ngay với những trang thơ không có một chữ “mưa” nào của Từ Hoài Tấn, nhưng ngữ-cảnh toàn bài, cũng cho tôi cảm được đâu đó, hơi hướm những cơn mưa chờ đợi.
Tôi nghĩ, có dễ “mưa,” chiếc bóng thứ hai, đeo đẳng hành trình và, cũng là định mệnh thi ca của tác giả này?
Du Tử Lê
(Calif. Tháng Giêng 2017)
———–
Chú thích
(*) nguồn: Võ Công Liêm: “Dòng chảy không ngừng ở Từ Hoài Tấn,” Bạt, thi tập “Ði, Ðứng và, chạy… với thời gian,” (2012)
(**) Từ Hoài Tấn là tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Khóa 3/70 Trường Bộ Binh Thủ Đức

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2020

Thơ của những tháng năm....

 TIN THƠ

*

Trân trọng giới thiệu:

BẢN TÌNH CA CỦA GIÓ BỤI

tập thơ, 2018

của nhà thơ Từ Hoài Tấn.

*


BÊN PHÊN LIẾP NHÀ

tặng bạn cũ


mười lăm năm – thời gian

tuổi trẻ tôi lầm lỡ

đã qua một chặng đường

vợ, con, cơm, áo, nắng, mưa

tình chung cùng gió bụi


những đêm ngồi một mình

neo xuồng giữa dòng sông

muốn gieo mình tự trầm

câu kinh tụng thời đi học:

“Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản”

còn ta nay về đâu

xa rồi trăm dặm quê hương

mây mù núi che khuất

rừng tràm bưng bàng cỏ đưng phơ phất

đã lấp dấu chân ai vạch một lối mòn


mười lăm năm – thời gian

sự tồn tại gầy còm

người đi dưới sông giữa khuya trời vắng lặng

hát bài ca chia ly

tưởng lòng tôi chung khúc nhạc

sách vở bút nghiên trong xó mốc lóc lăn

qua mấy thời lãng bạt

trở về mái hiên xưa

cười vui chiều xẩm tối

nơi đây

thời gian như đứng lại từ bao giờ


nhà có một gian, giường kê một chiếc

bàn gỗ liêu xiêu vài ba chiếc ghế

mâm cơm chiều nay có cá kho khô

gạo mới còn thơm mồ hôi giọt

mười lăm năm, lạ nỗi gì

khóc cười sớm tối

ngày tháng là cơn gió mát đi qua

thổi hắt hiu buồn lòng ta quá đỗi


có những tuần trăng hoang dã bình nguyên

ta thức cùng mây trắng

mộng chờ những ngàn năm

không nhạt phai lòng kẻ sĩ


mười lăm năm – có nghĩa gì

mưa dậy thời chiến tranh

ảo ảnh sa mạc

có dăm ba mối tình khẳng khiu như những ngày trong ngõ hẹp

con nước đã trôi xuôi bận lòng chi

những đêm trăng vỡ vụn giữa lòng sông


đã sống như thể đời chưa qua

đã yêu như một mối chưa tròn

lòng cứ mãi quanh co

những con đường cụt

mười mấy năm – dầu chẳng có nghĩa gì

nhưng không phải là chiêm bao

không thể tưởng mình đã mất

chiều nay

bên phên liếp nhà lổ loang sắc nắng

ta vẫn thấy trời xanh trong

như được sống thêm mỗi ngày cùng gió bụi

mới thấy đời tươi thắm nỗi vui chung


Hậu Nghĩa 8/4/1990


KHÚC HÁT CHIỀU


mấy năm vui làm kẻ chợ

chiều ngồi hun khói thành mây

chắc lòng như cơn gió thổi

qua đời rung nhẹ hàng cây


thôi em, tình yêu bóng nhỏ

cuối đời hút mắt tà bay

thôi nhé tình ta thành cổ

tượng buồn ngơ ngác bàn tay


chiều hồng chiều tím chiều xanh

hết đông hoa lại tươi cành

đường lạnh gót chân phiêu bạt

rét cô đơn rét ngọn ngành


có ai hát chiều nay nhỉ

có lời lệ của em xưa

có ấm hơi tình cũ kỹ

có buồn thổi mộng thành thơ


NƠI THA PHƯƠNG


Chiều đỏ in hàng tre

Xe qua bến chợ vãn

Rứơc cô vơ đi về

Hai vai trần gánh nặng


Đám con trẻ lao xao

Bên nồi cơm mới xới

Trăng khẽ bứơc qua rào

Dự phần bữa cơm tối


Mười mấy năm, mau quá

Không kịp ngoảnh lại nhìn

Cố hương ta buổi ấy

Đầu bạc kẻ thư sinh


Ở quê lâu, ra phố

Quanh quẩn với nương vườn

Chiều hôm, không bạn cũ

Nhấm chút rượu tà dương


Mười mấy năm, cũng chậm

Một bước đường tang thương

Biển chờ sông bịu bận

Trăm khúc quành lươn ươn


Chiều quê Xuân tha thẩn

Màu mây trắng vô ngần

Thương đìu hiu chiếc lá

Rơi giữa trời bâng khuâng


MỘT HÔM LÃNG TỬ HỒI ĐẦU


Hôm về đứng ngoài cổng

Hiên xưa trăng quên treo

Hoa bông còn mấy nụ

Cười nỗi lòng trong veo


Tóc người pha sắc gió

Phiêu du và bềnh bồng

Tấm tình ai để ngỏ

Ai bước về hư không


Người em không hò hẹn

Mây dừng bước ngang trời

Mùa không về trên bến

Mong lòng ai xa khơi


Em xa như năm tháng

Mỗi lúc mỗi khuất dần

Ta không về thầm lặng

Mối tình như triều dâng


Cầm tay rồi xa ngái

Mơ rồi bên viễn xưa

Em xa vời như thể

Mênh mông thời gian đưa


Thơ thẩn chiều hôm ấy

Lãng tử đã vu hồi

Dặm ngàn xuân đong đẩy

Trắng trong lòng tinh khôi


Hôm về ngần ngại nói

Người năm xưa có quên

Trải tình ta trên lối

Bước chân người có êm


Ngày mai khi mây trắng

Cũng là tinh nguyên sơ

Về gặp người một bận

Lòng ta cứ thẩn thờ


TỪ HOÀI TẤN

(Trích từ BẢN TÌNH CA CỦA GIÓ BỤI)


Nhà văn Trần Bảo Định giới thiệu 

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

Thơ Nguyễn Thanh Văn

 

THƠ NGUYỄN THANH VĂN

NHƯỜNG NHÀ

 

Chân tôi là chân đi

Không chịu làm nạn nhân trong căn mồ tù túng

Anh cứ tự nhiên chuyển sang làm chủ mộ thay tôi

Tôi sẽ làm chi, về đâu chưa biết trước

Trừ chuyện co ro ở xó xỉnh này, nghe lũ dế than van

 TRỐNG RỖNG

 

Buồn trông thiên cổ lòng đau

Hỏi thăm Thượng Đế độ rày còn không?

Hay lim dim mắt tu Không

Hát lời Bát Nhã mà không làm gì!

 

 LƯU BÚT NGÀY XANH

 

Anh đè Em giữa trăng sao

Nát vùng bông dại, bông nào cũng thơm

Thơ ngây chừ dính rạ rơm

Nghe trong da thịt rướm hồn cỏ lau

Vườn hoang đồng nội dãi dầu

Dẫu hạnh phúc đã pha màu thương đau

 

Lại đè nhau, mặc trăng sao

Đè luôn một chú cào cào gãy chân

Gây chi duyên nghiệp phong trần

Nạn nhân vô tội giữa vùng tử sinh

Người thổn thức, người mần thinh

Kẻ gãy chân đứng bần thần, buồn hiu 

Cả ba sứt mẻ xuân thì

Thua con kiến đỏ, đang quỳ ngậm sương

 

CÀ SA 1

 

Có một vườn thiền hiện ra trong tâm thức

Có một mái chùa nơi cô ẩn tu

Đường qua đồi đầy miểng đá

Dịu hiền bóng nhỏ cà sa

 

Cô bỏ tình đi như tháo đôi hài cỏ

Ngọn đồi từ lâu được đặt tên cô

Tán thán người can đảm dứt tình

Tôi cũng xây riêng tịnh thất

Lặng lẽ tâm

Dù chẳng áo cà sa

 

CÀ SA 2

 

Áo vàng ngược dốc, ni lần bước

Lum khum đi, né bớt gió đang chiều

Sương lạnh muốn đùa tâm tịch mịch

Ai kịp về tịnh thất: gió ham vui hay áo cà sa!

 

VỀ CÁI CHẾT

 

Khi cái chết đến không việc chi bận tâm

Cảm ơn trước và xin an ủi trước nếu còn sót một tiếng khóc từ người đưa tiễn

Tôi đã dũng cảm chịu đựng và vượt qua điều khó khăn và phức tạp nhất là đã sống

Những thứ còn lại chỉ là chuyện linh tinh, chi tiết

Kể cả thứ trò chơi chưa quen chơi có cái tên “Cái Chết”! 

 

GỬI ĐÁM CON CHÁU CỦA DÒNG HỌ SÂU ĐO

 

Anh cứ việc làm con sâu đo nếu thấy thích

Đo một góc sân, một khoảng trời như anh tưởng tượng

Chỉ xin đừng đưa vòng đo của mình lên ti vi, network, báo đài

Đừng dựng những chỉ số quanh bờ ao, giữa hai bờ rào làm tiêu chuẩn đo hành tinh và 

vũ trụ

Lấy cái tầm ngu si làm tiêu chí Đất Trời!

 

 NHÂN CÓ NGƯỜI HỎI THĂM ANH CHỊ EM “PHONG TRÀO ĐÔ THỊ Ở MIỀN NAM” TRƯỚC 75

 

Trong số họ không thiếu chi những người dũng cảm

Đại đa số là những người (hoặc từng là người) trung thực

Vấn đề khá phiền phức 

Họ là dạng người chỉ đủ bản lĩnh dũng cảm và trung thực 

Đúng một lần!

                                   

VÔ ĐỀ

 

Có bàn tay mở

Không ai nắm

Có chiều buồn tênh 

Không một lời

Có kỷ niệm u mê 

Riêng mình giữ

Quá nhiều người quanh đây, sao vắng ngắt

Đang ở đây, sao ngỡ đã qua rồi!

 

GỬI CÁC NHÀ KHÍ TƯỢNG HỌC XÃ HỘI

 

Nghe có người nói Mùa Xuân đây là Mùa Xuân vĩnh viễn

Những Mùa Thu cổ điển chết mất rồi

Lại có tin rằng Mùa Xuân đã chết

Vũ trụ nay còn lại tiết Đông thôi

May mà Đất Trời không sính trò uyên bác 

Vẫn còn đủ bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2020

Nguyễn Đức Sơn, nhà thơ ngông đồi Phương Bối

Trịnh Thanh Thủy
(Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn vừa vĩnh viễn ra đi. Chúng tôi dự định tổ chức một buổi RMS cho tập thơ mới của ông nhưng vì đại dịch đã phải hoãn lại. Nay ông đã ra đi tôi xin chia sẻ cùng các bạn bài viết khi ấy về tập thơ như một nén hương lòng gởi đến nhà thơ tài hoa của đồi Phương Bối. TTT)
Tôi được quen biết nhà thơ Nguyễn Đức Sơn tức Sơn Núi hay Sao Trên Rừng qua bạn tôi, họa sĩ Đào Nguyên Dạ Thảo. Tuy nhiên tôi chưa từng gặp ông dù có thư từ qua lại, dù rất mến thơ của ông vì mỗi người một phương. Mới đây Dạ Thảo cho tôi biết hiện bệnh của ông đang trở nặng, tôi cảm thấy lo lắng nhiều đến sức khoẻ của ông. Tôi chỉ sợ không may thì…
Nếu đồi Phương Bối vắng bước chân ông, trăng Phương Bối tìm đâu ra cái bóng đồng hành để cùng say khướt đổ nghiêng bên những gốc tùng xanh ngắt. Cây ổi đồi cao tìm đâu ra tên đạo chích ăn trộm nửa quả ổi rụng đã bị dòi ăn nửa kia?
Trưa đứng một mình đợi ai lên
Đất trời đâu có dưới và trên
Đồi cao ổi sót rụng một trái
Dòi ăn một bên ta một bên.
(Rụng một trái)
Rừng Phương Bối cũng không thể thiếu đi một ánh Sao, một gã Du Tử có hỗn danh là Sơn Núi, lúc cô đơn thì đi luồn vô núi, khi mệt nhoài, chân rục rã, thì đi luồn ra núi. Thế gian còn ai ngông nghênh hơn một người thơ, khuya nằm nghe đá hát, sáng dậy ngắm hoa nở để,
Đụ mẹ
Cây bông
Hắn không
Lao động
Ai trồng
Chật chỗ
Mày nhổ
Xem sao
Máu trào
Thiên cổ
Ngôn ngữ ấy, phong thái ấy của Nguyễn Đức Sơn đã gây tác động mạnh cho người đọc, cho riêng tôi vào những năm 2000. Nhận thấy thơ ca Việt Nam ngày đó có nhiều thay đổi và gây sốc mạnh, năm 2003 tôi đã viết một bài tiểu luận nói về thơ Việt Nam và các “Chấn động văn hoá trong thi ca đương đại”. Trong đó thơ Nguyễn Đức Sơn là một điển hình. Ông đã viết rất táo bạo và sử dụng những từ như “đái”, “đụ” một cách dữ dội để bày tỏ sự phẫn nộ, hay một giải toả tâm lý trước những bất công xã hội.
Mắc đái là mắc đái
Làm thơ cũng cùng hình thái
Không còn chi để phải nói lại
Trừ cái sự vụ hai trứng dái
Săn cón lên báo giờ quan ngại
Trong khi thơ rụng như cây chín trái
Khôn ngoan ta đưa tay hái
(Làm thơ – Hợp Lưu số 37,47)
Là một người viết nữ, tôi đặc biệt chú trọng rất kỹ cái cách mà ông dùng từ ngữ trong thơ ca để miêu tả người nữ của ông.
Nửa đêm soi bóng trăng tròn
Thấy đau trời đất rõ còn trong thai
Các em đều chẻ làm hai
Từ đâu một chỗ rách dài thiên thu
Hồn tôi, con thú cần cù
Nằm chơi trong cát bụi mù vuốt ve
Hỏi thăm, nước chảy xè xè
Chỉ nghe tịch mịch phủ đè rêu xanh
Ngôn ngữ thân xác và hành động dục tính được ông tận dụng vì nó có khả năng mở được cánh cửa nội tâm con người, nó bày được những trạng thái tâm và sinh lý. Ông ngầm ca tụng cái đẹp của dục tính, cái mỹ của thân thể người phụ nữ, cái thuật của tình dục.
Em là chiếc bánh nếp
Với cái nhân quá to
Anh vừa lết vừa bò
Liếm một đời không hết
Mắc võng…
Trên đồi cao
Anh xôn xao
Như gió
Anh lấp ló
Như trăng
Anh lằng nhằng
Như dái
hoặc
Anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước
Miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi
Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người
Em chưa đái mà hồn anh đã ướt
……………………………………………..
Hai đứa nhìn nhau bảo phải êm ru
Em sắp đái và hồn anh chết cứng
(Hợp Lưu số 47)
Ngôn ngữ thân xác còn có khả năng gây sốc. Nó gây sốc vì nó bị cấm kỵ. Càng bị cấm kỵ càng gợi tính tò mò của người đọc. Khả năng gây sốc chính là đề tài những cuộc tranh luận về những từ ngữ được gọi là “tục tằn” được gã làm thơ ngông liên tiếp tuôn ra làm người đọc khó chịu. Ngôn ngữ ông dùng vừa tân, vừa cổ, vừa lãng mạn, vừa dung tục. Khi trắng, khi đen, phơi bày lồ lộ, lúc mờ, lúc nhạt, thơ thẩn, lượn lờ, kỳ ảo. Có thể nói, có hai cực trong con người ông, khi chánh, khi tà, khi thô ráp, lúc dịu dàng, âu yếm. Trong hình ảnh một con thú cần cù ẩn mình trong những đêm cát bụi, con thú đực nằm chơi bên bờ cỏ đêm để thấy hồn mình ướt và xôn xao như trăng, như gió.
Có lần tôi viết thơ cho ông, nói về những cảm nhận của mình về lối ông làm thơ cho người nữ. Tôi nhận xét rằng ông phải yêu người nữ ấy lắm mới làm nên được những vần thơ như vậy. Ông xác nhận điều này và hay gọi tụi con gái chúng tôi và Dạ Thảo là gà, vịt, giun, dế, tôi thấy vui vui một cách thú vị trong cách gọi ấy. Ông cũng gọi con ông, vợ ông là con gái, gái con, con nhóc, con cóc, con nhái. Có lẽ ông cũng hiểu hơn ai hết cái tính ngang bướng, ngông nghênh, hành động theo ý riêng của mình không kể hậu quả, thiệt hơn, nên ông lấy bút hiệu là ngôi sao cô đơn mắc đoạ trên rừng. Bửu Ý đã gọi Nguyễn Đức Sơn là hình ảnh của một con tê giác, đơn độc, quắt queo, từ cách ăn nói cho đến dáng đi, húc đầu về phía trước.
Gái con
Con gái
Con Cóc
Con nhái
Con cái
Con nhóc
Chưa bóc
Em ra
Hồn ta
Gần khóc
Hay
Gái con
Con gái
Giấu mãi
Trong hang
Cái màng
Thiên địa
Run lịa
Hồn anh
Mong manh
Ngàn kiếp
Người con gái đương xuân như đóa lan rừng thơm ngát vừa hé nở đêm trăng mười sáu. Gã thi nhân ngủ quên trên bờ cỏ ướt, nằm mơ thấy mình là chú bướm đêm vơ vẩn bay đi tìm mật. Gã chợt thấy mảnh hồn mong manh của mình run bắn, đôi cánh bướm bỗng chập chờn hư ảo như ngã vào mông lung khi đối diện cái màng thiên địa tinh tuyền của nhụy hoa. Ôi đẹp làm sao ngôn ngữ xác thân mà Nguyễn Đức Sơn đã dùng để tả người con gái băng trinh còn dấu cái màng thiên địa trong hang!!!
Gái con
Con gái
Cái gái
Con con
Trắng nõn
Trắng nà
Ngọc ngà
Trời đất
Bất nhất
Vạn niên
Gậy thiền
Chưa thọc
Thuật dụng ngữ trong thơ ca càng giản đơn, càng cô đọng, chữ dùng càng phải chắt lọc. Trong bài thơ 12 câu ở trên, hai câu cuối thật sự gây sốc cho tôi khi đọc câu “Gậy thiền, chưa thọc”. Tôi nghe người ta nói “cái gậy của thằng ăn mày”, hay chọc lung tung, nhưng cái câu “Gậy thiền, chưa thọc” được dùng trong ý nghĩa nội dung bài này, quả làm tôi sửng sốt. Ý nghĩa “Cây gậy thiền” được giảng nghĩa trong nhà Phật là cây gậy của trí tuệ, của chánh niệm. Cây gậy của chặt đứt lục căn, lục trần, lục thức. Cây gậy đánh tan vọng tưởng, giúp tâm ta sáng suốt, và biết dùng trí tuệ để khắc phục vô minh để đem lại sự thanh tịnh, tinh khiết trong tâm của chúng ta. “Gậy thiền” được dùng như cái chân thứ ba của con người hay cái gậy của thằng ăn mày của Nguyễn Đức Sơn trong bài thơ ở đây ắt hẳn không có cái nghĩa của thiền tông mà chỉ có thể được xem là ngôn từ “phạm thánh”. Nhưng với ông phạm thánh là chuyện thường ngày và không biết trong lòng ông có vị nào là thánh không nữa.
Bên bờ suối
Anh tặng em
Hai củ khoai lang
Một trái chuối
Ăn rồi
Còn thấy tử sinh
Đắm đuối
(Trưa)
Giấc mơ và đời sống là hai thực thể khác biệt. Bên những vì sao sáng vẫn có những làn sương che mờ ánh sao. Tuy nhiên em ơi dù sống khó, con chim trong thơ ca gã du sỹ vẫn hát véo von buổi trưa nào bên bờ suối trao em món quà đơn sơ một trái chuối và hai củ khoai lang mà vẫn thấy hạnh phúc của tử sinh sao mà ngọt.
Sao lạnh quá
Không thấy bóng Hạnh
Đi qua
Đứng từ xa
Tôi đã thấy
Núi khóc
(Chiều ơi)
Cũng có lúc núi cũng phải lạnh, phải khóc hu hu khi không thấy bóng người. Gió đã quên lời hẹn hò, cây đã ngưng tiếng rì rào, trái tim và đôi mắt cùng nhau buông thả…
Cùng với thơ
Chẳng lẽ
Chỉ còn có
Một cách
Là đứng một chân
Trên núi
(Sống)
Ôi sống với thơ là một khốn khó vô biên. Làm thơ và để sống còn cùng thơ mà không chết vì đói có lẽ là một nan giải đời người. Nhà thơ yêu núi, yêu đá Nguyễn Đức Sơn đã tự hỏi bao nhiêu lần trong tuyệt vọng, làm sao có thể sống với thơ và làm thơ mà không phải ăn, phải uống, phải lăn lộn mưu sinh cho vợ con và gia đình. Và ông đã tìm ra giải pháp “Đứng một chân trên núi!!!”.
Pic 1 Tap tho nds
Tập thơ "Thơ và Đá" của Nguyễn Đức Sơn
Pic 2
Hồ Hữu Thủ, Dạ Thảo, Nguyễn Đức Sơn
Pic 3 thủ bút NĐS
Thủ bút Nguyễn Đức Sơn
Pic 4
Đinh Cường, chị Nguyễn Thị Phượng (vợ Nguyễn Đức Sơn), Bửu Ý
Pic 5
Tiểu Khê và Phương Bối(con gái Nguyễn Đức Sơn)
Nguồn :vanviet.info