Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Tên chữ Hán của Hồ Quý Ly là 胡季犛 hay 胡季釐(厘)?

Thành Thang Long
Thành Thăng Long-Hà Nội
       
                                                                                                  
           Hồ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào  đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này, làm  trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Huấn. Sau Hồ Quý Ly thay ngôi nhà Trần, đặt quốc hiệu là Đại Ngu và cải lại họ Hồ.[4] Theo Bùi Bá Kỳ viết trong Cáo nạn biểu [12] đã cho biết Quý Ly là con quan Kinh lược sứ đời Trần là Lê Quốc Kỳ [1]. Do đó trong trong sử sách Hồ Quý Ly còn được gọi là Lê Quý Ly.

           Tên chữ Hán của  Lê Quý Ly hay Hồ Qúy Ly theo thư tịch cổ Hán và Việt nói chung đều viết là 黎季犛 hay 胡季犛 và các sách sử học sau này đa số cũng viết như thế, chẳng hạn như trong Việt Nam sử Lược (1927) [8] của Trần Trọng Kim cũng viết là Hồ Quý Ly 胡季犛. Các chữ Hồ , Lê , Quý  trong họ và tên của vua nhà Hồ nói chung về tự dạng không thay đổi, chỉ riêng chữ LY là có. Chúng tôi thấy trong văn bản chữ Nôm Thiên Nam ngữ Lục ngoại kỷ 天南語錄外紀 [5] (AB.478, khuyết danh, hql1khoảng thế kỷ 17), soạn giả này lại viết họ tên Hồ Quý Ly là  胡季 厘 (H.1), LY không viết là   mà là 厘. Xem thêm Giản yếu Hán Việt từ điển (1932) [1] của Đào Duy Anh ở mục từ Hồ, Hồ Quý Ly cũng thấy viết là 胡季釐 (theo từ thư Hán,  là dạng khác của ). Có điều gì không ổn  về tự dạng?  Vua nhà Hồ tên là LY thật ra viết chữ Hán là  hay  ()? Đây có phải là hiện tượng đồng âm dị tự, hoặc còn  nguyên do nào khác? Từ trước đến nay, vấn đề này hình như chưa từng được bàn đến. Người viết thử tìm hiểu xem thực hư ra sao?

            Văn bản chữ Hán sớm nhất hiện còn liên quan đến họ tên Hồ Quý Ly có lẽ là ở bài Cáo nạn biểu của Bùi Bá Kỳ, họ ngoại của nhà Trần, làm quan đến ngũ phẩm và từng là một tỳ tướng của Trần Khát Chân, trong truyền bản này viết rõ tên Quý Ly là LY犛, đối chiếu nội dung bài biểu này trong Minh sử [2]明史, cũng thấy hql2chép là LY犛. Sau đến bộĐại Việt sử Ký Toàn Thư  大  越  史  記  全   (bản Chính Hòa thứ 18, năm 1697) [10] , trong đó tên của vua nhà Hồ là  LY khắc là  (H.2) nhưng về tự dạng không đúng dạng  vì  ở phần trên, bên trái không phải là chữ  mà là chữ , xem thêm bản ĐVSKTT khắc in sau bản Chính Hòa 18, là bản Quốc Tử Giám thời vua Tự Đức Triều Nguyễn (1848-1884) [3] cũng thấy cùng một dạng chữ.

             Tra Dị thể tự tự điển[4], thấy chữ  có một dạng dị thể như sau: . So sánh tự dạng chữ LY từ ĐVSKTT và  chữ dị thể  ta thấy thực ra là cùng một dạng nhưng do kiểu chữ khắc in của ĐVSKTT nên có dị biệt đôi chút.  Khảo sát thêm các văn bản chữ Hán khác liên quan đến Hồ Quý Ly thì thấy đúng như vậy. Sách Truyền kì mạn lục 傳奇漫錄 (Bản chép tay R.424.NLVNPF-1263), bản này viết chữ LY theo dạng dị thể là .Xem thêm trong Quốc sử toản yếu: Nam sử toản yếu 國史纂要: 南史纂要. (R.112.NLVNPF-0115, bản đời Lê do nhà Thạc Đình 碩亭 Nguyễn Huy Oánh 阮輝瑩 tự khắc in); bản  Việt giám thông khảo 越鑑通考 (R.1663.NLVNPF-0116, đây có thể là bản chép tay từ bản năm Hồng Thuận thứ 3 (1511) của Vũ Quỳnh) và bản Đại Việt sử ký tiệp lục tổng tự 大越史記捷綠總序 (R.2254.NLVNPF-0105, bản in đời Tây Sơn) thì ở các sách này chữ LY đều viết đúng dạng dị thể là . Đặc biệt ở  bản  Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên 欽定越史通鑑綱目正編 (q.11-12) Quốc sử quán triều Nguyễn (R.544 . NLVNPF-0174-08), và  Đại Nam quốc sử diễn ca [5]大南國史演歌 của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái  (nlvnpf-0102, R.303, bản in năm 1870) chữ LY khắc chính thể là  chứ không dùng dị thể.

          Ở văn bản chữ Nôm thì thấy, bản Nôm Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa [6]指南玉音解義 (khoảng thếhql 3kỷ 17) tuy không trực tiếp liên quan đến Hồ Quý Ly nhưng trong mục từ ly (mao) ngưu thì chữ LY 犛 (H.3)  khắc giống như dạng chữ ở ĐVSKTT nhưng thiếu nét 厂, chắc là do thợ khắc chữ sai sót (bản Nôm này khắc rất nhiều chữ Hán và Nôm sai) hoặc do cách viết “tục tự” của nhà Nho Việt xưa. Tìm hiểu kỹ thì trong Đại Việt lịch đại sử tổng luận 大越歷代史總論 (NLVNPF-0104, R.1744, là bài tổng luận về lịch sử Việt Nam từ khi khai thiên lập địa cho đến hết triều Lê, dĩ nhiên bản này chỉ xuất hiện sau Lê)[7] thì tất cả những chữ LY đều được người chép tay viết cả 2hql 4 dạng như ĐVSKTT và CNNÂGN (H.4), thế thì đã rõ, chữ LY trong CNNÂGN đơn giản là một kiểu tục tự (chữ thông tục trái với chính tự) của chữ  mà thôi. Ở bản Nôm  Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca [8]越史 衍 義 四 字 歌  thấy chữ LY viết đúng dạng 犛.
          Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: “ mao:  Mao ngưu 犛牛, một loài trâu đuôi rất dài, ngày xưa dùng làm ngù cờ”. Cũng đọc là chữ ly.” Với một nghĩa không mấy đẹp liên quan đến loài trâu. Tục ngữ, ca dao  người Việt thường nói: “Khổ như trâu”, “Tưởng rằng danh giá những gì, Kiếp trâu khốn nạn vẫn là kiếp trâu” và người Hán có thành ngữ như: “Ngưu đầu mã diện” (đầu trâu mặt ngựa, quỷ sứ âm ty), “Ngưu nhân mã nhân (người làm việc nhu trâu, ngựa; bọn nô lệ), …thật khó hiểu tại sao thân phụ của Hồ Quý Ly vốn là Kinh lược sứ họ Lê lại đặt tên cho con mình là LY  trái với truyền thống đặt tên của quan lại xưa, thường chọn tên chữ có ý nghĩa hay, đẹp, hiếm? Khảo sát tên  của các bậc vua chúa trước khi sáng lập các triều đại độc lập tự chủ trong chính sử Việt Nam xưa nay như Ngô Quyền 權, Đinh Bộ Lĩnh  , Lê Hoàn ,  Lý Công Uẩn 公蘊, Trần Cảnh 煚, Lê Lợi 利, Mạc Đăng Dung 登庸, Trịnh Kiểm 檢, Nguyễn Hoàng , Nguyễn Huệ , Nguyễn Phúc Ánh 福暎, đều không hề thấy một tên chữ nào mang nghĩa xấu, không tốt cả. Nhưng chỉ riêng mỗi tên của Hồ Quý Ly, người sáng lập nên vương triều Hồ lại thật bất hạnh vì được viết bằng chữ LY ! Thế mà xưa nay sử gia, văn nhân cứ thản nhiên viết mà không chút băn khoăn, hoài nghi! Phải chăng có một uẩn khúc gì? Như  trên đã dẫn Thiên Nam ngữ Lục, đã viết tên vua nhà Hồ là  LY , theo Khang Hy tự điển  có các nghĩa chính là Phúc, Sửa sang, Cai trị. Với ý nghĩa hay, tốt như vậy, thực ra mới xứng đáng với tên của con trai quan Kinh lược sứ. Nhưng tại sao lại xuất hiện 2 dạng chữ LY   ?  Đây là cách viết đồng âm dị tự?  Tuy về nguyên tắc, tự dạng   có thể dùng thay nhau theo kiểu đồng âm dị tự, nhưng nếu là tên của người dân bình thường thì có thể và không có gì đáng nói, đằng này đây lại là tên của vua nhà Hồ,  việc dùng một chữ đồng âm dị tự mang nghĩa xấu, tầm thường để viết tên của vua nhà Hồ chắc chắn khó lòng xảy ra và không thể nào qua mắt được Hồ Quý Ly lẫn các quan lại thâm Nho, nếu bị phát hiện sẽ mang tội  khi quân! Như vậy, cần phải tìm một hướng khác để lý giải cho hiện tượng này.

          Theo quan điểm chính thống của vua quan các triều đại từ nhà Hậu Lê đến nhà Nguyễn, cũng như dư luận dân gian  thì Hồ Quý Ly bị lên án, phỉ nhổ, gọi Hồ Quý Ly là “Hồ tặc”… bằng chứng rõ nhất là Nguyễn Trãi [11] đã viết về Hồ Quý Ly và nhà Hồ như sau: họ Hồ chính sự phiền hà. Để trong nước lòng dân oán hận (Đại cáo bình Ngô), “họ Hồ thất đức”; “họ Hồ dối trời gạt dân”; “cướp nước hiếp lòng dân” (Quân trung từ mệnh tập) và sử thần Ngô Sĩ Liên phê phán Hồ Quý Ly là: “Bọnloạn thần tặc tử…”,        “ Quý Ly đến đây tội ác đã chất đầy rồi” (ĐVSKTT). Trong sách Những chuyện lạ thi cử thời xưa [6], có kể một chuyện lạ như sau, vào khoa thi Hội năm Canh Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ I (1680), có hai cặp thầy trò và cha con dự thi. Đó là Vũ Đình Phúc với người con là Vũ Đình Thiều và học trò của ông Phúc là Phạm Hữu Dung nhưng trong khoa thi Hội này, đầu văn sách có câu hỏi về nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly, thí sinh phải tuân theo quan niệm chính thống của tầng lớp nho sĩ và xã hội đương thời, khi viết tên Hồ Quý Ly, phải biết chọn chữ như thế nào, để biểu thị sự khinh bỉ, chê bai nhân vật lịch sử này, theo đúng quan điểm của người ra đề. Ông Thiều và ông Dung dùng chữ “ Ngưu” là “ Trâu” và khung cả bốn phía ngoài, tượng trưng cho cái chuồng để tạo thành chữ “Ly”. Còn ông Phúc thì vẫn viết đúng chữ Ly và cũng khung lại bên ngoài. Kết quả thật bất ngờ, đến kỳ xướng danh hai ông Vũ Đình Thiều (1658-1727) và Phạm Hữu Dung (1652-?) đều đỗ tiến sĩ. Còn thầy học Vũ Đình Phúc thị bị đánh hỏng, chỉ vì chữ “Ly” tên của nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly không viết là “Ngưu”, có nghĩa là “con trâu”! Như thế, qua câu chuyện này ta thấy rõ việc viết tên của Hồ Quý Ly vào năm  khoa thi Hội năm 1680 là  một cách chơi chữ nhằm khinh bỉ, chê bai. Chi tiết về chữ NGƯU  (trâu) đã góp phần lý giải cho sự xuất hiện phổ biến chữ  (có chữ ) trong các sách sử từ ĐVSKTT (Chính Hòa thứ 18) và các sách hql 5khác sau này. Theo suy luận của chúng tôi, rất có khả năng tên của vua nhà Hồ thật ra nguyên gốc viết là  LY  hay  (có chữ chứ không phải là ) và  bản Nôm Thiên Nam ngữ Lục có thể đã dựa vào một nguồn thư tịch (trung thành với chữ gốc thời Hồ) khác với ĐVSKTT  để phục nguyên lại tên chữ của Hồ Quý Ly. Tuy nhiên để xác minh lập luận này cần phải có thêm chứng từ khách quan khác có giá trị thuyết phục. Người viết đã truy tìm dấu vết tên của vua nhà Hồ trong thư tịch Trung Quốc và nhận thấy, ngoài chữ LY  (tên của vua nhà Hồ)xuất hiện phổ biến trong các sách quan trọng như Minh sử, Bình An Nam chiếu, Bình định giao Nam lục, Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư,chúng tôi đã tìm thấy trong sách Đại sử 岱史 [9]là sách địa phương chí của Tra Chí Long 查志隆(biên soạn vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 14, năm 1586), Nghiêu sơn đường ngoại kỷ 堯山堂外紀[9] là sách thông sử của Tưởng Nhất Quỳ蒋一葵 (đỗ Tiến sĩ năm Vạn Lịch thứ 25 (1594) đời Minh)  Xích nhã 赤雅[10] là sách ghi chép về phong tục của dân tộc Quảng Tây của Quảng Lộ 鄺露 (1602-1648, người Quảng Đông, đời Minh), khi viết về vua nhà Hồ đã viết rõ ràng là Lê Quý Ly 黎季(H.5), LY chứ không phải là LY . Không thể biết nguồn thông tin nào khiến cho Tra Chí Long, Tưởng Nhất Quỳ và Quảng Lộ đã viết tên của vua nhà Hồ khác với các sách vở chính thống của nhà Minh nhưng chắc chắn không thể lấy thông tin từ TNNL Có thể gián tiếp từ Lưỡng Quảng, biên giới Việt Nam và Trung Quốc họ đã tiếp cận được thông tin chân thật hơn về Hồ Quý Ly? Dù sao sự khác thường này cũng là một dấu chứng quan trọng (3 tác phẩm này ra đời vào đời Minh, khoảng thế kỷ 16, 17) xác nhận cho TNNL không phải là một hiện tượng “chữ tác đánh chữ tộ” hay  là kiểu “đồng âm dị tự” tùy tiện và như thế tên vua nhà Hồ là LY  hay  có khả năng là một chữ nguyên gốc đời Hồ. Tra Khang Hy tự điển [2]: “: [廣韻]里之切, [集韻], [韻會] 陵之切,音釐.義同 (Ly: (Quảng vận) lí chi thiết, (Tập vận), (Vận hội) lăng chi thiết, âm như ly, nghĩa đồng ), vậy 2 chữ    là đồng âm, đồng nghĩa nhưng khác tự dạng, về nguyên tắc có khả năng dùng thông nhau. Như đã dẫn về câu chuyện văn tự liên quan đến tên của vua nhà Hồ ở khoa thi Hội năm 1680, về lô gích, chữ  chính là chữ gốc, chữ  là chữ phái sinh theo diễn biến 釐 -> . Từ đây có thể suy luận như sau: Khả năng thứ nhất là,  từ chữ LY gốc, cổ nhân thời Trần - Hồ do bất bình, khinh ghét Hồ Quý Ly, một gian thần cướp nước hại dân nên đã cố ý dùng chữ (đồng âm, đồng nghĩa với   ly 釐) có chứa chữ ngưu  (trâu) ở trong, hàm ý miệt thị như đồ súc vật.  Trong Minh sử (biên soạn khoảng đời Thanh), có thuật lại vụ Bùi Bá Kỳ, cựu thần họ ngoại nhà Trần sau khi bị Hồ Quý Ly soán ngôi, đã đến tận cửa cung nhà Minh khóc lóc dâng bài biểu  Cáo nạn cho vua Minh Thành tổ để xin cầu viện giúp khôi phục cơ nghiệp nhà Trần, ta thấy tên của vua nhà Hồ được viết là Quý Ly 季犛. Vậy phải chăng Bùi Bá Kỳ do căm phẫn nên cố ý dùng chữ  thay cho chữ  như một cách tỏ ý khinh miệt Hồ Quý Ly? Một kiểu chơi chữ rất sắc bén, thâm thúy! Nhưng đây chỉ là suy đoán chứ không có chứng cứ gì vì chưa chắc bài Cáo nạn còn nguyên dạng chữ gốc của Bùi Bá Kỳ qua truyền bản ở Việt Nam cũng như khi được chép lại trong Minh sử . Khả năng thứ hai sau đây có lẽ hợp tình lý và thuyết phục hơn, sự thật lịch sử cho thấy tướng Tống Binh Quốc Công Chu Năng  đã thay vua nhà Minh với danh nghĩa “Phù Trần diệt Hồ” công bố bảng văn cáo những tội của vua nhà Hồ như: ”cướp ngôi, giết vua và tông thất nhà Trần, coi nước và nhân dân như thù địch” và bài chiếu của Minh Thành Tổ (sau khi đánh bại nhà Hồ) đã luận tội danh Hồ Quý Ly: “Nó tỏ ra lừa thánh, khinh trời, không có luân lý gì nữa”…[4] Cha con Hồ Quý Ly bị bại trận rồi sau bị quân Minh bắt giam cầm, lưu đày tận Kim Lăng (Trung Quốc), trong bối cảnh này rất có thể vua quan thiên triều Đại Minh đã có chủ ý chơi chữ khi cố tình dùng chữ  (có chữ ngưu )để dùng thay chữ  (dựa theo vận thư,  đồng âm, nghĩa với ) là tên chữ gốc của vua nhà Hồ  như một sự nhạo báng, sỉ nhục Hồ Quý Ly chỉ là lũ trâu bò nô lệ mà thôi, như thế thì quả là một lối chơi chữ quá thâm hiểm của người Hán! Kiểu chơi chữ này,  một lần nữa lại được cá sử gia, văn nhân Đại Việt từ Hậu Lê đến Nguyễn với quan điểm chính thống khinh miệt nhà Hồ nên đã dùng theo như một sự đồng lõa. Tóm lại, tên vua nhà Hồ là LY  hay  có khả năng là một chữ nguyên gốc đời Hồ,  sau đó vì lý do chính trị, tâm lý nên người xưa đã cố ý dùng chữ  viết thay cho  nhưng hàm ý không tốt, khinh miệt.

          Gần đây, nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ, một chuyên gia nổi tiếng về chữ húy Việt Nam đã hầu như xác nhận chữ húy vua nhà Hồ là LY, mặc dù ông chưa thật sự công bố một chuyên khảohql6nghiên cứu khoa học nào trên sách, báo nhưng qua các bài viết gửi trên mạng truyền thông internet, Ông Ngô Đức Thọ (NĐT) đã có chủ  ý như vậy khi viết như sau: Sau khi xuất bản cuốn Nghiên cứu chữ huý Việt Nam... Sau đó, trong khi nghiên cứu niên đại của sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa tôi đã phát hiện được chữ viết kiêng huý tiểu tự (tên trước khi làm vua) của Hồ Hán Thương, Sau đó trong khi hoàn thành bản thảo công trình nghiên cứu văn bản học tôi chọn việc giải mã niên đại CNNÂ để thuyết minh phương pháp vận dụng tị huý học vào việc nghiên cứu văn bản Hán Nôm, tôi đã đưa thêm cả phát hiện và khảo chứng về chữ Ly là tên huý của Hồ Quý Ly nữa. Kể như hoàn chỉnh thêm được một chương về Chữ huý thời Hồ chưa  có trong cuốn sách đã công bố. “ (Bổ sung nghiên cứu chữ húy thời Trần: Trinh& Thiên )[11] Chữ huý của nhà Hồ mà tác giả nói, đó là chữ LY trong Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa qua mục từ ly (mao) ngưu,   Ngô Đức Thọ còn viết trong Kẻ Chợ - Kattigara xa xăm thân yêu [12] như sau: “9. … cả chữ kiêng huý Hồ Quý Ly cũng được tìm thấy (Chỉ nam ngọc âm,  5b)” cùng với ghi chú trong bài viết (xem hình). Sự thật có phải như NĐT đã xác nhận không? Mấu chốt quan trọng khiến cho Gs Ngô Đức Thọ tin tưởng có chữ húy nhà Hồ chỉ là dựa vào hiện tượng chữ khắc in lạ thường xuất hiện trong văn bản CNNÂGN với chữ LY  khắc giống dạng chữ ở ĐVSKTT  nhưng thiếu nét 厂[13], trùng tên Hồ Quý Ly. Chắc hẳn NĐT xác định nó là một chữ viết húy Ngự danh, (tên vua nhà Hồ) kiểu khuyết bút (lược nét) như phép kỵ húy triều Trần [3], nhưng  nếu ông từng xem bản Đại Việt lịch đại sử tổng luận (bản này chắc chắn có niên đại muộn hơn ĐVSKTT và  CNNÂGN) mà người viết đã dẫn ở trên, trong sách này, chữ LY viết cả 2 dạng như trong ĐVSKTT và CNNÂGN, 2 tự dạng này đã trở thành một bằng chứng quan trọng để phủ nhận chữ LY của CNNÂGN là  chữ viết húy vua nhà Hồ mà thật ra chỉ đơn giản là một dạng viết tục tự của nhà Nho xưa. Chưa kể chữ LY, theo luận cứ của chúng tôi chỉ là một chữ dùng thay cho chữ 釐(chữ gốc tên của Hồ Quý Ly) theo ý đồ chính trị nhằm hạ thấp nhân cách của vua nhà Hồ.

          Hồ Quý Ly, người sáng lập ra một triều đại mới là nhà Hồ, là vua của nước Đại Ngu, thế mà cái tên LY của ông, lại được các sử gia Trung Quốc lẫn Việt Nam xưa kia đã viết bằng một chữ Hán có ý nghĩa tầm thường, xấu liên quan  loài trâunhư chữ !  Thân phụ Hồ Quý Ly là Lê Quốc Kỳ, vốn dòng quan lại quý tộc, từng giữ chức Kinh lược sứ triều Trần, dĩ nhiên cũng là một bậc túc Nho, không thể nào chọn một chữ LY  như vậy để đặt tên cho con trai mình. Trong lịch sử, tên nhà vua có thể viết khác đi ở trường hợp như để ngoại giao nhà vua có thể thay tên giả hoặc do lệnh kiêng húy tên vua, chứ không thấy hiện tượng tùy tiện dùng chữ khác thay chữ gốc tên của vua, nhất là lại dùng một chữ mang nghĩa xấu dễ dẫn đến họa sát thân vì phạm thượng. Rất may, thư tịch còn để lại chứng cứ về một cách viết khác của tên vua nhà Hồ đó là sáchĐại sử, Nghiêu sơn đường ngoại kỷ, Xích nhã (Trung Quốc) và Thiên Nam ngữ lục (Việt Nam) với chữ LY viết là  hay 厘.Đây là một chữ mang nghĩa tốt đẹp hơn chữ  vì vậy chúng tôi cho rằng chữ LY   này mới đích thực là tên của Vua nhà Hồ,  rồi sau do biến động của lịch sử, chữ  đã xảy ra diễn biến 釐 ->  thông qua một dụng ý văn tự của một người hay tập thể nhằm thỏa mãn mục đích riêng.

          Do đó, qua khảo chứng này, rất có thể người viết đã phát hiện ra tên của vua nhà Hồ là LY, nguyên gốc viết chữ Hán là   () chứ không phải là chữ  như trong thư tịch Hoa và Việt xưa nay. Qua đó, vừa  phục nguyên lại chữ viết khai sinh họ tên của Hồ (Lê) Quý Ly là 胡 (黎)季釐 trong sử sách, gia phả họ Hồ từ nay về sau và cũng là vừa khôi phục lại danh dự, nhân cách của một nhân vật lịch sử nổi tiếng suốt bao thể kỷ qua, đã chịu oan khuất trong bóng tối khi bị sỉ nhục bằng một lối chơi chữ đầy ác ý, thâm hiểm của người xưa mà không ai hay biết. Nhiều khả năng tác giả của lối chơi chữ tinh ma để hạ nhục Hồ Quý Ly này chính là vua quan nhà Minh trên quan điểm, thái độ về chính trị và tâm lý cao ngạo, khinh miệt của nước thiên triều đối với nước phụ thuộc, qua chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” mà thực chất là âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam.


ĐINH VĂN TUẤN
Biên Hòa ngày 24 tháng 3 năm 2012
               

Tài liệu tham khảo chính  
  1. Đào Duy Anh, Giản Yếu Hán Việt từ điển,. NXB Tiếng Dân. Huế 1932
  2. Khang Hy tự điển , Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1997
  3. Ngô Đức Thọ. Chữ húy Việt Nam qua các triều đại,. NXB Văn Hóa 1997
  4. Nguyễn Danh Phiệt, Hồ Quý Ly, Viện Sử Học & NXB Văn Hóa – Thông Tin , Hà Nội 1997
  5. Nguyễn Thị Lâm (Phiên chú), Thiên Nam ngữ lục (thơ Nôm), NXB văn học, 2001
  6. Quốc Chấn, Những chuyện lạ thi cử thời xưa, NXB Thanh Hóa, 2006
  7. Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, NXB Đuốc Tuệ. Hà Nội 1942
  8. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (1919), Trung Tâm Học liệu tái bản 1971
  9. Tục tu tứ khố toàn thư, Sử bộ - Địa Lý loại. 3. Đại sử, Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 2002
  10. Viện Khoa Học Xã Hội,  Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993
  11. Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn tập. NXB  Khoa học Xã hội,  Hà Nội 1976
  12. Viện Văn học: Thơ Văn Lý - Trần, tập 111, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978

(Đăng lần đầu trên Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 7. 2012)






[1] Nhưng theo Minh sử , tên của Kinh Lược sứ là Lê Quốc Mao 黎國髦 chứ không phải là Lê Quốc Kỳ 黎國耆 như truyền bản ở VN.
[2] Nguồn, http://www.archive.org/details/02079216.cn
[3] Nguồn, http://nomfoundation.org/nom-project/History-of-Greater-Vietnam
[5] Dự án số hóa kho tàng thư tịch cổ Văn hiến Hán Nôm , website: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/
[6] Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, bản sao chụp  từ  bản ở Thư  viện Hội  Châu  Á, do anh Lê Sơn Thanh cung cấp.
[7] http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/114/
[9] Nguồn, http://www.archive.org/details/02079216.cn 
[11] Ngô Đức Thọ Blog:  http://vn.360plus.yahoo.com/ngoducthohannom/article?mid=357)
[12] Nguồn: www.viet-studies.info/NgoDucTho_KeCho.pdf
[13] Riêng về tên húy Hồ Hán Thương là HỎA 火, 踝 thì sau khi đọc bài tham luận Thông tin mới nhất về Chỉ Nam ngọc âmcũng của Ngô Đức Thọ. (Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm Ngày 12-13 tháng 11 năm 2004),  người viết (bút danh là Đinh Tuấn) cùng với các thành viên (huongho, Khúc Thần…) trong Diễn đàn Viện Việt Học :  http://www.viethoc.org/phorum/read.php?11,32369,  đã mở ra chủ đề: Chữ huý   trong Chỉ Nam Ngọc Âm ? để bàn thảo và xem xét khả năng có  chữ húy nhà Hồ trong CNNÂGN hay không?  Kết quả là không. Do khuôn khổ bài viết, người viết không tiện đi sâu về tên húy của Hồ Hán Thương trong CNNÂGN nên dự định sẽ viết một bài riêng về tên húy của Hồ Hán Thương.

Chép lại từ hopluu.net

Không có nhận xét nào: