Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010

Trần Hoài Thư - Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn

Nói với cô bé ngồi quán
Tặng các bạn hội quán: Đán, Lâm, Danh


Vào đây, ghế quạnh, khuya người

Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian

Quầy trơ, mắt bé ngỡ ngàng

Thuyền ai đổ bến, lòng nàng bâng khuâng


Hồn ta trải gió đầy sân

Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao

Vào đây bàn nhẵn, câu chào

Quen như thân thể, lạ nào chén ly


Đời nhau, khói thuốc quên đi

Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân

Trên kia dáng bé tần ngần

Lời yêu chậm nói, tình gần tay trao


Vào đây đèn đủ hanh hao

Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui

Cúi đời trên chén ly, khuya

Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng


Ngồi thầm, góc quán mông lung

Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai

Vào đây nhạc đĩa đầy vai

Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen


Mòn hao sợi tóc trăm năm

Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau

Ngậm lòng, quán vắng, ơn nhau

Ly trơ ghế nóng, bé chau mắt nhìn


Vào đây như một đức tin

Khói tan đốm thuốc, đời vin tay nào

Miệng cười kín nụ lao đao

Tình chia nghĩa sớt, câu chào riêng ai


Trách gì ý lỡ, lời sai

Cho nhau góc quán đêm dài dung thân

Thôi em trả đó tình gần

Ta xin bóng chiếc, đời cần nhau, đâu ?


Vào đây, ghế quạnh, khuya nhàu

Tình như cổ tích đời sau kể thầm.


Bài thơ là một chứng minh về sự không ngừng tìm tòi, sáng tạo của người thơ, đặc biệt nhà thơ trẻ, trong việc canh tân giòng thơ lục bát, không phải hôm nay, mà hôm qua, không phải bây giờ, mà cách đây gần 50 năm.
Sự canh tân cho thơ là một việc làm chung. Không phải cái ngôi vị được dành riêng cho một cá nhân nào.
Đây là một tác giả điển hình. Ngoài tác giả này, còn có biết bao tác giả khác. Âm thầm. Bỏ cuộc. Tử trận, Tội tù. Và quên lãng. Việc sưu tập vì vậy rất khó khăn.
Riêng cá nhân chúng tôi, qua những tháng miệt mài sưu tập, với cả ngàn bài lục bát, với hơn 600 trang đánh máy để cân nhắc từng giòng, từng chữ, và với những niềm vui vô tận trên những trang thơ ngỡ chừng đã mất, có nhận định rằng, bài thơ trên là một trong số bài lục bát mới diệu kỳ nhất, lạ nhất của một thời, và chưa chắc, mọi thời.

Thứ nhất là loại thơ tân hình thức.

Nó là một bài thơ có nhiều dấu chấm, phết, ngắt câu nhiều nhất.
Trước năm 1975, một số tác giả đã cố mang hình thức mới cho khổ thơ 6-8 bằng những dấu ngắt một cách chủ ý.
Những dấu ngắt đoạn này có tác dụng khiến người đọc thơ ngừng, hay tiếp tục đọc. Trên hành trình thưởng ngọan, người đọc như chiếc xe. Một ụ mô: Xe dừng lại. Đường thẳng băng, xe cũng nổ máy reo vui. Không cần biết nơi nào bắt đầu, hay nơi nào là điểm cuối. Tác giả đã sắp sẵn trên lộ trình rồi.
Ví dụ:
Tháng dư. Buốt nẻ đôi đằng

Nửa chì mưa đục, nửa băng đá cồn
(Ngoại ô, Cung Trầm Tưởng)

Một dấu chấm làm ngăn nhịp 2 và nhịp 4 của câu đầu. Và sau chữ đằng không có dấu chấm.
Tại sao.
Tôi nghĩ là tác giả có chủ ý. Có thể ông không cần dùng dấu chấm (.). Nhưng mà, khi đọc lên, ý thơ sẽ hoàn toàn đổi khác:
Hay qua hai câu sau của Du Tử Lê, với (….) và dấu hỏi ?

(người từ thế giới bên kia)

thấy tôi không ? đã hồn khuya tượng què
(Du Tử Lê- bài lục bát sau tám năm cho người về)

Hay dấu chấm trong một đọan thơ của Đoàn văn Khánh:
Hai tấm ngắn. Bốn tấm dài

Lầm lì tôi đóng quan tài cho tôi
(Đoàn văn Khánh – Hóa Kiếp tôi)

Tuy nhiên, trong 227 nhà thơ được tôi tìm tòi sưu tập ấy, chỉ có vài tác giả có thơ với dấu chấm phết hiện diện, như một chủ ý, qua một vài ba câu thưa thớt chứ không hầu như toàn bộ như bài thơ của Thành Tôn mà chúng tôi vừa giới thiệu.
Với toàn bài 34 câu, có đến 27 câu có dấu chấm hoặc phết, ngắt câu. Kỹ thuật này dĩ nhiên đòi hỏi nhà thơ có một nội lực thâm hậu.

Thứ hai: Mang kỹ thuật Đường Thi vào áp dụng trong lục bát:

Mang câu 8 chẻ làm đôi, và tạo nên con đường rầy song song, chữ đối chữ… đó là một nét đặc trưng của thơ lục bát Cung Trầm Tưởng. Một số nhà phê bình đã ca ngợi ông như là nhà thơ có công trong việc canh tân thơ lục bát. Ví dụ:
Ngày lăn bóng quá lưng đèo

cây hoen lá thắm, xóm nghèo quán không

cồn trơ biếc núi ngồi trông

sương giăng xóm ngủ, mù buông lũng chiều

thuyền nằm, bến cũng xiêu xiêu

con sông tới giấc mắc triều lên nhanh

hồn tôi cái đĩa thâu thanh

tròn nguyên nét nhạc, trung thành ý ca


đồ rê mi pha xon la…
(Chiều – Cung Trầm Tưởng)

Trong bài thơ của Thành Tôn, chúng ta thấy tác giả đã xữ dụng rất nhiều về kỹ thuật đối chữ này.
Ví dụ:
Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian ….
Quen như thân thể, lạ nào chén ly ….
Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng ….
Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai …
Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen ….
Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau
…..

Đặc biệt câu cuối, chúng ta thấy, ngoài việc đối chữ, tác giả còn đối cả dấu chấm, phết.
Không còn chia câu 8 thành hai, mà thành bốn !
Chúng tôi cố gắng tìm kỹ thuật này trong suốt 227 nhà thơ miền Nam mà chúng tôi sưu tập, nhưng không thấy.

Thư ba: Dùng chữ nghĩa rất ấn tượng
Chúng ta đã từng biết nhà thơ Viên Linh được nổi tiếng nhờ những vần lục bát rất ấn tượng của ông.
mối sầu mai phục thân tôi

đi chưa nửa cuộc bỗng rời tứ chi

nghe trong máu chảy rầm rì

xương vi vu rỗng lọt thì truy hoan
(Viên Linh: Về thăm nhà ở Chí Hòa)

Thì với thơ Thành Tôn, ngay hai câu đầu đã gây nên một ấn tượng rất đậm:
Vào đây, ghế quạnh, khuya người

Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian ….

Vào đây nhạc đĩa đầy vai
Dùng chữ vai để tả về một bộ phận trong máy hát thời xưa chuyên vận hành những dĩa hát , thì quả không còn sự ví von, so sánh nào bằng !
Hay dùng chữ sân để ví với lòng mình:
Hồn ta trải gió đầy sân

Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao

Thứ tư: Biến những chữ vô sinh thành ra những từ rất sinh động.
Ví dụ hai chữ "thu nao" nếu không có Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao, thì chắc không có một ý nghĩa gì hết. Hay nếu dùng thì có vẻ cải lương.
Trái lại “thu nao” trong câu thơ là một lối sử dụng chữ rất tài hoa. Đọc lên, êm tai. Đọc lại, đọc lại, đọc lại thấy càng thấm. Và lòng chùng xuống, mùa thu… mây.. mây mùa thu thì bàng bạc, lòng ta cũng bàng bạc vậy thôi….
Ngay cả hai chữ "Thắp Tình", nhan đề tập thơ mà ông đã bỏ công sức, cố học nghề thợ sắp chữ – để tự tay hoàn thành tác phẩm của mình vào năm 1969 thì cũng đã "lạ lùng" rồi.
Rõ ràng, thơ Thành Tôn đã vượt thời gian và không gian, đi rất xa thời của ông, và là một kiện tướng trong việc canh tân thơ lục bát.
Chúng ta xúyt xoa ngưỡng mộ nhà thơ Tô Thùy Yên vì ông dùng hai chữ rất lạ: "Thắp Tạ" cho tựa đề tập thơ mới nhất của ông ở hải ngoại. Tại sao chúng ta lại không để tấm lòng đến một người lính trẻ ở vùng hai khắc nghiệt, đêm ngày đối diện với chập chùng tai ách, đã nghĩ đến hai tiếng cũng rất lạ không kém: "Thắp Tình" cách đây hơn 40 năm?

Mồng 4 Tết, 2010

TRẦN HOÀI THƯ

trích từ Thơ Đến Từ Cõi Nhiễu Nhương, tập phê bình nhận định thi ca Miền Nam, qua những bài viết trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo (Hoa Kỳ): Đặng Tiến, Nguyễn Lệ Uyên, Khuất Đẩu, Trần văn Nam, Lê văn Trung, Luân Hoán, Nguyễn Liệu, Phong Nhã (Trần Phong Giao), Nguyễn Vy Khanh, Trần Doản Nho, Đỗ Hồng Ngọc, Phạm văn Nhàn, Nguyễn Khôi, Trần Hoài Thư

Không có nhận xét nào: