Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2008

Thơ Vũ Trọng Quang

Tháng chạp


Tôi đợi đất trời trở dạ

đêm cao nguyên âm tính dữ dội

sớm mai nở một đồi cúc dại

rực rỡ niềm vui khóc được


Xin một lần phạm tội

hái đóa vàng

nhớ ngày nào nụ hôn đỏ thật

không dám ném tàn phai xuống lòng thung lũng
sợ màu môi trở thành đáy vực


Trở lại trở lại chỉ mình tôi

chỉ mình tôi giấu mãi đồi hoa trong mù sương

áo vàng đã chân đèo bước xuống
chỉ mình tôi giấu mãi mùa đông trong tay ôm
giá rét đã chia lìa hơi ấm



CON ĐƯỜNG


Tôi vẫy tay chào chia tay tôi hôm qua
trở lại làm gì con đường mòn xưa cũ

hối tiếc làm gì lời nhàm chán của con ngựa chân mỏi

nhiều bàn tay trăm tuổi kéo từ phía sau lưng

không chùn bước tới

Tôi chào mừng tôi hôm nay
cắt băng khánh thành con đường thênh thang mới

ngôn ngữ quay trong không gian nhiều chiều

vẫn còn hai hàng cây

nụ hôn ban ngày bình thường

vẫn còn em


Tôi đợi tôi suốt chiều dài

ví dụ ai đó mai này mở nhiều đại lộ hơn
nhiều ngả đường giao nhau hơn
xin giữ lại xin giữ lại

hai hàng bóng mát

tôi muốn vậy


Vũ Trọng Quang

thơ LA QUỐC TIẾN

Lục Vân Tiên thọ nạn giữa rừng

Có một lão già mù ăn xin ngân nga các đoạn Lục Vân Tiên
trên những chuyến phà ngang Rạch Miễu
Có một gã thanh niên say rượu ghếch chân lên thành lan can đứng tiểu
Có cô con gái móc bóp lấy chiếc gương soi và tô lại mặt mình
cùng lúc lão già mù bắt đầu ngân nga
"Trước đèn xem truyện Tây Minh..."
Có đứa bé gái mải mê với chiếc chong chóng giấy màu sặc sỡ
Có một bà già thọt chân gánh bó củi dừa ngồi than thở chuyện củi nặng... đường lầy... gạo đắt
Có gã trung niên vận jean ngồi nhóp nhép kẹo cao su
Có những chị bạn hàng thản nhiên bóc vỏ những trái chuối
nhét vào cổ chú gà tơ đến nỗi trợn trừng
Không có ai
cam đoan là không ai hay tin
"Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng"
để tỏ chút âu lo cho con người trung nghĩa
Tôi móc gói thuốc ra
tôi hút
điếu thuốc đen tắt ngóm nửa chừng
mẹ nó! Thuốc dỏm
Phà vẫn chạy
máy vẫn nổ
sóng vẫn vỗ
tôi dựa vào ghế ngủ gà ngủ gật
khi giật mình mở mắt
lại nghe:
“Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng”
Rừng ở đâu mà dày thế nhỉ?
trên chuyến phà tôi đi
dường như cũng có một khóm rừng
mà những cái cây sao mà trơ trọi
những cái cây đã phai mất hơi rừng
Phà vẫn chạy khàn giọng
lão già mù vẫn ngân nga
gã thanh niên say rượu vẫn càm ràm điều gì như là oan ức
cô gái vẫn tiếp tục soi gương
như cố khám phá một điều gì đang lẩn trốn trên khuôn mặt
đứa bé gái đã ngủ
chiếc chong chóng vẫn xoay
bà già thọt chân vẫn ngồi than thở
gã trung niên vẫn làu bàu với kẹo cao su
những con gà tơ vẫn ngủ gà ngủ gật
sau khi nuốt xong bữa tiệc chiêu đãi cuối cùng...
Không có ai
cam đoan là không ai hay tin
"Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng"



QUÀ TẶNG VỢ

Rượu ngà say anh đi chợ Tết
Cũng chen chân mua chiếc lược sừng
Tóc thiếu phụ sợi dòn chải rụng
Đưa anh gợi nhớ thuở tình nhân.



ĐƯA MẸ ...

Hai đường ray cỗ xe goòng
Quến người hớp đóa lửa hồng về tro
Hóa thân qua ải cửa lò
Sắc - không cậy nhát củi khô bạch đàn
Con lần gậy trúc hoang mang
Mai lên nhúm MẸ tro tàn kẽ tay...
Cỏ chát còn luống heo may
Lòng con quặn biển xót ngày đồng chung
Luân hồi bon cỗ xe rung
MẸ khăn san phất phập phồng khói nâu.



HOA THÁNG 13

Tháng chạp tháng giêng hoa nở rộ
Miền ngực tôi cây lá chẳng theo mùa
Hồn hoa quả tôi bày mâm tĩnh vật
Mà tay dao em đã bén lòng chưa?
Tạ thu rồi bông trang mới hé
Hồn hoa ai cắm được trong bình
Hoa - cuộc hành trình trong xứ đẹp
Hồn nép khuỷu tay em - tôi mút nụ hoa quỳnh
Như đóa hồng nhung ngày giáp hạt
Bông hoa nào có chỉ thay cơm
Nhưng Đốt tìm gì mà lao mình ra đêm băng tuyết
Cái đẹp hắt hơi trong trạm xá nỗi buồn
Của đáng tội những bông hoa thổn thức
Canh ba - canh tư gió vẫn se mình
Răng ngô non có nhớ thời lưu ngọc
Em có tin một đóa quỳnh sẽ nở trong đêm?
Bông hoa tháng 13 rồi sẽ tạ
Hồn hoa em biết tử và sinh
Cái đẹp cuối cùng mà hoa mong tới được
Hãy mở tim em làm chiếc độc bình.


La Quốc Tiến

Tưởng niệm La Quốc Tiến


NHỚ “LỤC VÂN TIÊN”…PHÀ RẠCH MIỄU

Võ Tấn Cường


Nhà thơ La Quốc Tiến ra đi về cõi vĩnh hằng cách đây hơn 4 năm. Căn bệnh ung thư gan quái ác đã quật ngã La Quốc Tiến khi anh đang khát khao sống và khát vọng sáng tạo vẫn còn mãnh liệt trong tâm hồn anh. Những ngày cuối đời, linh cảm về cái chết, La Quốc Tiến muốn tìm không gian tĩnh lặng để lắng dịu tâm hồn. Anh không muốn người thân và bạn bè chứng kiến nỗi đau đớn, vật vã về thể xác của anh do chứng bệnh ung thư gan hành hạ. Anh đã thanh thản ra đi về với hư vô không một lời trăn trối. Ở độ tuổi 55, nhà thơ La Quốc Tiến vĩnh viễn mang theo nỗi hoài vọng cái đẹp về thế giới vĩnh hằng….

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Đức Thọ từng gọi nhà thơ La Quốc Tiến là “Lục Vân Tiên”… phà Rạch Miễu. Nguyễn Đức Thọ gọi như vậy bởi hai lẽ: Thứ nhất, vào năm 1988, La Quốc Tiến có bài thơ “Lục Vân Tiên thọ nạn” đăng trên báo Văn Nghệ Hội Nhà Văn VN gây xôn xao dư luận. Thứ hai La Quốc Tiến là nhà thơ mang đậm cốt cách con người Nam Bộ và sống bằng nghề bỏ mối bánh kẹo nên thường phải qua lại phà Rạch Miễu. Bạn bè và người yêu thơ La Quốc Tiến biết anh là người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và giàu tình nghĩa nhưng cũng bộc trực, thẳng thắn đến độ cực đoan. Sống và sáng tạo đối với La Quốc Tiến là sự bộc lộ rõ ràng quan điểm và thái độ yêu, ghét. Nhà thơ La Quốc Tiến sống chân tình, hết mình với người thân và bạn bè. Anh không chấp nhận thái dộ sống bàng quan, nửa vời và toan tính, dùng nghệ thuật để trục lợi cho bản thân.

La Quốc Tiến yêu thơ đến độ mê dại. Đối với La Quốc Tiến, sáng tác thơ chính là sự tự khám phá cõi thẳm sâu của bản ngã con người và hướng đến sự tự hoàn thiện về tâm hồn, nhân cách. Mỗi lần sáng tác một bài thơ, La Quốc Tiến đều sống tận cùng với khát vọng sáng tạo và những buồn vui của đời người. Anh thường đọc cho bạn bè văn nghệ nghe và sửa đi sửa lại nhiều lần trước khi công bố với người đọc. La Quốc Tiến là nhà thơ có sự lao động nghệ thuật công phu và nghiêm túc. Để tìm một hình ảnh độc đáo, một “nhãn tự” trong bài thơ mới viết, La Quốc Tiến có thể thức trọn đêm hoặc trăn trở, suy tư cả ngày.Chính vì nhập tâm đến độ tận cùng như vậy nên hầu hết những bài thơ của mình La Quốc Tiến đều nhớ mà không cần lưu giữ bản thảo.

La Quốc Tiến chưa từng xuất bản một tập thơ nào. Thế nhưng anh có hàng trăm bài thơ sống trong trí nhớ của người yêu thơ. Những bài thơ của La Quốc Tiến thường viết về tình yêu, sự chìm nổi của đời người, thân phận của con người trong các mối quan hệ với xã hội với vũ trụ và viết về cái đẹp của đời thường. Người yêu thơ thường nhắc đến một số bài thơ của La Quốc Tiến như: “Hòn cuội và bông sứ”, “Bà mẹ đập đá núi Bửu Long”, “ Nụ tầm xuân”, “Cây gậy của anh mù”, “Dây phơi hạnh phúc”, ”Gò Công”, “Nợ bút nghiên”, “Ngày xuân đọc thơ Chế Lan Viên”…vv…. Hầu hết thơ La Quốc Tiến đều viết theo thể thơ tự do, câu thơ co duỗi linh hoạt và khỏe khoắn. La Quốc Tiến thường phát hiện những tứ thơ độc đáo với hình tượng thơ vạm vỡ, giàu tính nhân văn. Mạch cảm xúc trong thơ La Quốc Tiến tự nhiên như hơi thở, cảm hứng thẩm mỹ dồn nén và thanh thoát tạo nên sự bùng vỡ trong cảm hứng tiếp nhận của bạn đọc…

Nhà thơ La Quốc Tiến đã rời xa cõi đời hơn 4 năm. Chàng “Lục Vân Tiên” đã không còn qua…. phà Rạch Miễu. Nhớ về La Quốc Tiến người yêu thơ chợt nhận ra khoảng trống trong cuộc đời và trong nghệ thuật không gì có thể bù đắp. Tâm hồn La Quốc Tiến đang phiêu diêu cùng mây trắng về với cõi vô cùng nhưng những bài thơ của anh thì vẫn thổn thức hồn người và vẫn sống giữa cuộc đời.


theo phongdiep.net


VỀ MỸ THO viếng LA QUỐC TIẾN


Mười năm về lại Mỹ Tho

người đi. Còn mỗi bến đò xôn xao

Lục Vân Tiên ở trời nào

tiếng kêu thọ nạn rơi vào thinh không

cánh cò Vương Bột đằng vân

sắt se lớp lớp ráng hồng tiễn đưa

trước nhà gọi chẳng ai thưa

câu thơ gởi lại gió mưa làm quà

cúng thời cũng chẳng có hoa

khóc không nước mắt

hóa ra khóc mình

con phà Rạch Miễu rung rinh

lạy La Quốc Tiến thôi mình đi đây


Trần Thiên Thị

Mỹ Tho 2007


vĩ thanh thơ La Quốc Tiến

" có con cò ma lụy câu thơ Vương Bột

cứ chấp chới bay về phía ráng chiều "


theo http://giaocam.saigonline.com

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2008

Tình Xuân

ngày đến cuối một năm
tháng mười hai dập dồn những lễ hội
em đã đi theo những lời dối trá kia
cũng như đám mây phụ bạc trên trời
không bao giờ hợp lại

chiều vàng như một lần trễ hẹn
nhìn mọi người qua đây
không ai biết ta đang chờ mong ai
bữa tiệc đã tàn
người phục vụ cuối cùng cũng nhẹ nhàng nói lời từ giã

những ngọn đèn đêm nay trên bầu trời là những ánh sao lấp lánh tình chúng ta
vẫn muôn đời như thế hỡi em
cho dù trái đất sẽ tan đi chúng ta rồi cũng sẽ tan đi
nhưng hạt bụi vẫn còn
và cuộc sống vẫn tái hiện
như tình yêu còn mãi sự bất diệt
cho những người yêu nhau

cho dẫu ngày hôm nay sự cô đơn cũa một người là hạnh phúc của tình yêu
được nhớ nhau trong xa lìa
được tha thiết trong ngăn cách
cho dẫu ngày hôm nay là dấu chấm của một năm
cũng là bước khởi đầu của muôn trùng mới lạ

ngày đến cuối một năm
trên mọi ngã đường và trên các góc phố
những nụ cười là cành hoa xuân mời gọi
hãy yêu nhau khi ta còn tuổi trẻ
hãy thương mến nhau khi ta còn hiện hữu giữa cuộc đời
và em, hãy quay về với tình yêu tôi chờ đợi
ta sẽ vẽ một trang tình
mừng mùa xuân nhân loại

TỪ HOÀI TẤN

Nguyễn Hòa: Về thơ, và không chỉ về thơ (trích)

7. Nhà thơ ơi, đừng “diễn” nữa!

Trở lại với thơ, theo những gì một số nhà thơ lớn kể lại và tôi đã đọc, thì ý tưởng giữ vai trò là điểm xuất phát cho bài thơ và có khả năng đọng lại trong người đọc thường nảy sinh một cách tự nhiên, thậm chí bất chợt. Điều tưởng chừng ngẫu nhiên ấy là sự tích tụ, thăng hoa của rất nhiều yếu tố mà ngay bản thân người làm thơ cũng khó lường hết. Diễn biến phức tạp trong sự ra đời của những bài thơ như vậy là hoàn toàn đối lập với sự sáng tác của một số người làm thơ hôm nay, thiếu ý tưởng, họ chạy gằn theo người khác. Thiên hạ làm thơ tân hình thức thì cũng đua nhau làm thơ tân hình thức. Thiên hạ viết hậu hiện đại thì cũng đua nhau viết hậu hiện đại. Thiên hạ ném rác rưởi vào thơ thì cũng đua nhau ném theo. Thiên hạ trình diễn thơ thì cũng đua nhau trình diễn,… nghĩa là cái riêng của họ rất mờ nhạt. Cho nên, dù là người dành nhiều ưu ái đối với thơ trẻ, gần đây Inrasara vẫn phải viết bài để lưu ý một số cây bút thơ đang lặp lại của nhau. Và tôi lại buồn cười khi thấy anh nhà văn kiêm nhà thơ đã nhắc tới ở trên nói như đinh đóng cột nhưng không mảy may chứng minh việc: “Tinh thần hậu hiện đại, khi vào với cộng đồng người viết tiếng Việt, đã và đang được Việt hoá” như thế nào. Đọc tới chỗ anh tự quảng bá về sáng tác của mình, tôi nhận ra anh cũng chẳng hậu hiện đại gì: “Với tiểu thuyết, tôi quan tâm đến giọng điệu. Thường thì trong đầu tôi có một số thứ, như nhân vật, câu chuyện, một không khí nào đó, thậm chí là vấn đề nọ kia… nhưng tôi chỉ có thể viết khi giọng điệu đó cất lên chắc chắn”. Tôi nghĩ anh nói cho oai thế thôi chứ mấy chữ hậu hiện đại trong quan niệm của anh xem ra cũng lỏng lẻo, đơn cử: “tôi đặc biệt muốn nhắc tới Bút Tre. Hình như sinh thời ông không tự nhận mình sáng tác theo phong cách gì, và nếu giờ vẫn sống tôi tin ông cũng chẳng nhận mình là “hậu hiện đại”, nhưng tinh thần giải thiêng và thủ pháp giễu nhại của ông thật tuyệt vời. Đó chính là một nhà thơ hậu hiện đại rất tiêu biểu, hơn nữa lại đi tiên phong, ít ra là ở phía Bắc”. Nếu chỉ bằng vào tinh thần giải thiêng và sử dụng thủ pháp giễu nhại trong sáng tác để đánh giá một tác giả là hậu hiện đại hay không thì xem ra hậu hiện đại đã có mặt ở nước Nam ta từ lâu rồi đấy nhỉ. Như thế thì khác gì ngày trước, có người mau mắn phát hiện sân khấu tự sự biện chứng từng có mặt ở Việt Nam từ thời xa xưa, bằng chứng là câu “Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ” trong sân khấu chèo! (Viết ra điều này, tôi đồ rằng anh nhà văn kiêm nhà thơ nọ sẽ dễ lại phản ứng bằng cách đưa tôi lên blog của anh. Không sao cả, là người đàng hoàng, tôi chấp nhận, và không bận lòng với kiểu phản ứng ấu trĩ như thế!).

Thêm nữa, cũng nên nhắc tới sự khác nhau giữa chín chắn với hiếu thắng, tự thị trong khi đón nhận sự đánh giá của dư luận đối với tác phẩm được gọi là cách tân. Tác giả chín chắn sẽ giữ thái độ im lặng, tiếp tục sáng tạo để chứng minh họ đã lựa chọn đúng. Người hiếu thắng, tự thị sẽ phản ứng theo những kiểu lối đại loại như: coi bạn đọc dốt nên không biết đọc thơ mình, bảo nhà phê bình kém cỏi nên không hiểu, hoặc lấy nước ngoài ra làm tiêu chuẩn để đo lường năng lực cảm thụ thơ ca của… nước ta. Cổ nhân bảo “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, song người ta lại cố đi tìm các lý do ngoài mình chứ không xem xét lại chính bản thân mình. Như thế thì làm sao mà “lớn” lên được. Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây, bàn tới tình huống hậu hiện đại có mặt trong thơ Việt Nam muộnchậm, nhà thơ Inrasara viết: “Với người viết, mang cảm thức hậu hiện đại thôi không đủ, nhà văn hậu hiện đại là kẻ biết vận dụng thuần thục thủ pháp hậu hiện đại vào sáng tác. Một, một vài hay tất cả mọi thủ pháp thích hợp”. Tôi lại nghĩ khác với Inrasara, nếu người làm thơ thật sự có cảm thức hậu hiện đại, cảm thức ấy sẽ chi phối việc anh ta tìm ra hình thức biểu đạt, sáng tạo thủ pháp nghệ thuật cho riêng mình, không nhất thiết phải biết vận dụng thuần thục thủ pháp hậu hiện đại. Và nhà thơ có tài năng hay không cũng từ đó mà ra.

Lâu nay, chúng ta đã nói quá nhiều về vai trò của tri thức, song trong thực tế, nhiều người trong chúng ta lại hành xử theo thói quen coi thường tri thức. Nghĩ mà buồn cười, một thời ở Hà Nội, đến nhà một số vị, tôi thấy có giá sách rất to bày ở phòng khách, như là muốn đưa ra thông điệp rằng chủ nhân là người hay chữ. Nhìn những cái gáy sách phẳng lỳ, chưa có nếp nhăn, tôi biết tỏng là chủ nhân chưa đọc. Để kiểm tra, có lần tôi giả vờ hỏi về một cuốn sách trên giá, và chủ nhân nói về nó rất say sưa, nhưng đó lại là nội dung cuốn sách khác chứ không phải cuốn tôi muốn hỏi. Có lần tôi vừa mua được một cuốn sách, một ông nì nèo mượn bằng được để đọc trước, hai ngày sẽ trả ngay. Nể quá tôi đưa ông. Sau hai ngày, chưa thấy tin tức gì, tôi gọi điện hỏi. Ông bảo cuốn ấy phải đọc kỹ, và đề nghị mượn thêm vài ngày. Đến khi ông trả thì tôi phát hiện ông chưa đọc vì cuốn sách còn mới tinh và có vài trang vẫn dính liền, chưa rọc! Còn bây giờ, với một số người, tri thức lại là tập hợp một mớ hổ lốn các bài báo đọc trên internet. Người ta khoe tri thức bằng cách thi thoảng trịnh trọng thông báo nghe nói trên mạng thế này, nghe nói trên mạng thế kia. Internet đang trở thành “mốt” trí tuệ của một số vị khoa bảng nước nhà. Tôi đã từng gặp mấy vị, mùa đông cho chí mùa hè, lúc nào cũng thấy đeo USB lủng liểng cạnh ca-ra-vat. Tôi nghĩ là người ta diễn, vì ngồi họp cạnh mấy vị đeo USB, nhưng cả ngày chẳng thấy dùng máy tính, vậy đeo USB để làm gì nhỉ? Bên cạnh việc tỏ ra là người tiên tiến, theo kịp công nghệ thông tin, lâu nay lại thấy một số vị có xu hướng trở về với minh triết phương Đông, bằng cách trang bị khả năng vẽ vài ba chữ Hán, thuộc dăm ba lời Khổng Tử, Mạnh Tử… để đôi lúc diễn tiểu phẩm thâm thúy, trầm ngâm. Chỉ ngồi bàn trà với nhau, nhưng tôi vinh dự được một vị là tiến sĩ - nhà phê bình văn học kiêm nhà thơ “dạy” cho không dưới 10 lần cái mệnh đề “phương Tây là phân tích, phương Đông là tổng hợp”. Còn một ông là Phó giáo sư Tiến sĩ thì bảo: “chữ trong tiếng Hán có nghĩa là sửa chữa, tu bổ. Các anh chị đi trên đường, thấy tấm biển đề lý trình thì đoạn đường ấy đang sửa chữa”. Nghe thầy nói, tôi hỏi luôn: “Thưa thầy, theo thầy thì thiên lý có nghĩa là sửa trời phải không ạ?” và ông thầy… mần thinh! Lười đọc nhưng thích diễn, đó là một trong nhiều nguyên nhân đẩy tới sự trì trệ tri thức, trong đó có sự trì trệ của tri thức văn học.

Tình trạng mạnh ai nấy nói và đã nói là tự coi mình thủ đắc chân lý đã làm cho văn đàn đôi khi trở thành “sân chơi” của não trạng hoang tưởng, nông hẹp tri thức, trở thành “sàn diễn” của thói tự đắc. Đưa ra ý kiến về một (nhiều) vấn đề văn học là quyền của mọi người, nhưng điều đó liệu có đồng nghĩa với việc muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, kể cả nói và viết những điều hợm hĩnh, lố lăng? Tôi ngại nhất là chuyện quảng bá tác phẩm, hình như người ta không lăn tăn trước khi đưa ra các thông tin đại loại như tác phẩm đang được săn lùng, tác phẩm được hồ hởi đón nhận… bất chấp sự thật là cuốn sách chẳng mấy người đọc, cũng chẳng mấy người mua. Tôi coi đó là đánh lừa, là thiếu tôn trọng công chúng. Buổi sáng ngày báo X có bài kể về sự tấp nập, rộn ràng của bạn đọc kéo nhau tới phố Đinh Lễ để mua cuốn Trần Dần - Thơ, tôi liền mò đến xem sao. Hơn hai tiếng đồng hồ, mắt không rời các giá sách có bày Trần Dần - Thơ ở vỉa hè, tuyệt nhiên không thấy ai cầm sách lên xem chứ chưa nói là mua. Cuối cùng, tôi là người duy nhất sáng hôm ấy đã mua 2 cuốn, một cho mình, một cho bạn. Tới hôm nay, tôi vẫn băn khoăn: Hay là hôm đó đúng phải ngày bạn đọc đã cạn sạch tiền, hay là người ta quảng bá ba xạo, hay là ở Hà Nội còn một phố Đinh Lễ nào khác mà tôi chưa biết? Kể với một anh bạn, hóa ra cũng thế. Anh đến ngõ Tràng Tiền, gặp chị “đầu nậu” là người quen, chị bảo mua ngay kẻo sắp cấm rồi, bạn tôi dùng dằng. Ra phố Đinh Lễ thì thấy sách bán la liệt, mua quá dễ. Người ta cố biến tập thơ thành một vụ sự chính trị - xã hội, rút cục cố gắng ấy đã biến thành trò cười với sự “khép lại” bẽ bàng của một bức Thư ngỏ. “Khép lại” rồi song người ta còn cố vớt vát theo tinh thần AQ: “bảo vệ được tập sách Trần Dần - Thơ, ít nhất khỏi bị thu hồi hay tiêu hủy”! Tôi lấy làm tiếc là trong những người ký tên vào bức thư, lại thấy có tác giả mà tôi vẫn ngỡ là chín chắn hơn nhiều.

Định viết chơi chơi vài dòng, đâu ngờ tôi lại hăng hái đến mức đã biến một bài báo nhỏ thành một tiểu luận (mà gọi là tiểu luận có khi lại không đúng, vì xem chừng bài viết gần với một ghi chép tản mạn!). Nhìn đời sống tinh thần như một hệ thống, thơ sẽ không phải là một lĩnh vực loại biệt. Tương tự như cuộc khủng hoảng của văn xuôi Việt Nam đương đại, muốn đi tìm nguyên nhân khủng hoảng của thơ, cần coi nó là một bộ phận trong tổng thể các yếu tố mà đôi khi một số nhà nghiên cứu - phê bình hình như chưa quan tâm (hay không muốn quan tâm?). Với nhà thơ cũng vậy, đừng tự coi mình thuộc về “lớp người đặc tuyển”, đừng tự nghĩ bản thân đứng cao hơn, hay đứng ngoài các quan hệ xã hội. Là chủ thể sáng tạo, họ có phần trách nhiệm khi thơ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nếu nhiệt tâm muốn giúp thơ vượt qua tình trạng trì trệ, xin đừng “diễn”, a dua hay đánh lừa người đọc. Hãy khảo chứng chính mình để cùng tìm ra phương cách đổi mới thơ ca. Không có điều gì khác, “sức khỏe của thơ” phụ thuộc vào “sức khỏe tinh thần” của nhà thơ, chứ không phụ thuộc vào bạn đọc, không phụ thuộc vào giới nghiên cứu - phê bình. Vì thế, hãy trang bị một nội lực tinh thần thật sung mãn, dồi dào và hãy sáng suốt để đi trên lộ trình của thơ, cho dù lộ trình ấy có thể còn nhiều gian nan, trắc trở!

NH – viết xong 7.2008, bổ sung và hoàn chỉnh 9.2008.

Đọc tòan văn trên: http://viet-studies.info/NguyenHoa/NguyenHoa_VeTho.htm

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2008

Huế xưa

Netcodo sưu tầm và giới thiệu chùm ảnh các hoạt động và phong cảnh của Cố đô Huế xưa kia.

Cảnh toàn thành của cố đô Huế khi xưa

Bên dòng sông Hương

Quan cảnh sau cổng thành

Nhìn từ trên cao

Một cổng vào

Một lối đi trong điện Cần Chánh

Nơi trưng bày những lễ vật của quan khách

Những lễ vật

Những lễ vật

Những lễ vật

Ðoàn hát Nam-Ðịnh

Nhóm nhạc sĩ của một dân tộc thiểu số

Ðoàn vũ công miền Nam

Ðoàn vũ công của Vinh và Thanh Hóa

Phía bên trong cửa Ngọ Môn

Bá quan lạy khi vào tới điện Cần Chánh

Bá quan lạy khi vào tới điện Thái Hòa

Vua Khải Ðịnh đang dùng cơm trưa ở điện Cần Chánh

Vua đãi cơm chiều cho bá quan ở điện Cần Chánh

Ðiện Thái Hòa

Thuyền của Thái Hậu và các bà phi coi đua thuyền

Ảnh: Ngô Văn Ðức (Bordeaux, Pháp)
http://www.hue.vnn.vn/vedephue/thuvienanh/2008/10/301311/

Xứ Huế, người Huế

Vùng đất này là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều và như vậy đã xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành những nếp gấp trong suy nghĩ, đời sống, phong cách ăn và mặc, nói năng, ứng xử...

Ảnh minh hoạ

Các vương tôn công tử, do giáo dục trong hoàng tộc hoặc từ trong gia đình, thể hiện một phong cách sống lắm lúc không thật sự tự nhiên mà phải luôn giữ kẽ, nhất là khi ra mắt công chúng, phải giữ một vẻ bề ngoài phần nào xa cách, hay cao cách, tối thiểu là kín đáo, ung dung, không bộc trực, bộc phát, và ngay cả đến thời thất thế, sa cơ vẫn “giấy rách phải giữ lấy lề”.

Kinh đô Huế làm nảy sinh nơi người dân một phong cách mà người ta nương tình gọi là “đài các”, tức là một vẻ cao sang mơ hồ nào đó, nhưng cái đài các này không khu biệt trong vòng hoàng thành mà còn lan tỏa trong dân gian. Từ cái đài các ấy còn rẽ riêng một nét tinh mà người tại chỗ gọi là tính “đài đệ”, có nghĩa là một sự giữ kẽ, giữ ý, và luôn cả một tính cách mà người ta gọi là “đế đô”. Khi người mẹ mắng con gái “đừng có đế đô!” thì có nghĩa là đừng có đòi hỏi, đừng với cao, đừng học làm sang.

Cái tính “đài đệ” được thể hiện rộng rãi, tràn lan, chẳng hạn ở chiếc áo dài mà có lẽ Huế là nơi được mang mặc nhiều hơn cả. Cho đến những năm 1970, người nữ ở Huế ra khỏi nhà là mặc áo dài, kể cả chị tiểu thương ở chợ hoặc bà bán hàng rong. Thậm chí nhiều bà danh giá đi ngủ vẫn mặc luôn áo dài.

Thiếu nữ Huế thường là kín đáo, không bộc lộ tâm tình cho người khác biết, có khi là e ấp, cũng có khi là ỡm ờ. Trong hai câu thơ của Đông Hồ nhắc đến cô gái Huế: “Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ, quai lọng nghiêng vành chiếc nón thơ”, ta cảm thấy các món trang sức như tà áo, chiếc nón, bài thơ trong nón đều góp phần tạo nên nét duyên e ấp của “nàng Tôn Nữ” và nàng Tôn Nữ ở đây dùng để chỉ chung các thiếu nữ Huế. Một tác giả Pháp chấm phá dung nhan này như sau: “... Các cô gái Huế kiêu sa và dễ làm ra vẻ khinh khỉnh, họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang chảy truyền trong huyết quản của mình” (Jean Hougron, Soleil au ventre, trang 67).

Trong khi sông Hồng và sông Cửu Long đi vào địa lý và hiên ngang đi vào kinh tế, thì sông Hương êm đềm đi vào thơ nhạc. Văn hóa nghệ thuật là một cõi mênh mông, rất ít tính chất thực tế, nhưng làm đẹp cho đời, giống như bông hoa trong đời sống.

Sông Hương hiển nhiên như đóa hoa tô điểm cho thành phố. Không có con sông nào làm hao tốn giấy mực cho bằng sông Hương. Không có con sông nào làm tuôn trào suối nhạc cho bằng sông Hương. Và cũng chính nó là nguyên ủy cho sự ra đời của bao nhiêu hiệp hội ái hữu, đồng hương với nó ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Như ta vừa nói, sông Hương đã khơi nguồn cho nhiều suối thơ. Nó cắm được nhiều điểm lưu khách, nhiều bến sông hữu tình dễ neo thuyền. Một số lớn các chúa, các vua, các vương, các hoàng thân công nữ đã chấm bút vào nghiên thơ. Các thi xã, hội thơ, thi đàn nối tiếp nhau ra đời.

Về lĩnh vực thơ của các tôn thất, hãy khoan nói đến chất lượng có cao như lời khen tặng của vua Tự Đức chăng, hay là ngược lại, có thấp như lời phê nghiêm khắc của Cao Bá Quát, ta chỉ cần ghi nhận rằng thi ca trở thành một sinh hoạt tinh thần rộng khắp, cho già trẻ trai gái, cho mọi nghề, mọi nhà, như thể là một sinh hoạt bình thường hằng ngày, giống như người ta hít thở không khí vậy.

Tuy nhiên, cũng chính con sông Hương mà người ta dễ tưởng là suốt đời lặng lẽ ngoan hiền ấy hằng năm vùng dậy quẫy nước tràn bờ. Bởi Huế không những nổi tiếng nắng nóng mùa hè, nó còn nổi tiếng về lụt lội nhiều lần trong năm và những lúc ấy nước sông đục ngầu, dữ dội, có khi chảy ngược dòng. Nước sông cuồn cuộn ấy, dù là trái ngược hẳn với thường ngày, vẫn đúng là hình ảnh của sông Hương, là lòng dạ sâu thẳm của nó đã lộ diện, là bộ mặt bổ túc vào bộ bộ mặt thường bắt gặp của nó.

Tóm lại, nắng cháy với mưa dầm bão lụt, ấy là Huế. Nước chảy lờ đờ và nước phăng phăng cuồn cuộn, ấy là sông Hương. Người thiếu nữ nghiêng nón dạ thưa nhưng yêu thương say đắm, dữ dội, ấy là con gái Huế.

Người Huế thường phản ứng chậm. Vẻ bề ngoài và hành động không hô ứng tiếp liền nhau. Hay nói cách khác, giác quan tiếp nhận cảm giác và nội tâm cứ hành hai nhịp khác nhau và giữa hai nhịp đó là một khoảng dành cho nụ cười, tiếng dạ thưa, sự e dè, cân nhắc. Đó là một loại “phản ứng hẹn giờ”, nhưng một khi phản ứng phát ra, nó có tính cách dứt khoát, không vãn hồi. Đó là nét tinh Huế mà người ta gọi là “thâm trầm”, “thâm thúy”.

Nếu không có lịch sử sẵn chực những bằng chứng cụ thể, hùng hồn thì ít ai ngờ rằng cái đất Huế trầm mặc này lại có thể là sân khấu phát động, châm ngòi những biến cố lớn của đất nước từ trong lòng những học sinh sinh viên chăm học hoặc những chị tiểu thương hiền lành tần tảo. Hóa ra đất Huế là đất nuôi trồng những thái cực, và con người xứ Huế để ra cả một đời mình để gỡ rối mớ bòng bong tâm lý và mâu thuẫn nội tâm này.

Con người Huế làm nên Huế là những con người đi ngược lại những thuộc tính ban đầu của vùng địa lý. Nó vật lộn thường trực với những mố giằng co tâm lý.

Trịnh Công Sơn trong ca khúc Diễm xưa có nói tới một loài chim di. Chim di là một loài chim di trú, không định cư tại một nơi chốn, tùy theo mùa xoải cánh đi tìm nơi khí hậu ôn hòa.

Người dân Ô Lý chất chứa trong tâm khảm mình một món nợ tinh thần đời đời với công chúa Huyền Trân ngày xưa đã vùi quên tuổi thanh xuân của mình mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Đó là một sự lưu đày biệt xứ nhưng tự nguyện và vị tha.

Nó đã ghi dấu sâu đậm vào ca nhạc của xứ sở này. Cái hơi “ai” của ca Huế không hẳn là sầu bi nhưng đầy hoài bão, vừa tự sự mà vừa khơi dậy mạch tình bắt nguồn từ xa xưa, hòa tan vào huyết mạch, hầu như khó lòng truy cứu, khó lòng giải mình. Nó như thể một loại tình cảm nguồn cội, lắng sâu, dằn lòng xuống kết tạo thành một trọng lượng của tâm hồn. Sợi dây tình cảm này trói buộc bước chân con người, níu kéo con người không cho nó rời xa cái phố đẻ của nó.

Người ta bảo đất Thừa Thiên này vừa là vườn ươm vừa là bệ phóng nhân tài, cũng có nghĩa nơi đây vừa là địa điểm đào tạo, rèn luyện con người vừa là môi trường thiên nhiên hun đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi thanh niên, lập nghiệp để rồi sau đó đàn chim rời tổ bay xa.

Người con của Huế cảm thấy khó lòng rời xa bàn thờ tổ tiên hoặc cõi nhà vườn của mình. Tuy nhiên vẫn có cảm nghĩ chưa bỏ nhà ra đi vẫn chưa viên thành vận số của mình. Và một khi xa xứ, bắt đầu nảy nở trong tâm thức kẻ ly hương một loại tình cảm mới: tình cảm hoài hương. Loại tình cảm này có tính cách siêu hình, thâm sâu như tình con với mẹ, nó âm ỉ như mạch ngầm, như than hồng vùi dưới tàn tro. Xin đừng xem đó là một thứ tình cảm nhi nữ thường tình, ủy mị. Nó vừa giúp con người không quên nguyên quán của mình, vừa thôi thúc con người sống chẳng phải cho bản thân , mà cho một vận hội chung, có tính vị tha, hướng thượng. Trong nhận thức ấy, con người lưu vong gầy dựng hội đoàn, tập thể ái hữu hướng vọng về quê hương, xem đó như những ốc đảo tình cảm giữa đời sống mênh mông.

Người Pháp thường tự hào về văn hóa văn minh của mình. Sự tự hào này thường là kín đáo, nhưng cũng có khi bộc lộ, đặc biệt khi họ đề cập đến tiếng Pháp, nền giáo dục của họ với những đại học cổ kính và các văn bằng, các giải thưởng văn học nghệ thuật, các thiết chế văn hóa (các viện hàn lâm, viện bảo tàng, nhà bi kịch, kịch nghệ...), các công trình phúc lợi xã hội (công viên, giao thông...), các nghệ thuật ẩm thực...

Các quốc gia khác cố tìm ra những điểm nhược trong văn hóa văn minh ấy để cười cợt cái mà họ gọi là sự “khác người” ấy (exception francaise) của người Pháp.

Hình như người Huế cũng đang mắc bệnh này và có xu hướng tự cho mình là “khác người” hay “hơn người” ở mặt này mặt khác, và luôn cả trong sự tụt hậu, hay luôn cả trong sự nghèo thiếu. Cái câu mà ai nấy thường nghe là “không nơi nào có được” thường bày ra hai mặt mà, khổ nỗi, mặt tiêu cực thường lấn lướt.

Vậy cho nên, vấn đề còn lại đối với người Huế là chữa cho được bệnh này hoặc làm cho căn bệnh lạm vào bên trong không nguy hiểm, và muốn được vậy, hơn lúc nào hết, cần có nội lực thâm hậu.

Tóc thề xứ Huế buông dài và tóc xoã bờ vai

Theo Tuổi trẻ

http://www.hue.vnn.vn/vedephue/connguoihue/2008/12/308119/