Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 95 – 12.12.2011 (Trích đăng từ 1.1.2010)

TƯỞNG NIỆM

432 - Đơn Dương

PHIM VÀ ĐỜI

Diễn viên điện ảnh Việt kiều Mỹ tên thật Bùi Đơn Dương sinh 1957 tại Đà Lạt – Mất tháng 12.2011 ở Mỹ (55 tuổi).

Sau 1975 làm nhân viên một xí nghiệp dược ở TPHCM rồi qua giới thiệu của người anh rể làm đạo diễn ở TPHCM mới chuyển qua làm quen với điện ảnh bắt đầu bằng một vai phụ trong bộ phim truyện “Bức tượng” của đạo diễn Lê Dân năm 1982.

Tuy không học trường lớp điện ảnh chuyên nghiệp nào nhưng có tài năng bẩm sinh diễn xuất đặc biệt có chất nội tâm sâu lắng nên từ đó liên tiếp xuất hiện trong nhiều bộ phim truyện nhựa lẫn truyền hình. Đạt nhiều thành công đáng kể trở thành một nam diễn viên điện ảnh được đánh giá cao đặc biệt qua các phim truyện gây tiếng vang như “Ông Hai Cũ”, “Đời cát”, “Mê thảo”, “Ba mùa”… Tổng cộng trong 20 năm đã đóng 38 phim, một con số sự nghiệp đáng nể trong tình hình nền điện ảnh VN sau chiến tranh còn khá nghèo nàn.

Đặc biệt dù bản thân gia đình theo đạo Thiên Chúa hầu như không có dính líu gì đến cộng sản, có người thân đi nước ngoài song lại đóng rất đạt vai… bộ đội từ thương binh đến sĩ quan, chính ủy! Như vai ông Hai Cũ một nhân vật của nhà văn và nhà lý luận kiêm chính trị Trần Bạch Đằng hay vai nam nhân vật chính sĩ quan bộ đội về quê sau chiến tranh trong “Đời cát” bộ phim đoạt giải lớn Liên hoan Phim VN năm 2000.

Đến năm 2002 xảy ra một bước ngoặt trong sự nghiệp là qua phim “Bốn mùa” do một đạo diễn Việt kiều Mỹ thực hiện (đoạt giải Liên hoan phim Mỹ Sundance) đã được một hãng phim Mỹ mời qua đóng 2 bộ phim “Rồng xanh” (Green Dragon) và “Chúng ta là lính” (We were soldiers) có nội dung liên quan đến VN. “Rồng xanh” kể chuyện về một trại tị nạn của người Việt vượt biên ở Thái Lan, còn “Chúng ta là lính” (có sự tham gia của diễn viên “bom tấn Hollywood” là Mel Gibson) nói về cuộc chiến Việt – Pháp và Việt – Mỹ đã qua, cả 2 không ít thì nhiều đều có dụng ý xuyên tạc chống lại chế độ cộng sản hiện hành tại VN.

Vì thế tuy chỉ đóng vai phụ (vai một thông dịch viên trong phim đầu và vai một sĩ quan cấp tá chỉ huy tiểu đoàn đánh Điện Biên Phủ trong phim sau (vai này ám chỉ một nhân vật có thật sau này là thượng tướng nay đã quá cố chỉ huy một cánh quân tấn công vào Sài Gòn tháng 4.1975) nhưng khi về nước đã bị dư luận báo chí “đánh” tơi tả, ghép tội là “phản bội”! Tuy không bị chính quyền chính thức có biện pháp “trừng phạt” nhưng cũng khó chịu nổi sức ép quá đáng đó nên phải cầu cứu Holllywood can thiệp bảo vệ mình.

Kết quả năm 2003 được phép qua Mỹ định cư (theo người chị ruột bảo lãnh) với lý do trần tình: “Tôi không bao giờ muốn rời bỏ quê hương nhưng họ đã không cho tôi một lối thoát, họ cắt niềm đam mê diễn xuất của tôi, cấm không cho tôi đóng phim, nhục mạ gia đình tôi…”

Tuy nhiên qua Mỹ rồi nhiều năm vẫn chẳng thấy xuất hiện đóng phim gì nữa cũng như ước mơ cùng bạn bè lập một hãng phim riêng không thành. Có thể vì không chọn được phim hay vai phù hợp như tự giải thích hoặc do đã mất “giá trị thời sự” rồi?

Thay vào đó cuộc sống riêng lại bị mang tai tiếng về chuyện tình yêu, hôn nhân. Đầu tiên là chuyện năm 2008 cưới vợ mới là một bà chủ thẩm mỹ viện có cổ phần trong Thúy Nga Paris đã 64 tuổi (lớn hơn 14 tuổi, nguyên là phát thanh viên đài Sài Gòn chế độ cũ), từ đó dẫn đến vụ một ngươì tình cũ cũng là một nữ doanh nhân Việt kiều khác đâm đơn kiện ra tòa về tội lường gạt cả tình lẫn tiền (tống tiền).

Năm 2009 toà án Mỹ xử vắng mặt phải bồi thường 200.000 USD nhưng kháng cáo nên vài tháng sau tòa lại… hủy án!

Qua đời bất ngờ sau một ca mổ tai biến mạch máu não.

951 – Elvis Phương

“HÁT Ở VN LÀ SƯỚNG NHẤT”

Ca sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Phạm Ngọc Phương sinh 1945 tại Bình Dương. Sống Mỹ – VN (2011).

Trước 1975 đã là giọng ca nhạc trẻ nổi tiếng ở Sài Gòn cùng ban nhạc Phượng Hoàng (với Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang lo phần nhạc). Chuyên trình diễn nhạc ngoại thường là rock theo phong trào thời đó (lấy nghệ danh theo Elvis Presley mình rất mê, học trường Tây nên giỏi ngoại ngữ như trường hợp Thanh Lan) song cũng hát tốt nhạc trữ tình VN qua những ca khúc gây ấn tượng xúc cảm sâu đậm như “Bài thánh ca buồn”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”, “Chuyện tình buồn”…

Sau 30.4.1975 qua Mỹ tiếp tục biểu diễn dù bạn thân Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang còn kẹt ở lại. Năm 1977 ra album hải ngoại đầu tiên “Hát cho người vượt biên”…

Năm 1980 lấy vợ thứ hai (vợ đầu đã mất, có 3 con) cũng Việt kiều chuyên viên ngành địa ốc có tiếng sau đó chấp nhận bỏ nghề lo việc hậu trường theo chồng lưu diễn, thu âm khắp nơi. Với vợ sau có thêm một con trai.

Năm 1996 lần đầu tiên trở lại quê hương, thăm.quê nhà Bình Dương và TPHCM chốn khởi nghiệp. Là một trong những ca sĩ hải ngoại đầu tiên được cho trình diễn trở lại qua đó ghi nhận khán thính giả trong nước vẫn còn nhớ đến mình: “Với âm nhạc, tôi còn đây bởi tôi còn khán giả, đó là may mắn lớn nhất đời tôi.” Bắt đầu làm quen với “nhạc Cách mạng”, thích nhất bài “Thuyền và biển” của Phan Huỳnh Điểu vì bài “Thuyền và biển” lúc đó cứ như tâm tình của tôi với quê hương”.

Qua lại Mỹ năm 1998 thì bị biến chứng bệnh tim nặng nguy hiểm tính mạng phải phẫu thuật gấp (triệu chứng bệnh đã có từ năm 1994 khiến có vài lần ngất xỉu ngay trên sân khấu song vẫn không chịu nghỉ hát để điều trị) may mà qua khỏi. Ra viện, quay về VN lần thứ hai, ra Nha Trang quê vợ mua nhà ở, nơi có không khí trong lành thích hợp để dưỡng bệnh đồng thời tập luyện hát trở lại.

Đến năm 2000 khi giới ca sĩ hải ngoại được cho phép về biểu diễn bình thường liền quyết định cùng vợ về VN mua nhà vùng giáp ranh TPHCM và quê Bình Dương để ở và trình diễn lâu dài. Quyết định bị phe phái chống Cộng ở Mỹ và Úc chống đối kịch liệt, các bầu sô “tẩy chay” không mời nữa (tuy nhiên chỉ được khoảng 2 năm rồi… thôi!). Nhưng vẫn giữ vững quyết tâm về: “Đời của tôi cũng có những khúc quanh. Mổ tim là một khúc quanh và khúc quanh lớn nữa là chọn trở về VN.”

Từ đó trở thành “sao” một lần nữa trên thị trường ca nhạc trong nước đối với giới khán giả trung niên - và tham gia biểu diễn đóng góp hoạt động từ thiện - dù đã thuộc vào hàng “lão tướng”, lập 2 kỷ lục “Ca sĩ già nhất hát liên tục nhiều bài nhất” (67 tuổi hát 26 bài trong show “Dòng đời” tháng 12.2011 kỷ niệm 50 năm ca hát và “Ca sĩ ghi âm nhiều bài nhất” với trên 1.000 ca khúc VN lẫn quốc tế.

952 – Lê Minh Khuê

NHÀ VĂN NỮ ĐI RA TỪ CHIẾN TRANH

Nhà văn tên thật Vũ Thị Miền sinh 1949 tại Thanh Hóa. Sống ở Hà Nội (2011).

Năm 1965 mới 16 tuổi tình nguyện đi thanh niên xung phong đánh Mỹ.

Năm 1967 bị thương nằm viện được các thương binh cho mượn truyện đọc, qua đó say mê văn chương tập viết bút ký chiến trường gửi đăng báo. Từ đó tiếp tục viết truyện ngắn và truyện vừa đều lấy đề tài từ kinh nghiệm TNXP sống và chiến đấu của bản thân.

Ra viện trở thành phóng viên chiến trường cho báo Tiền Phong từ năm 1969, tham gia nhiều trận đánh lớn trên các mặt trận miền Nam. Tháng 3.1975 theo chân bộ đội tiến vào giải phóng Đà Nẵng.

Sau 1975 chuyển về làm biên tập viên nhà xuất bản. Sáng tác đều tay, in nhiều tập truyện ngắn và truyện vừa ngoài nội dung ký ức về cuộc chiến tranh đã qua còn hướng đến mảng đề tài thời hậu chiến.

Càng ngày viết càng chắc tay đạt giá trị trung thực, tinh tế, sâu lắng gây ấn tượng. Là nhà văn nữ hiếm hoi trực tiếp tham gia cuộc chiến dù viết về chiến tranh hay thời hậu chiến vẫn tiềm ẩn tính nhân văn sâu sắc: “Văn chương thực sự là khi người ta đọc xong còn muốn sống tiếp, tác phẩm phải có một cái gì đó để người ta đỡ thấy kinh khủng (về tai họa chiến tranh, tệ nạn xã hội)…”

Hai lần đoạt giải Hội Nhà văn VN. Đặc biệt được quốc tế đánh giá cao, dịch ra tiếng Anh in ở Mỹ một số tác phẩm tiêu biểu như “Ký sự những mảnh đời trong ngõ”, “Những ngôi sao, Trái đất, Dòng sông” 1995, “Phía bên kia trời xanh” 1997… Cả dịch tiếng Đức (“Những bi kịch nhỏ”).

Năm 2008 là nhà văn VN đầu tiên được tặng giải thưởng văn học quốc tế của Hàn Quốc qua tập truyện “Những ngôi sao, Trái đất, Dòng sông” (tiếng Anh) với sự ghi nhận: “Lê Minh Khuê ban đầu được biết đến bằng những tác phẩm viết về các cô gái TNXP. Tác phẩm thời hậu chiến của bà quan tâm đến hậu quả chiến tranh đối với đất nước mình… Được thể hiện bằng một văn phong đẹp, chua xót và trang nghiêm…”

953 – Lê Quang Lưỡng

TỰ NHẬN “BẠI TƯỚNG LƯU VONG”

Chuẩn tướng VNCH sinh 1932 tại Bình Dương – Mất 2005 ở Mỹ (74 tuổi).

Tư lệnh cuối cùng (từ năm 1972) Sư đoàn Dù, binh chủng thiện chiến nhất của chế đội cũ.

Nhưng trong biến cố 30.4.1975 hầu như bị bó tay không làm được gì khi toàn bộ sư đoàn bị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bất ngờ ra lệnh điều binh xé lẻ từ Quảng Trị rút vào Nha Trang và Sài Gòn khiến đi tới chỗ chưa kịp đánh đã tan rã. Bản thân phải di tản qua Mỹ.

Trên xứ người ban đầu có tham gia vào một số hoạt động tổ chức tính đưa quân về VN “tái giải phóng” song sau một thời gian thấy vô ích nên chán nản rút vào ở ẩn.

Từ đây có suy nghĩ đặt vấn đề về các quyết định điều quân khó hiểu của Tổng thống NV Thiệu lúc đó đặc biệt với Sư đoàn Dù của mình và rút ra kết luận có lẽ do ông Thiệu sợ bị đảo chính nên tìm cách chia cắt các lực lượng nghi ngờ có thể tham gia lật đổ mình. Nhưng chính vì quá lo cho an nguy bản thân mà vô hình chung đã tự làm suy yếu quân đội đưa đến cả chế độ sụp đổ.

Những suy nghĩ dằn vặt cuối đời đã khiến để lời dặn trước khi qua đời rằng đừng phủ lá cờ VNCH lên quan tài mình như thông lệ vì tự cảm thấy mình là “bại tướng lưu vong” không xứng đáng! Cũng không nhận vòng hoa phúng điếu, chỉ nhận tiền đi điếu để gom lại gửi về quê hương giúp đỡ thương phế binh VNCH còn sống lây lất trong chế độ mới.

954 – Ngô Phúc Hậu

VÀO MẬT KHU TRUYỀN ĐẠO

Linh mục sinh 1936 tại Phú Thọ. Sống ở Cà Mau (2011).

Di cư vào Nam 1954. Sau thời gian làm hiệu trưởng một trường trung học của Thiên Chúa giáo ở Cần Thơ đã chuyển về làm linh mục ở Cà Mau tình nguyện chuyên nhiệm vụ truyền giáo.

Rất quan tâm đến đồng bào tín đồ nghèo nơi những vùng xa xôi hẻo lánh trong tỉnh nên đầu năm 1973 tự nguyện đi thực tế truyền đạo vào vùng Năm Căn lúc đó nằm trong tay cộng sản kiểm soát. Tuy vậy với sự khôn khéo cộng với lòng trung thực, thiện chí chỉ làm việc tôn giáo không dính líu gì đến chính trị, sau khi được cán bộ cộng sản điều tra đã được chấp nhận cấp giấy phép cho đi lại, ra vào vùng mật khu này để truyền đạo.

Đến đầu năm 1975 do chuyển biến thời cuộc chuẩn bị cuộc tổng tiến công miền Nam nên một số tu sĩ Thiên Chúa giáo trong vùng giải phóng bị cộng sản bắt giữ. Thấy vậy nóng lòng mới đi vào mật khu lần nữa định nhờ mối quan hệ quen biết trước với cán bộ để xin thả cho các đồng đạo, không ngờ… bị bắt luôn! Ban đầu giam giữ nhưng sau do cấp trên can thiệp nên chỉ bị giữ quản thúc tại nhà dân.

Qua tháng 6.1975 khi tình hình cộng sản chiếm chính quyền đã tương đối ổn định mới được lệnh trảû tự do. Nhưng xui xẻo tối hôm trước ngày được thả trong cuộc nói chuyện riêng tâm tình với đồng đạo đã lỡ lời… chê cộng sản “dốt”… bị cán bộ nghe được! Thế nên hôm sau tuy vẫn được thả về Cà Mau song phải chịu án… quản thúc tại gia (nhà dòng) 14 năm! Là án quản thúc “miệng” chứ không hề có giấy tờ, văn bản nào.

Mãi đến năm 1989 bắt đầu thời Đổi Mới mới kết thúc án trên, kết thúc cũng không kèn không trống!

Từ đó lại lăn lưng vào làm nhiệm vụ truyền đạo với đối tượng quan tâm chính là giới tín đồ nông dân nghèo sống ở các vùng xa vùng sâu. Trong đó có vùng Năm Căn kỷ niệm làm quen với cộng sản.

Với lý tưởng cực kỳ trong sáng, giản dị nhắm xây dựng niềm tin Thiên Chúa trong lòng con người là mục đích tối hậu chứ không phải những hình thức phù phiếm bên ngoài, chủ yếu xây dựng con người tín đồ trước đã rồi mới tính chuyện xây nhà thờ sau: “25 năm ở Năm Căn không xây được nhà thờ nào, chỉ là những “chòi thờ”… Ước gì có một “nhà thờ nổi” ở vùng này để đi tới đâu thì đem nhà thờ tới đó”!

Năm 1994 được cử làm chánh xứ một vùng như thế, vùng Cái Rắn đã góp phần nâng số giáo dân ở đây từ 501 người lên 2.500 người. Luôn gắn liền nhiệm vụ truyền đạo với các công tác xã hội cụ thể, thực tế như vận động giúp địa phương xây đường bê tông, xây cầu, trạm y tế, đào giếng nước, làm Nhà Tình thương, cấp học bổng cho học trò nghèo…

Hết sức tận tụy với nhiệm vụ truyền giáo bất kể khó khăn gian khổ, sức khỏe khiến tai điếc, mắt mù (một mắt trước kia đã hư, mắt còn lại sau này cũng lây bệnh yếu hẳn). Đã mấy lần đi Thái Lan, đi Mỹ chữa vẫn không khỏi dù không muốn đi: “Chữa xong thì tới ngày Chúa gọi về. Uổng tiền! Để tiền giúp người nghèo” và “Có khi tôi mù và đức lại nảy sinh ra nhiều sáng kiến truyền giáo hơn là sáng mắt và thính tai.”

Rất được bà con tín đồ nghèo Nam bộ yêu mến gọi là “Tám Hậu”, “Ông Cố”, “linh mục Hai Lúa”.

Song song đó còn viết rất nhiều về công việc của mình với lối hành văn dí dỏm, tươi trẻ, lạc quan truyền cho mọi người niềm tin yêu vui sống “đẹp đạo đẹp đời”. Liên tục in nhiều tác phẩm được hoan nghênh (tái bản cả ở Mỹ) như “Nhật ký truyền giáo”, “Nhật ký Giê Su”, “Lời ruộng truyền giáo”, “Dấu chân của Thầy”, “Viết cho em”…

Viết cũng như truyền giáo, viết để truyền giáo cứ “làm hoài, làm đến chết vẫn là muối bỏ biển. Số người nghèo thì nghèo thêm… Làm được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu… Ta là trâu, Chúa là thợ cày. Trâu kéo cày, Chúa sắm cày…”

955 - Nguyễn Hữu Có

CẢI TẠO 12 NĂM THÀNH “NHÂN SĨ”

Cựu trung tướng VNCH sinh 1925 tại VN. Sống ở TPHCM (2011).

Thuộc nhóm tướng Dương Văn Minh đảo chính Ngô Đình Diệm, đến giữa thập niên 1960 từng làm bộ trưởng quốc phòng, phó thủ tướng VNCH.

Năm 1967 bị phe “tướng trẻ” Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ lừa cho đi công cán Đài Loan, Hàn Quốc rồi… cách chức cấm trở về khiến phải qua sống lưu vong ở Hong Kong.

Năm 1970 Tổng thống NV Thiệu cho phép về song buộc giải ngũ ra ngoài làm kinh doanh, ngân hàng dân sự.

Khi tướng Dương văn Minh lên cầm quyền tổng thống vài ngày trước 30.4.1975 đã cho gọi lại chuẩn bị giao nhiệm vụ nhưng chưa kịp động tay động chân gì thì… giải phóng!

Bản thân chập chờn nửa đi nửa ở, cuối cùng chấp nhận ở lại không theo Mỹ đi di tản dù cố vấn Mỹ sẵn sàng giúp vì nghĩ mình đã giải ngũ rồi không tội vạ gì với cách mạng. Sau đó muốn vượt biên thì sợ nguy hiểm cho gia đình có đến 12 đứa con nên thôi. Rốt cuộc… đi cải tạo 12 năm tận ngoài Bắc!

Trong thời gian ở trại đã được “Ơn trên kêu gọi” (vợ con mắc bệnh nặng được cầu nguyện mà khỏi bệnh) tự nguyện bỏ đạo Phật cải đạo Tin Lành năm 1983.

Năm 1987 được thả về “loanh quanh trong nhà trồng rau, nuôi gà”.

Đến cuối những năm 1990 được gợi ý tham gia hoạt động xã hội, qua năm 2004 chấp nhận lời mời làm thành viên Uy ban Mặt trận Tổ quốc VN với tư cách “nhân sĩ” (nhân vật của chế độ cũ) cổ xúy cho tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc. Được cho đi Mỹ thăm viếng người thân, bạn bè.

Hàng tuần vẫn phụ việc nấu cháo từ thiện một lần cho bệnh nhân Bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM.

956 - Nguyễn Khắc Ngữ

LINH MỤC THỌ NHẤT NƯỚC

Linh mục Thiên Chúa giáo sinh 1909 tại Thái Bình – Mất 2009 (101 tuổi).

Di cư vào Nam 1954 ban đầu phụng vụ ở giáo phận Gò Vấp, Sài Gòn.

Chuyển về Long Xuyên, năm 1960 trở thành tổng giám mục đầu tiên giáo phận này.

Sau 1975 tiếp tục giữ vững cương vị chăn dắt giáo dân bảo vệ niềm tin chấp nhận sống hòa hợp với cộng sản. Đóng một vai trò “hòa giải hòa hợp tôn giáo” với cộng sản tiêu biểu ở vùng đất Nam bộ tương tự cố Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình ở TPHCM, cũng vì thế mà bị giới chống đối tố là “tay sai cộng sản! Đào tạo nên những đệ tử kế thừa xứng đáng như linh mục Bùi Tuần sau này thay thế mình, Ngô Quang Kiệt từng làm Tổng Giám mục Hà Nội…

Bản thân sống rất đạo đức, thanh bạch. Chỉ sống trong căn phòng nhỏ 20m2 không có cả máy truyền hình, ngủ trên chiếc giường cũ, tự tay quét dọn giặt áo quần hàng ngày, chắt bóp để dành tiền tiêu gửi cho tín đồ nghèo ở xa…

Thọ 101 tuổi nhất họ đạo cả nước, cũng là linh mục sống thọ thứ ba Giáo hội Thiên Chúa giáo toàn thế giới.

957 - Nguyễn Khoa Phong

HAI THẾ HỆ GIA ĐÌNH LY TÁN

Cán bộ về hưu sinh khoảng 1907 tại Huế – Mất 1999 ở Huế (93 tuổi).

Thuộc dòng dõi gia đình quyền quý triều Nguyễn nhưng vẫn cùng vợ tham gia kháng chiến chống Pháp. Cả 5 con đều ở lại, 2 con trai đã du học Pháp và 3 con gái sống với dì tại Sài Gòn.

Năm 1954 cùng vợ tập kết ra Bắc. Không đưa các con đi theo.

Sau 1954 làm ngành ngoại giao tại Hà Nội.

Trong lúc đó ở miền Nam, con trai đầu tốt nghiệp bác sĩ về nước có lúc làm hiệu trưởng ĐH Y Huế rồi vào Sài Gòn dạy ĐH Y, con trai thứ kỹ sư làm ở Pháp rồi chuyển qua Mỹ. Con gái lấy chồng đại tá VNCH theo tướng Nguyễn Khánh, con gái thứ cũng lấy chồng thiếu tá Quân đoàn 1 đóng tại Đà Nẵng.

Đến tháng 3.1975 khi Đà Nẵng bị cộng sản bao vây sắp đầu hàng, người con gái thứ hai (làm cơ quan Mỹ) cùng con trai đầu bay vào Sài Gòn trước chờ chồng dẫn 4 đứa con còn lại (3 gái 1 trai) vào sau. Người chồng bận chỉ huy tiểu đoàn trực chiến nên giao 4 con cho thuộc cấp đưa ra sân bay Đà Nẵng lên phi cơ vào Sài Gòn nhưng phút chót sân bay rơi vào cảnh di tản hỗn loạn khiến cả 4 đứa con đó bị kẹt lại. Còn người chồng khi đơn vị tan hàng chỉ kịp bơi ra biển nhờ tàu Mỹ vớt lên đưa vào Sài Gòn. Đến khi đó 2 vợ chồng mới biết 4 con bị rớt lại Đà Nẵng thì đã muộn không sao cứu vãn được.

Đến 30.4 giải phóng Sài Gòn, 2 vợ chồng (và con trai đầu) không còn cách nào khác là đành gạt lệ ra đi di tản qua Mỹ, bỏ lại 4 con cho… cộng sản! Vợ chồng con cái người con gái đầu ở Sài Gòn cũng vậy, con trai bác sĩ thì trở lại Pháp, chỉ con gái út chưa chồng nên chấp nhận không đi chờ gặp lại cha mẹ từ miền Bắc vào.

Buồn thay cô chỉ gặp lại mỗi người cha già. Vì trước đó 2 ông bà đang đi nghỉ ở Liên Xô được tin miền Nam sắp giải phóng vội vàng bay về Hà Nội chuẩn bị vào Nam gặp con, nào ngờ trên đường bay bà vợ có lẽ do xúc động sắp gặp lại con sau hơn 20 năm xa cách (và cháu chưa hề thấy mặt) đã lên cơn đau tim đột tử ngay trên máy bay!

Còn lại một mình người cha tìm vào Sài Gòn chỉ gặp được cô con gái út và 4 đứa cháu lạc loài cha mẹ đã cách xa diệu vợi. Thế là với lương hưu ông – và người con gái út - phải tìm cách chắt chiu tiền bạc nuôi các cháu.

Đến đầu những năm 1980 người con gái thứ ở Mỹ để lạc 4 con ở lại tận dụng mối liên hệ quen biết hồi làm sở Mỹ ở Đà Nẵng tìm cách vận động qua trung gian Pháp (lúc đó Mỹ đang cấm vận VN) để xin bảo lãnh đặc biệt cho 4 con qua đoàn tụ gia đình (như chế độ O.D.P sau này mà lúc đó chưa có). Tương tự tại VN, ông nội của chúng nguyên cán bộ ngoại giao miền Bắc cũng góp tay vào việc này.

Kết quả cả 4 con được ra đi hợp pháp năm 1982, một trường hợp hiếm có thời này khi Mỹ – VN vẫn chưa tái lập quan hệ.

Xong nghĩa vụ làm ông đến nhiệm vụ làm cha lại phải ra tay “chạy án” cho con gái út bị kiện ra tòa vì tội “huy động vốn” buôn hàng lậu phổ biến thời này dẫn đến trắng tay quỵt nợ!

Cuối đời còn lại một mình thân già cô độc không ai săn sóc (con gái út buồn đời gần như bỏ đi tu luôn!) mới quyết định quay về quê hương Huế sống nương nhờ vào bà con. Đến khi nhắm mắt vẫn không được gặp lại các con ở nước ngoài, chỉ một lần có người con rể về thăm cám ơn đã nuôi 4 cháu rồi giúp chúng ra đi ngày trước.

958 - Nguyễn Mạnh Côn

TIỂU THUYẾN GIA KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG TIÊN PHONG

Nhà văn sinh 1920 tại miền Bắc – Mất 1979 ở Đồng Nai (60 tuổi).

Di cư vào Nam năm 1954.

Gia nhập quân đội VNCH làm báo ngành tâm lý chiến. Từ đó bắt đầu ấp ủ lập chủ thuyết chống Cộng bằng cách dựa trên thuyết duy tâm chống duy vật cộng sản.

Ban đầu thể hiện ý hướng đó qua vài tác phẩm đầu mang tính lý thuyết chính trị như “Việt Minh người đi đâu?” và “Đem tâm tình viết lịch sử”. Cuốn sau được tặng giải thưởng quốc gia thời Ngô Đình Diệm.

Nhưng được một thời gian thấy không được hưởng ứng, không đi đến đâu nên xin giải ngũ ra ngoài viết báo, viết văn (còn bút hiệu Nguyễn Kiên Trung, Đằng Văn Hầu).

Bấy giờ mới tập trung sáng tác tiểu thuyết theo thể loại khoa học viễn tưởng trình độ lý thuyết cao mà xuyên suốt vẫn là đề cao duy tâm chống duy vật. Tuy tiểu thuyết mang tính phản biện chính trị song qua đó vẫn thể hiện chất lượng tư duy, kết cấu văn học đạt giá trị rất hiếm hoi về thể loại tiểu thuyết đó thời này như các cuốn “Mối tình màu hoa đào”, “Giấc mơ của đá”, Tình cao thượng”, “Yêu anh vượt chết”…

Sau 30.4.75 phải đi cải tạo ở Đồng Nai. Từng bị quản giáo công khai lên án “Chặt 3 cái đầu mới xứng tội!”

Năm 1979 đại diện tù nhân đứng lên phát biểu phản đối chế độ cải tạo không làm đúng lời hứa “học tập” 3 năm rồi thả về. Đương nhiên bị đưa đi biệt giam, liền tuyệt thực chống đối.

Vì thế biệt giam 5 ngày thì được thả ra nhưng không cho về ở chung với tù chính trị chế độ cũ mà nhốt chung với… tù hình sự.

Lớn tuổi mà lại mới nhịn ăn mấy ngày nên sức khỏe suy sụp nhanh (lại thêm còn nghiện thuốc phiện vào đây thường xuyên bị vật vã) dẫn đến mắc bệnh kiết lỵ song bị cấm thăm nuôi. Từ đó kiệt sức chết tức tưởi bên cạnh chẳng có bạn bè, người thân mà chỉ bọn tù đâm chém cướp của. Đẩy xe đem đi chôn trong rừng gần trại là 4 bạn tù đó!

959 - Nguyễn Minh Mẫn

ÔNG “BA KHÙNG”

Cán bộ về hưu sinh 1945 tại Bình Dương. Sống ở Bình Dương (2011).

Năm 16 tuổi bỏ vào bưng theo cộng sản đánh Mỹ. Nhờ có học (đang học lớp đệ nhất) nên được cho đi học làm y tá tiền tuyến phục vụ chiến trường Bình Phước, Tây Ninh.

Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam, sau đó được cho xuất ngũ thương binh 3/4 tỷ lệ thương tật 49%.

Vào làm Sở Công nghiệp rồi Sở Lao động & Thương binh xã hội TPHCM rồi chuyển qua Trung tâm Nuôi dưỡng người già và tàn tật Đồng Nai. Trong thời gian này tiếp tục học tốt nghiệp THPT và vào đại học.

Lo làm và lo học khiến đến lúc về hưu năm 2006 vẫn chưa lập gia đình.

Trong tình cảnh rảnh rỗi không vướng bận chuyện nhà, lại có kinh nghiệm làm công tác xã hội ở cơ quan từng trải với biết bao người bất hạnh gặp cảnh nghèo khổ ngặt nghèo sau chiến tranh nên từ đó mới nảy sinh ý xây dựng cơ sở từ thiện giúp đỡ những đối tượng đó.

Bắt đầu bằng cơ sở từ thiện đặt tên Từ Tâm Nhân Ai lập ở ngay ở vùng chiến trường xưa thuộc huyện Tân Uyên, Bình Dương. Nơi đây nhận nuôi dưỡng miễn phí người già tứ cố vô thân, các bà mẹ đơn thân nuôi con dại, các trẻ mồ côi lang thang bụi đời… Không chỉ nuôi mà còn quan tâm đi xin việc cho các bà mẹ trẻ hay tập cho họ làm thợ may gia công tại trung tâm.

Đến 2009 tại đây nuôi 40 cụ già, 20 bà mẹ mang thai không chồng, 20 trẻ em…

Toàn bộ chi phí tự bỏ tiền túi từ khoản lương hưu và tiền cho thuê ngôi nhà được cấp ở TPHCM. Không đủ thì tổ chức chăn nuôi, trồng rau kiếm thêm phụ vào. Không đủ tiền thuê nhân viên nên một mình phải làm luôn chân đưa rước, dọn dẹp vệ sinh tại chỗ…

Ban đầu bị bạn bè, người nhà nghi ngờ thiện chí, dèm pha này nọ gọi là Ông Ba “Khùng” (từ tên Ba Mẫn kiểu dân Nam bộ) song dần dà người ta hiểu rõ tấm lòng mới tìm cách hỗ trợ. Bấy giờ thì biệt danh Ông “Ba Khùng” thành ra Ông “Bụt sống”. Cũng như Trung tâm Từ Tâm Nhân Ai còn có thêm tên mới “Ngôi nhà Hạnh phúc”.

Từ điển hình trên còn dự định lập thêm 2 điểm tương tự tại Đồng Nai. Ngoài ra đêm đêm rảnh rỗi còn viết cuốn nhật ký đặt nhan đề là “Con không có tội” ý muốn nói lên nỗi lòng của con trẻ chịu số phận hẩm hiu khốn khó là do tội lỗi người lớn gây nên.

960 - Nguyễn Ngọc Diêu

CẢ NHÀ TÂM THẦN CÙNG ĐI ĂN MÀY

Nông dân sinh 1945 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2004).

Năm 1963 lúc 18 tuổi vào bộ đội lên đường đánh Mỹ.

Năm 1969 bị thương được cho xuất ngũ về quê lấy vợ rồi dắt nhau lên vùng rừng núi Kim Thành khai khẩn lấy đất làm ruộng.

Năm 1973 sinh con đầu lòng cũng là lúc bị bệnh nặng nằm liệt giường mấy tháng trời nhưng khỏi bệnh lại sinh ra gần như mất trí, lẩn thẩn khi nhớ khi quên như người khùng, có khi bỏ đi lang thang như người mộng du. Có lẽ là hậu quả vết thương thương chiến tranh mà nay không có phương tiện thuốc thang chữa trị (có cũng nghèo quá không tiền) thành ra bệnh dạng tâm thần.

Ông bố đưa con đi tìm nơi chữa trị không kết quả, về nhà suy nghĩ buồn rầu rồi giống như… lây bệnh ngơ ngơ ngẩn ngẩn như người không hồn. Cả bà vợ chăm chồng dần dà không hiểu sao cũng có dấu hiệu ngây dại “dở người” gần giống vậy. Đứa con gái thứ hai lớn lên lại cũng mắc chứng ngờ nghệch tới mức bị kẻ xấu làm bậy có bầu sinh con mà vẫn cứ nhởn nhơ như không!

Ở chung nhà còn có vợ chồng ông chú ruột già yếu không con cái đành làm nghề đi ăn xin độ nhật. Thấy vậy 2 vợ chồng cũng bắt chước đi ăn mày theo bởi bây giờ không còn đầu óc tỉnh táo để lo việc ruộng nương nữa (cho người khác mượn đất làm).

Hai vợ chồng đi ăn xin còn cõng theo đứa con gái thứ ba cứ thế đi khắp phố chợ, nhà ga, nhà hàng xin tiền, cơm thừa canh cặn (còn đứa con trai đầu đã theo bà con vào Nam làm nghề kiếm sống).

Thế rồi bỗng nhiên đứa con gái bé bỏng đến lúc lên 7 tuổi kiên quyết không chịu theo bố mẹ đi ăn mày nữa mà đòi… đi học bắt chước các bạn đồng trang lứa mình nhìn thấy trên nẻo đường gió bụi lâu nay.

Bố mẹ đành cho con đi học, không ngờ cháu học giỏi!

Không chỉ học giỏi mà còn lao động giỏi nữa, một mình đảm đang lo hết việc nhà đỡ đần bố mẹ nay đã già yếu. Vừa đi học đạp xe đến trường 10km vừa tranh thủ rảnh thì vào rừng chặt củi đạp xe hơn 20km đem ra chợ bán hoặc đi cấy thuê, gặt mướn. Rồi còn tự mình lấy lại 6 sào ruộng nhà để làm…

Nhờ một tay em mà cả nhà đã chấm dứt số kiếp đi ăn mày tập thể.

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky59

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Tản mạn cuối tuần


Sáng thứ bảy đi làm. Ngang qua vòng xoay ngã sáu Cộng Hòa tình cờ đọc trên một chiếc xe khách du lịch tuyến hành trình Tánh Linh - Bắc Ruộng. Bỗng nhớ về quá khứ. Những năm 50 của thế kỷ trước và cuộc tìm kiếm mưu sinh của cha mẹ. Ông bà đã rời bỏ làng quê để tìm phương lập nghiệp: Khu dinh điền Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy cũ. Khi ấy mình vừa mới 7 - 8 tuổi phải ở lại làng để tiếp tục học hành, vừa chạy theo chiếc xe lam ngoài đường xóm vừa khóc tiễn gia đình. Cha mẹ đã đến nơi lập nghiệp: Quận Tánh Linh và khu dinh điền mới được mở (mô hình cũng như khu kinh tế mới sau này). Cha làm tài xế cho viên Địa điển trưởng (Quận trưởng), mẹ buôn bán tạp hóa. Những địa danh thân thuộc như Bắc Ruộng, Bắc Núi, Mê Pu, Đất Đỏ đi về từng ngày. Mẹ có một cửa hiệu tạp hóa tại địa điểm Mê Pu, tại chợ và buôn bán khá đắt. Cha phải đi bổ hàng tận Sài Gòn (kết hợp với các chuyến công tác). Sau một năm ở quê làng tôi được cha mẹ đưa vào Sài Gòn trọ học nhà Dì Ba hồi đó ở số nhà 136/33 Trần Quang Diệu Quận 3. Tôi học Tiểu học (lớp Nhì và lớp Nhất) ở Trường tiểu học Trương Minh Giảng (đường Lê văn Sỹ hiện nay). Đó là vào khoảng những năm 1958 - 1959. Tôi nhớ mình đã được học trong một cái Đình gần trường (Đình Ông Súng) vì Trường thiếu chỗ. Và tôi nhớ mình cũng đã bắt đầu tơ tưởng một bóng hình cô bạn học cùng lớp tên Hồng. Tôi vẫn còn giữ tấm hình chụp toàn thể lớp học năm ấy (hôm nào đấy tôi sẽ post lên đây) Những bạn đồng song năm ấy đã hơn 50 năm có ai còn nhớ và có ai tình cờ đọc những dòng này ?
Trở lại với dòng hồi tưởng Tánh Linh - Mê Pu. Cha mẹ tôi đã thành công ở chợ Mê Pu trong mấy năm buôn bán và trở nên khá giả. Khi ấy tư tưởng về quê bắt đầu nảy sinh. Cha mẹ muốn đem tiền của kiếm được nơi đây về lại quê hương để ổn định cuộc đời. Nhưng ông bà đã không hay biết rằng lời nguyền truyền tụng nhân gian những gì mình kiếm được ở nơi rừng thiêng nước độc không bao giờ giữ được khi thiên di đi xứ khác. Và nhiều trường hợp đã chứng minh. Về Huế, cha mẹ tôi đã mau chóng sạt nghiệp trong một vài năm và lại bắt đầu tính chuyện ra đi. Đó là câu chuyện về sau này.
Tôi đang nghĩ đến Tánh Linh - Mê Pu những ngày tháng tuổi thơ những năm Tiểu học ở Sài Gòn và những chuyến hè về thăm cha mẹ ở khu dinh điền. Tôi cũng nhớ đến những khuya 2, 3 giờ sáng cha tôi đánh thức dậy ở nhà Dì Ba, cùng với ông ra bến xe trông chừng xe cộ đồ đạc cho ông đi bổ hàng cho mẹ. Tôi cũng nhớ những nồi thịt nai mẹ gửi từ núi rừng về Sài Gòn cho gia đình Dì Ba. Tôi cũng nhớ đến cô hàng xóm ở cạnh nhà tôi ở Mê Pu tên Di rất dễ thương. Trong ngày gia đình tôi lên xe từ biệt Mê Pu để về Huế, Cô Di đã leo lên một cành cây bên đường nhìn theo đưa tiễn.
Bao nhiêu là nỗi nhớ. Mới đó mà đã hơn 50 năm.
Để sáng nay trên đường bắt gặp lại những địa danh thân quen.
Và cuộc đời cha mẹ tôi cũng đã khuất.

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2011

ĐYNH TRẦM CA - VỪA TRÔI VỪA HÁT


( Từ trái qua phải : Họa sĩ -bạn của ĐTC - Đynh Trầm Ca- Linh Phương và Vũ Trọng Quang )

Tôi ghé Hà Nguyên Thạch đấu láo chừng mươi phút, Đynh Hoàng Sa đến. Vừa đẩy cánh cửa cổng thấp, Quý (tên của ĐHS) lớn tiếng: “hai cậu biết gì chưa ?”. Câu hỏi được bỏ dở cho đến khi anh bước lên thềm nhà: “mẹ kiếp, có thằng lỏi nào ở Vĩnh Điện copy bút hiệu của moi”. Tôi ngạc nhiên, nhìn anh hóng chuyện. Đồng (tên của HNT) cười mỉm, vừa hỏi vừa ngó Quý. “Nó copy ra sao ?” - “… đã biết có Đynh Hoàng Sa rồi, lại chơi Đynh Trầm Ca nữa”. Tôi thật tình “ Đâu có sao bạn. Đynh Hoàng Sa khác hẳn Đynh Trầm Ca mà, có gì là cóp đâu ?”. Qúy bực mình: “ Đọc lên thì đâu có gì, viết ra mới thấy…” . Quý giải thích luôn: “ moi đã chọn chữ i dài, thay chữ i ngắn trong cái họ của moi cho lạ. Chừ nó cũng cốp y như vậy… thật dở hơi” . Đồng và tôi cùng “à” một tiếng dài. Câu chuyện còn loanh quanh thêm một chặp. Không nhớ đi đến đâu.
Tôi biết nhà thơ Đynh Trầm Ca từ đấy. Dĩ nhiên mới chỉ được biết cái tên gọi.

Đà Nẵng có tiếng là thành phố lớn thứ hai của miền Nam, sau Sài Gòn, nhưng thật sự khá nhỏ, nhất là trong lãnh vực sách báo, viết lách. Gần như không có anh chị nào léng phéng đến với báo chí thủ đô, mà tôi không biết. Bản tính tò mò, ham đọc, lẫn thú muốn làm quen người này kẻ nọ, giúp tôi mở rộng phạm vi bè bạn vào đến tận Hội An. Thị trấn Vĩnh Điện nằm phơi cái xơ xác ngay trên quốc lộ một. Nơi đây tôi cũng đã được tiếp chuyện nhiều lần với những người đang say mê viết như Hoàng Thị Bích Ni (Nguyễn Phú Long, Nguyễn Kim Phượng), Hồ Luân, Nguyễn Nho Sa Mạc. Tôi không khó, để ghé qua Vĩnh Điện, cũng không nhiều trở ngại, để biết thêm chút ít về người làm thơ chưa quen, mang một bút hiệu thấp thoáng những nét nhạc.
Đynh Trầm Ca thuộc dòng họ khá hiếm. Anh mang họ Mạc. Với cái họ này, tôi chỉ quen tên năm ông vua, trị vì nước ta, từ năm 1527 đến năm 1592. (Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp). Không hiểu Đynh Trầm Ca họ hàng xa gần thế nào với năm ông vua này ? Tên thật của anh là Phụ. Gọi cả họ lẫn tên, gọn nhẹ hai âm Mạc Phụ. Một cái tên không tệ, nếu dùng làm bút hiệu cũng rất lạ. Một cái tên, mãi sau này, không nhớ rõ trong cơ hội nào, tôi đã nói lái thành mụ phạt, và suy ngẫm vớ vẩn: Cái anh chàng này, được bà mụ (Mụ ở đây là nhân vật tạo ra con người theo tưởng tượng của cổ nhân) nặn ra rồi cho thọ phạt luôn thật là…sướng. Phải làm thơ, phải viết nhạc, phải trôi nổi, chẳng phải là thi hành án phạt hay sao ? Nhưng những hình thức kỷ luật thật dễ thương, và chắc không ít người mong muốn được thọ phạt như vậy.
Đynh Trầm Ca bắt đầu thi hành án lệnh của bà mụ từ lúc nào ? Tôi không rõ. Vì dù đã biết anh là Mạc Phụ, nhưng tôi vẫn chưa có dịp làm quen. Thậm chí cũng chưa có dịp, nhìn dung nhan anh một cách tỏ tường. Một đôi lần tôi đã thăm hỏi về anh qua Nguyễn Nho Sa Mạc, Hoàng Thị Bích Ni, nhưng nhân dạng Mạc Phụ cũng rất chập chờn. Thời bấy giờ hình như anh làm thơ không nhiều, hoặc lười biếng nhờ tạp chí, tuần san ở thủ đô phổ biến. Cho mãi đến năm tôi đã mặc quân phục, cái danh Đynh Trầm Ca mới đến với tôi đậm nét hơn, nhất là sau ca khúc Ru Con Tình Cũ, ăn nằm cùng nhiều giọng hát quen thuộc. Sự ngưỡng mộ một người đồng hương (Quảng Nam) làm văn nghệ của tôi gia tăng. Nhưng sự tìm hiểu về tác giả mình mến thích vẫn dậm chân tại chỗ. Do đó tôi đã không được biết, Đynh Trầm Ca từng cho phát hành tập thơ Mắt Đêm vào năm 1969 dưới hình thức in ronéo. Tin này ông Hứa Xuyên Huỳnh cho biết qua bài viết “Lục bình phương nam trôi về cố quận”, phổ biến trên một trang web. Cũng qua bài viết này, tôi biết thêm tập Mắt Đêm của Đynh Trầm Ca từng “được một nhà nghiên cứu giới thiệu là ‘một trong 5 tập thơ tiêu biểu của năm’ ”. Thiếu sót của một người, tự cho là ham đọc như tôi thật đáng trách. Và nản hơn nữa, tổn thất lớn của tôi còn phải kể: vẫn chưa rõ mặt bốn tập thơ cùng được vinh dự với thi phẩm Mắt Đêm.
Cuối năm 1984, tại Sài Gòn, tôi mới thật sự được bắt tay nhà thơ Đynh Trầm Ca một lần. Còn nhớ, đêm đó tôi được họa sĩ Hoàng Trọng Bân đưa đến dự một bữa nhậu chia tay của bạn anh. Trong buổi nhậu, nghèo chất lượng, giàu nhân tình này, tôi được gặp lại nhiều bạn cũ: Hà Nguyên Thạch, Thành Tôn, Đynh Hoàng Sa… Ông Hương Quy (bút hiệu cũ cửa ĐHS) hình như đã xóa hết đố kỵ vì một chữ “ i ” với anh Mạc Phụ. Họ đã là bạn của nhau. Đêm đó tôi còn được nghe các quí danh Nghiêu Đề, Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện, Phan Nhự Thức… Tôi có ý ngóng các anh Cung Tích Biền, Huy Tưởng, Lê Vĩnh Thọ, Phan Kim Thịnh, Phạm Thế Mỹ… nhưng không thấy đâu.
Buổi nhậu không chỉ có bia hơi, mực khô, vài món chiên xào gì đó, còn có cả thơ và nhạc. Người đông, quán chật. Tôi luôn luôn đóng trọn vai diễn của mình: dựa lưng ghế lắng nghe. Và thật hạnh phúc, tôi được nghe Đynh Trầm Ca đàn, hát. Ngón tây ban cầm của anh không quá xuất sắc. Giọng hát anh không trầm ấm bao nhiêu. Nhưng lạ một điều rất thân mật, rất cuốn hút. Đynh Trầm Ca trình bày một ca khúc, do chính anh phổ thơ của Hoài Khanh. Đó bài Ngồi Lại Bên Cầu. Thơ hay, bài phổ nhạc cũng thoát được cái vóc dáng thơ, tiết tấu, âm điệu thật tuyệt vời. Tôi nhớ như in trong trí như vậy. Còn thầm suy nghĩ, nếu Đynh Trầm Ca chọn âm nhạc làm con đường chính, để đến với sinh hoạt văn học, nghệ thuật chắc anh sẽ mau nổi danh hơn là nặng lòng với thơ. Thế nhưng, gần đây đọc lại, tôi không thấy trong danh mục sáng tác của anh, có bài tôi đã nghe. Anh thay đổi tên ca khúc ? hay trí nhớ tôi tồi tệ ? Nghi vấn thứ hai quả thật không thể có. Tôi hơi chủ quan ?
Thân tình bè bạn mà tôi mong có với Đynh Trầm Ca, hình như không có duyên. Ngay sau cái đêm gặp gỡ chuyện trò vài câu đó, tôi và anh không còn dịp nào gặp nhau. Tôi lạng quạng ở một phương tít mù xa. Anh trôi về nhiều ngã trên mặt đất quê hương mình. Tình bạn chưa bắt đầu nhưng chẳng bao giờ kết thúc, bởi chúng tôi còn mãi sợi dây thân tình, giữa người viết và người đọc. Đã hai mươi lăm năm trôi qua, và mười, mười lăm năm nữa không chừng, biết đâu tôi được bắt tay tác giả Ru Con Tình Cũ lần thứ hai.
Đynh Trầm Ca được sinh ra năm 1941, (có nơi ghi 1943?) tại Điện Bàn Quảng Nam. Mẹ anh thuộc dòng dõi họ Đinh. Anh dùng họ mẹ làm chữ đầu trong bút hiệu, sau khi đổi chữ “ i ” thành chữ “ y ”. Anh bắt đầu viết từ năm nào có lẽ chính anh cũng không nhớ chính xác. Nhưng thập niên 60 có nhiều người trẻ tại Đà Nẵng, Quảng Nam được báo chí Sài Gòn từ nhật báo đến tạp chí, in thơ, truyện. Trong số này có Đynh Trầm Ca. Ca khúc Ru Con Tình Cũ có lẽ là bước ngoặc lớn trong sinh hoạt chữ nghĩa của anh.
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình buồn
Xin một đời thôi tiếc thương nhau
Xin một đời ngủ yên dĩ vãng
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình sầu
Kỷ niệm nào ghi dấu trên tay
Cho lòng này dài những cơn đau
Ôi ba năm qua rồi
Đời chưa nguôi gió bão
Người xa xôi phương nào
Người có trách gì không?
Thôi anh ơi anh đừng hờn trách nữa
Đời em như rong rêu tội tình
Xin gục đầu ghi dấu ăn năn
Thôi đừng buồn em nữa nghe anh .

(lời ca Ru Con Tình Cũ)
Tôi đã nghe ca khúc này qua các giọng ca Lệ Thu, Hải Lý… nhưng tình thật, tôi không thích nhiều. Trái lại khi nghe được bài Sông Quê (phần 3) từ một cuốn video ở Việt Nam gởi qua, tôi vô cùng xúc động. Ca từ của một người viết nhạc, xuất phát từ một tâm hồn thơ, chắc chắn sẽ dồi dào chất thơ. Vì thế tôi xem lời ca của Sông Quê 3 như một bài thơ.
Xưa chốn đây, tan trường về mình đi chung lối
Qua bến sông anh đưa đò người khách thân thương
Từng ngày qua nắng tàn, rồi mùa sau ngỡ ngàng
Đôi chim non hẹn ước bên con sông ngập nước
Dưới trăng thề, sẽ đi về bên nhau mãi mãi….

Năm tháng trôi đôi tâm hồn, chìm trong say đắm
Anh ước mơ xây cây cầu, rồi đón em sang
Nào ngờ đâu phũ phàng, một ngày sông sóng tràn
Em trôi theo mệnh số, Anh trôi trong bão tố
Vỡ tan rồi, vỡ mộng đầu, từ ngày bỏ xa quê….
Đây đất khách quê người, như cánh lục bình, vừa trôi vừa nở
Em cô gái quê nghèo, giờ đã sang giàu mà lòng vẫn thương quê
Anh vẫn là anh nghệ sĩ giữa phong ba
Nhớ quê viết bài ca thiết tha
Ôi những nhánh sông đã chảy về muôn hướng
Lòng vẫn chung cội nguồn…
Trong nhớ thương anh tìm về, giòng xanh dĩ vãng
Bên bến xưa nay cây cầu đà bắc ngang đưa
Dập dìu trong nắng hồng từng đàn em đến trường,
Vang vang câu cười nói, đưa nhau qua cầu mới,
Nối đôi bờ, nối đôi làng, nhưng ta đã lỡ …..
Em hỏi anh, con sông nào đời không chia rẽ
Em biết không, con sông nào cũng rẽ chia nhau,
Nhịp cầu mơ đã thành mà mình xa cách dần,
Sông quê chia nhiều nhánh, ta lênh đênh nhiều hướng,
Chẳng bao giờ, chẳng khi nào tìm được bến nước xưa …

(ca từ Sông Quê, 3)
Thế nhưng, thực chất ca từ ở Sông Quê 3 không gần với thi ca bao nhiêu, ngoài ưu điểm giàu hình ảnh và hài hòa màu sắc: “Từng ngày qua nắng tàn… Ôi những nhánh sông đã chảy về muôn hướng … Lòng vẫn chung cội nguồn…con sông nào cũng rẽ chia nhau…” Hình ảnh đẹp nhất, nói lên được cái thân phận, lẫn tâm sự của tác giả gói trong câu: “Đây đất khách quê người, như cánh lục bình, vừa trôi vừa nở” Đynh Trầm Ca đã rất tài tình và nhạy cảm khi nắm bắt được hình ảnh này. Thân phận của anh cũng không khác cái nhỏ nhoi của khóm lục bình không đất bám. Cuộc đời vô định, nổi trôi tùy theo sự đẩy đưa của dòng nước, của số phận. Tuy vậy, niềm hy vọng và sự lạc quan đủ để nuôi dưỡng một kiếp sống thanh nhàn và thong dong. Cây có đủ an nhiên để vừa trôi vừa nở. Người có đủ tĩnh tâm để cất lên tiếng hát. Ca khúc còn thành công ở sự kết thúc không có hậu, nhưng sát với thực tế.
Nhịp cầu mơ đã thành mà mình xa cách dần,
Sông quê chia nhiều nhánh, ta lênh đênh nhiều hướng,
Chẳng bao giờ, chẳng khi nào tìm được bến nước xưa

Kết thúc của môt cuộc tình không trọn, đã kéo được nỗi ngậm ngùi cùng cái buồn man mác đến vô cùng, rất phù hợp với sự ra đi không ngừng của một dòng sông. Sông Quê 3 kể một chuyện tình lãng mạn và thơ mộng. Tuy thơ không quấn quít trong từng câu, nhưng phần nhạc đã làm cho ca khúc sống được lâu bền trong lòng người thưởng ngoạn.
Sống trong cuộc đời là sống trong những di chuyển, những chuyến đi. Có những phiêu lưu vì tâm nguyện. Có những bôn ba vì mệnh số. Những chuyến di dời do kế hoạch, do mục đích hoặc chỉ do những tình cờ, đều có chung tính cách chuyển động và những phụ thuộc như chia ly, nhớ nhung, hoài niệm. Trong mỗi chúng ta, tôi tin rằng, vì hoàn cảnh hay vì một lý do nào đó đều đã có những thay đổi vị trí lưu cư nhiều lần. Đynh Trầm Ca cũng như chúng ta. Anh chỉ có thể hơn người khác ở chỗ biết ghi lại những cảm xúc, những ghi nhận của mình, trong từng chuyến xê dịch cùng cuộc sống. Những ghi nhận, lưu niệm của anh càng trở nên xuất sắc nhờ anh biết dựa vào thi ca. Có thể nói thơ Đynh Trầm Ca có nhiều nét nổi bậc. Sự phiêu bạt của anh là một trong những nổi bậc đó.
Để mô tả cho những đổi thay không gian của mình, anh đã rất thơ mộng, tinh tế, không dùng động từ “đi”. Chọn động từ “trôi” để thay thế. Động từ “đi” có đầy đủ quyền chủ động. Dù di chuyển bằng chân hay tàu, xe, muốn dừng nơi nào mình đều chủ động thực hiện. “Trôi” trái lại, hoàn toàn bị động. Bản chất của di chuyển tùy thuộc vào hoàn cảnh, địa thế và nhất là những bất ngờ. Động từ “trôi” còn nói lên được cái bấp bênh, cái vô định, cả những cường độ cũng không tự quyết định được. Nhưng “trôi” cũng không quên nói lên vẻ thư thái, phiêu bồng, lãng du.
Đynh Trầm Ca đã “trôi” như thế nào ? đã qua những đâu ? Những gì anh đã thấy ? Những gì anh đã nghe ? Những nét nào cuộc sống đọng cùng thơ anh ?
Sau 29 tháng 3 năm 1975, từ giã những năm tháng cầm phấn viết trên bảng đen, Đynh Trầm Ca cầm cuốc để gởi mồ hôi mình cho luống đất đã từng chôn-nhau-cắt-rún. Người nông phu bất đắc dĩ không phải vì thiếu tình với đất, nhưng cũng đã bứt áo ra đi, để từ đó trôi vào tận Sóc Trăng, An Giang, Cần Thơ, Sài Gòn… loanh quanh khắp miệt vườn miền Nam.
Soi trời, soi đất, soi nước, soi cả lên những người thân yêu, để thấy mình, để thấy thân phận mình không hơn một loài cây, không có đất bám. Hình ảnh của khóm lục bình, loại cây xanh già có hoa tím nhạt, cũng đích thực là một Đynh Trầm Ca phiêu lãng, đi tìm đời mà cũng để quên đời. Rất mừng, nhà thơ không đơn độc. Bạn đồng hành của anh dù là nhỏ nhoi như những đàn én, những nụ hoa, những dòng mây, những dòng phù sa… tất cả đều chân tình. Tình cảm giữa người và cảnh vật giúp anh sống trọn vẹn với hình ảnh, kỷ niệm cũ, xa vời. Giúp anh tin tưởng ngay trong dáng trôi vô định của mình. Chim còn bay, hoa còn nở, một con người có trái tim biết yêu đời không thể quên tiếng hát, câu ca. “Phương Nam Khúc Ca Trôi Dạt Của Khóm Lục Bình” đã gói được một góc hồn của nhà thơ, khi anh đang “trôi” qua Cần Thơ, Long Xuyên vào tháng 2 năm 1989:

Đi
như là trôi
ta lần về phương nam
phía bầy én giang hồ gọi xuân về rối rít
phía những dòng sông đỏ phù sa chảy xiết
ta gặp thêm những cụm lục bình
trôi

Trôi
trôi
và trôi…
ta dần xa bến cũ
mấy mươi năm gió nhớ thổi mù trời
vẫn muốn chở về sông mẹ những nguồn vui
dù ta chỉ nở được
hoa tím nhạt

Đi
như là trôi
tựa đóa mây nở trên trời luân lạc
có mong gì người ngắm phút giây
trong lang thang mây cứ nở đời mây
rồi tan loãng giữa vô cùng
bát ngát

Trôi
trôi
trôi…
bềnh bồng theo tiếng hát
khúc tráng ca cuồn cuộn chín sông rồng
ta,
lục bình vừa trôi vừa trổ bông
cỡi đầu sóng chở mùa xuân phiêu dạt

Phương nam phương nam
trôi đó đây
rải rác
những mảnh đời ngơ ngác tha hương
hẹn cùng nhau
trôi nhé
mà trổ bông
dẫu sóng bủa đầu vàm
sóng xô cuối rạch

Phương nam phương nam
xin cám ơn những dòng-sông-không-bao-giờ-ngăn-cách
những Lục Vân Tiên trong khí phách con người
xin cám ơn câu vọng cổ rất mùi
thấm trong hạt phù sa
đượm những tấm-lòng-cây-trái
gió chướng
mùa lên
ta còn trôi mãi
buổi qua đây
hoa nở
tặng đất này!

Cố hương cố hương
hun hút mây bay
đôi mắt mỏi ngóng mù sông bến đợi
đỉnh núi nhớ nghiêng mòn phương gió nổi
biển mẹ ơi
sao chưa gọi con về?

ừ,
thì thôi
ta sẽ cứ trôi
hỡi những khóm lục bình nở hoa tím nhạt
hoa nở tím trên đường trôi dạt
tỏa chút hương ngan ngát gửi quê nhà

Là nỗi buồn cất được tiếng ca.

Miền Nam giàu sông nước, kinh lạch, nên cùng với đời, thơ Đynh Trầm Ca thật phong phú những tình khúc cận kề với những bến sông, những dòng chảy. Cũng từ nơi đây, anh lượm được những hình ảnh, những hơi thở, những tiếng hát của đời sống kém may mắn. Những hình ảnh thật xác xơ, tội nghiệp, nhớp nhúa, bẩn thỉu, nhưng qua ngôn từ thơ, bỗng nhiên được lột xác để trở thành những vật có linh hồn, sống động một cách chân thành. Cây đàn cũ mèm, chiếc thau vàng ố, cô bé nhỏ nhoi, nỗi đau mênh mông, người và người, người và nước mưa,và nước sông, và nước mắt… Cả thế giới hắt hiu ấy như có chút gì chợt sáng lên từ một tấm lòng biết nhìn ra, biết nghĩ đến, rất “bất Chợt Trên Bến Đò Ngang” ngay trong lòng Sài Gòn, giữa những năm tháng đã qua khá lâu (tháng 5-1988) sau ngày được gọi tên là giải phóng. Trong túi Đynh Trầm Ca trống không khi anh thò tay định tìm một chút gì chia sớt. Nhưng trong lòng Đynh Trầm Ca nở được những nụ tình:
Chiều qua bến đò ngang
tình cờ nghe bài hát cũ
người hành khuất mù và cô gái nhỏ
cây guitar lạc phím
cũ mèm
chiếc thau nhôm móp méo
vàng ố
những đồng tiền

Cô bé hát
nỗi đau mênh mông của người tình phụ
chiều bay mưa hiu hắt dòng sông
khách qua đò cuối năm lưa thưa
có người dừng lại
mở bóp
tôi cho tay vào túi
rỗng không

Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông
tôi viết lời ca sao buồn quá vậy?
những lời ca cho lòng tôi thủa ấy
ai biết bây giờ
bố con người hành khuất dùng để hát ăn xin

chiều rây rây những bụi mưa êm
kỉ niệm cũ không hề sống lại
trong tôi chỉ lóe lên câu hỏi
biết bố con người hát rong kiếm đủ sống không?

Dù trôi theo dòng chảy cuộc đời, Đynh Trầm Ca vẫn thong dong là một khóm lục bình, không bé mọn như một cách bèo. Có lẽ nhờ vậy anh đã gặp được khá nhiều may mắn nếu không muốn nói là ân sủng. Trong một ngày chắc chắn đẹp trời, anh đã trôi dạt đến Kế Sách Sóc Trăng để được nhập vào một cánh hoa hương sắc, mang quí danh là Giang. Từ đó bên mình anh, những nụ thương yêu theo nhau thơm ngát cả hành trình tiếp theo. Có thể nói, trên bước đường trôi nổi của anh, không bị những phiền lụy vật chất vẩn đục. Trong nhiều nơi chốn, anh luôn luôn được đóng vai một ông chủ hiền lành, dễ tánh, giữa những khách hàng chân chất dễ thương. Nỗi ngậm ngùi của Đynh Trầm Ca chỉ bơi quanh quẩn trong dòng nhớ thương quê nhà, nhớ thương những bóng hình đã trở thành kỷ niệm. Chúng ta dễ dàng bắt gặp:
buổi ta vác cây đàn ngang trường cũ
ai như em đứng ngó cuối hành lang
ai như ta ngồi mơ sau cửa lớp
có lẽ nào mình còn đó sao, Th…?
buổi ta vác cây đàn xa trường cũ
em vẫn còn chạy nhảy dưới hàng soan
nên ta đi mà hồn thì quay lại
níu vai cầu hát gửi khúc chia tan
buổi ta vác cây đàn vào gió cát
hồn không theo nên thân xác liêu xiêu
ném nốt nhạc lên chín tầng mây dạt
nghe quê người mưa rớt hột cô liêu
ta gục xuống những đường gai đã nhọn
máu từ tim ứa nở cánh phượng đầu
ta muốn hái tặng em ngày tháng cũ
chợt ngậm ngùi: ngày vui đã qua mau!
ngày vui đã phai trên màu tóc cỏ
cỏ còn xanh – đời xanh chẳng quay về
chỉ câu hát giữ em hoài bé nhỏ
nên ta thề: xin làm một kiếp ve!
để hát mãi về em thời đi học
cho trăm năm em vẫn nữ sinh hoài
(nhỡ có tiếc cũng xin em đừng khóc
đời không vui cho ta nhận riêng ai)
buổi ta vác cây đàn về quê cũ
qua dốc cầu gặp hồn nhỏ chơ vơ
hồn đứng với ba mươi năm hoài niệm
bên trường xưa (em có gặp bao giờ?)
ta lại vác cây đàn đi tứ chiếng
hồn theo ta qua những chốn mịt mùng
mây viễn phố bao chiều thay áo nõn
ta nâng đàn thương nhớ phá lên cung

(cây đàn thương nhớ)
Những mối tình thoảng qua, chín phần mười nằm trong tưởng tượng một chiều. Nhưng sẽ là những vết sẹo nho nhỏ ngủ yên một góc khuất. Gặp một cơn gió xưa, gặp một một mùi hương cũ, bất ngờ vết sẹo nhói lên một chút. Và chỉ một chút thôi đủ cho ngôn ngữ dính lại thành thơ. Vết sẹo trong góc khuất của Đynh Trầm Ca, có lẽ khởi từ ngôi trường Nguyễn Duy Hiệu ở Điện Bàn, nơi có cây cầu đứng cạnh. Đynh Trầm Ca đã gói hồn mình trong những nốt nhạc, ném lại đó. Mãi đến ba mươi năm sau anh mới gặp lại hồn mình, để cùng hoài niệm cho một “cuộc tình sớm nở sớm đi qua(Nguyễn Nho Sa Mạc).
Chưa hết, những chiếc nón, những suối tóc, những tiếng chân…không vô cớ, mà do chính anh phải nhẫn nhục nhịn đau để trân trọng mời vào trái tim mình, cho dẫu mai sau mang hoài những vết sước:

Nghiêng nghiêng chiếc nón bài thơ
Nghiêng nghiêng suối tóc xõa bờ vai ngoan
Lòng tôi nghiêng một suối đàn
Xôn xao hoa lá, nồng nàn âm thanh
Em khua chi những bước chân
Trái tim tôi rụng và lăn trên đường
Gót son ơi, cứ bình thường
Tặng cho tôi một vết thương ban đầu
Tôi thề tôi ráng chịu đau
Mai em cảm động và khâu lại giùm
Nếu vô tình cứ tung tăng
Trái tim trầy trụa vẫn lăn theo hoài !

Dĩ nhiên vẫn chưa thể dừng lại. Và chẳng ai có thể cầm dao dọa các ngài thi sĩ, nhạc sĩ, bảo đừng viết những tình khúc. Cuộc tình cứ tiếp tục vẩn vơ trong sự “ngu ngơ không biết đời trưa hay chiều” ấy, luôn luôn giàu những hình ảnh đẹp như “giọt ngâu rớt trúng chỗ nằm” như “tiếng gàu” rơi ở ngoài giếng. Giản dị, đơn sơ nhưng đủ để “…tim tôi chợt nhói đau” đến suốt một đời:
mùa thu sao lá không vàng
sân rêu, khóm cúc đã tàn từ lâu
em đi xa tự năm nào
để cho cam quýt mậm đào bỗng chua
tôi về vườn cũ ngày mưa
ngu ngơ không biết đời trưa hay chiều
từ ngày lạc dấu thương yêu
tôi đi về phía quạnh hiu đất trời
mùa thu, sao lá không rơi
ngồi nghe vàng rụng vào thời xa xăm
giọt ngâu rớt trúng chỗ nằm
em làm sao biết đời căm lạnh rồi
có ai về đó cùng tôi
phải em ngoài giếng làm rơi tiếng gàu ?
sao tim tôi chợt nhói đau
vết bùn chân nhỏ in ngoài cầu ao
tiếng em cười tự thu nào
mà nghe rúc rích bên rào giậu thưa
em gọi tôi ở ngoài mưa
hay cơn gío lạnh nào vừa qua sông ?
sao em không chọn mùa đông
mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu
để vườn cũ giữa thâm u
để tôi sống giữa sa mù chiêm bao !

(thu xưa)
Hậu quả của nhớ nhung làm giàu cho thi ca. Nhưng thường thường khiến cho những người, mang đến cho thi sĩ cuộc tình lớn bị tổn thương. Cho dù có giỏi hàm hồ, ngụy biện: “…thơ thì thường vu vơ / nhiều khi toàn tưởng tượng/ dù viêt về một ai / cũng bằng tim em cả…” (Luân Hoán) cũng không thể xóa đi những ngờ vực, những hờn lẫy. Biện pháp tốt nhất để các nàng thơ chính, giữ độc quyền cái bình thơ của mình, là đốt đi những tàn xưa dấu cũ. Nhà thơ Đynh Trầm Ca bị lâm vào cảnh này. Một cảnh mà anh cho rằng “Một Kiểu Chết”. Hy vọng anh chỉ chết qua từng giai đoạn ngắn.
bản nhạc này anh viết cho cô nào ?
vợ tôi hỏi kèm theo vài giọt lệ
và như thế, tôi gom nhạc, xé !
những khúc tình ca tha thiết hồn nhiên
bài thơ này anh bóng gió xỏ xiên
sau cành hoa ai là con rắn nấp ?
và như thế, tôi gom thơ, đốt
những bài thơ từng cứu tôi khỏi điên
gia đình tôi bắt đầu cuộc sống bình yên
riêng hồn tôi lần lần vào cõi chết

(một kiểu chết)
Tôi ngờ rằng trong câu đầu, Đynh Trầm Ca đã sửa chữ áp cuối. Hoặc chị Giang còn quá lịch sự nhẹ lời chăng ?. Chuyện tình đầu ấp tay gối, thỉnh thoảng phải có những chiêu như vậy để hâm nóng, chắc nhà thơ không buồn.

Cuộc trôi nổi của Đynh Trầm Ca khởi đầu, ít nhiều mang tính chất tha phương cầu thực, nhưng dần dần biến chất thành một chuyến giang hồ đầy thú vị. Nhà thơ không viết “hành ca phương Nam” như thi sĩ Nguyẽn Bính. Bởi chính cuộc đời của anh đã là bản hành ca này. Có thể chính Đynh Trầm Ca và người bạn nhỏ tuổi hơn anh trên một con giáp, ông Hứa Xuyên Huỳnh, cho rằng: mọi việc đến với Đynh Trầm Ca đều tình cờ, ngay việc trở thành “người nổi tiếng tình cờ”. Tôi không nghĩ vậy. Nếu không có một tâm hồn nhân hậu, một tài nghệ súc tích, chẳng có sự tình cờ ngẩu nhiên tìm đến với ông họ Mạc. Góp tay vào hai yếu tố căn bản trên, Đynh Trầm Ca còn có một lực lượng bè bạn đáng kể, luôn luôn nhận ra được giá trị hiếm quí của anh. Những Hàn Phong Lệ (Vũ Hữu Định), Tô Như Châu, Hạ Đình Thao, Nguyễn Tịnh Đông, Nguyễn Miên Thảo, Nguyễn Hữu Thụy, Nguyễn Tam Phù Sa, Uyên Hà, Phan Xuân Sinh, Lại Quảng Nam, Lý Đợi, Hà Nguyên Dũng, Nguyễn Nho Nhượn, Nguyễn Nho Khiêm, Nguyễn Nho Châu, Phạm Ngọc Lư, Phương Tấn, Hoàng Lộc, Linh Phương, Vũ Trọng Quang, Quốc Dũng, Tiến Luân, Thùy Linh, Hứa Xuyên Huỳnh, Mường Mán, Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa, Thành Tôn, Thái Tú Hạp, Cung Tích Biền, Phạm Phú Hải, Đoàn Huy Giao, Xuân Thao, Lâm Anh, Nguyễn Đốc, Kiều Uyên, Lê Anh Huy, Lê Văn Trung, Nguyễn Nho Sa Mạc, Hoàng Quy, Hồ Đắc Ngọc, Trần Ninh Hồ, Phạm Hữu Quang, Yên Uyên Sa, Phạm Thường Gia, Lộc Vũ, Đạng Ngọc Khoa…Và còn nhiều nữa đã và đang vỗ tay, chờ anh nắn những dòng chữ mới, gieo thêm những nốt nhạc lạ.
Sẽ thiếu sót khi lên danh sách bằng hữu của Đynh Trầm Ca, mà quên nhắc một người bạn chí thân của anh, cũng là huynh đệ của các bạn anh. Người bạn mềm mại, yểu điệu hơn cả thục nữ đó, mang tên cúng cơm là Rượu.
Trong giới sinh hoạt văn nghệ, có lẽ không nhiều người thuộc Tửu-đức-tụng của Tự Bá Luân (người đời Tấn Trung Hoa, thường được gọi Lưu Linh), nhưng gần như đa số dan díu với rượu. Rất mừng không ai thuộc dạng “sáng say chiều sỉn tối xà quần”. Họ uống để tạo nguồn cảm hứng. Họ uống để giải sầu. Xin hãy tạm chấp nhận những lý do chính đáng như vậy. Bởi ông lẫn bà văn nghệ sĩ nào khi say rượu cũng rất nho nhã, thanh tao. Chỉ nhìn riêng những người làm thơ, từ Trần Tế Xương, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương… đến lớp hậu sinh đều đã say trong… văn tự rất đẹp. Những người làm thơ mang họ chung Quảng Nam nổi tiếng cục mịch, nhưng khi có rượu vào, lời cũng ra… như thơ. Một thi sĩ lớn của Quảng Nam, có lẽ nhờ phục nể rượu, nên đã vui vẻ:

hoan hô đại tướng hải âu
tầm sưu túy diệu hương màu sâm banh
khề khà wých ký đã đành
còn thêm vốc ká mỵ lành liên xô

(Bùi Giáng – thơ BG, Việt Thường, Montréal xb)
Ấy vậy, nên Tường Linh có rượu với Chén Rượu Năm 20, Uống Rượu Với Ông Lái Đò Bến CũTạ Ký có rượu với Khi Tỉnh Rượu…Vũ Hữu Định có rượu với Quê Rượu, Đêm Mưa Thiếu Rượu Nhớ Lý Hạ… Lê Hân có rượu với Rượu HoaLưu Nguyễn có rượu với Ông Ký Rượu…Nguyễn Đông Giang có rượu với Mùa Xuân Uống Rượu Một Mình… Thái Tú Hạp có rượu với Say Chút Rượu Trầm Luân… Hà Nguyên Dũng có rượu với Uống Rượu Cùng Thơ, Lời Say Với Rượu… Hoàng Lộc có rượu với Bỏ Làm Thơ Đi Uống Rượu, Về Hội An Uống Rượu Đợi Người… Phan Xuân Sinh có rượu với Uống Rượu Với Bạn Hiền, Ly Rượu Đầu Xuân… Mạc Phương Đình có rượu với Rượu Và Bạn… Lê Văn Trung có rượu với Uống Rượu Một Mình Nhớ Lý Bạch… Nguyễn Hữu Thụy có rượu với Ngẫu Hứng Về Rượu… Nguyễn Tam Phù Sa có rượu với Rượu Cuối Năm, Chị Ba Đãi Rượu…Đynh Hoàng Sa có rượu với Bốn Ly Rượu…Luân Hoán có rượu với Bạn Và Rượu… Trần Yên Hòa có rượu với Rượu Tỉnh Say…Và dĩ nhiên Đynh Trầm Ca có rượu với Rượu Cuối Năm Bên Bờ Kinh Phương Nam
Rượu cuối năm, rót cuối bờ kinh
Ngọn gió chướng thổi se lòng nước
Ta và bạn làm sao biết được
Bởi vì đâu so đũa nở trắng bông
Bởi vì đâu rượu đắng ở cuối lòng
Cứ nồng ấm những hồn lãng bạt?
Bèo bữa trước vì sông mà trôi giạt
Chợt chở hoa về rợp bến quê nhà
Thì sá gì cuộc nổi trôi ta!…

Rượu cuối năm gõ chén hát xuân ca
Nghe cuối bãi tiếng doi đất… lở!
Nghiêng mé nước gốc mai già vẫn nở
Bạn và ta còn thua cỏ cây nhiều
Mới mười năm theo chim vịt kêu chiều
Mà gió thổi muốn rách hồn kiêu bạc

Rượu cuối năm, cất không lên tiếng hát
Khúc xuân ca hiu hắt giọng trầm ca
Nâng chén hoài hương gục nhớ mộ cha
Gió thổi miết chắc chẳng còn thấy nấm
Nâng chén tình quê thương mẹ già lận đận
Sinh con ra, chất thêm lấy lượng sầu
Nhà trống – tàn niên – chẳng thấy con đâu
Gió hú mãi trên tháp Hời u uất
Gió chi thổi năm mươi năm không dứt
Xô ta trôi đến rạch cuối kinh cùng
Ơi lục bình vừa trôi vừa trổ bông
Ta và bạn có lẽ nào chìm rã ?…

Rượu cuối năm, lòng say mà chưa đã
Thêm một ly để cảm tạ đất này
Thêm một ly gởi tới những tầng mây
Để cuối kiếp ta trôi lên… thường trú!
Thêm ly nữa để thương bờ đất lở
Mai lở thêm thì nhà ta cũng trôi thôi!
Đời biển dâu hề dâu biển là đời
(Đừng chửi tục (…!) giao thừa sắp đến!)
Chín nhánh rồng thiêng có trăm nghìn bến
Đời thơ ta cứ tấp, cứ đi!…

Rượu cuối năm, gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời thương quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay
Rượu hết rồi làm sao chết giữa cơn say!…


hoặc Qua Sông Uống Rượu[/B]:
Nhìn qua sông – nhà rách
Tươm tướp gió sau hè
Người nhìn gì sông rộng
Ta nghe nước … lòng se!

Qua sông – chiếc thuyền nhỏ
Sông đưa năm cô hồn
Tạt nhà ngươi uống rượu
Sáu cô hồn trôi sông

Trôi sông hề trôi sông
Lạc chợ hề lạc chợ
Giữa cõi đời man rợ
Sợ gì bước long đong

Qua sông hề qua sông
Gió xé thơ phiêu bồng
Ta xé lòng tri ngộ
Tặng nhau hạt máu hồng!

(28.8.1990)

Tôi không dám níu theo bước thơ của Đynh Trầm Ca, để tìm nỗi tình anh trong hương rượu. Tuy vậy, tôi xin phép thuật lại một chuyện có liên quan đến bài Rượu Cuối Năm Bên Bờ Kinh Phương Nam.
Cách đây mấy tháng, tôi tình cờ đọc được một số điện thư (email) của một nhóm bạn yêu thơ, làm thơ, gởi cho nhau. Một bài lục bát viết về rượu được gởi đến chung cho nhiều người, (bạn tôi có trong nhóm này). Người gởi bài thơ không quên kèm theo lời giới thiệu và vài dòng Mao Tôn Cương (bình luận gia văn học, người Trần Châu, tỉnh Giang Tô, đời nhà Thanh, Trung Hoa). Đại khái bài thơ có hồn, uyển chuyển vv… Một người khác, tuy đồng ý bài thơ hay, nhưng xếp bài đó vào loại “trữ tình” thay vì xếp vào chỗ đứng của rượu. Để minh chứng cho ý kiến của mình, người này gởi kèm bài thơ của Đynh Trầm Ca (RCNBBKPN) và cũng không quên lý giải. Cụ thể “làm thơ về rượu thì có lẽ không nên dùng lục bát. Trong rượu dường như có sẵn một thứ hào khí nào đó, mà trong thơ lục bát không có. Thơ lục bát, có lẽ, thích hợp cho sự say… tình. Còn thơ lục bát say rượu thì, dường như, giống cô gái… có râu!” (trích nguyên văn của nhà thơ T.K). Ông nhà thơ này còn tán rộng hơn, đại khái có “nhiều cái say”, “nhiều trạng thái say”, “nhiều cấp độ say” và “cái say của kẻ (thi) sĩ thường do thất chí”. Một vài người khác nhập cuộc, và bài Rượu Cuối Năm Bên Bờ Kinh Phương Nam được khen ngợi tưng bừng:
– Giàu hình ảnh với những câu thơ rất đẹp:
“…Ngọn gió chướng thổi se lòng nước / Bởi vì đâu so đũa nở trắng bông Nghe cuối bãi tiếng doi đất… lở! / Nghiêng mé nước gốc mai già vẫn nở / Bèo bữa trước vì sông mà trôi giạt , Chợt chở hoa về rợp bến quê nhà / Gió hú mãi trên tháp Hời u uất / Chín nhánh rồng thiêng có trăm nghìn bến…”
– Phản ánh rõ nỗi chua xót cùng cay đắng:
“… Bởi vì đâu rượu đắng ở cuối lòng, Cứ nồng ấm những hồn lãng bạt?/…Bạn và ta còn thua cỏ cây nhiều, Mới mười năm theo chim vịt kêu chiều, Mà gió thổi muốn rách hồn kiêu bạc…/ Nâng chén hoài hương gục nhớ mộ cha, Gió thổi miết chắc chẳng còn thấy nấm /
– Thể hiện được cái khí khái, cốt cách của một kẻ sĩ trong giai đoạn thất thế:
“…Thì sá gì cuộc nổi trôi ta!…/ Thêm một ly gởi tới những tầng mây, Để cuối kiếp ta trôi lên… thường trú!/ (Đừng chửi tục (…!) giao thừa sắp đến!)/ Đời thơ ta cứ tấp, cứ đi!…”
Dĩ nhiên được đọc ké cuộc bút đàm trên qua ngã internet, tôi vô cùng vui vẻ. Những lời bình đơn giản, nhưng tôi nghĩ rất thích hợp với bài thơ về rượu của Đynh Trầm Ca. Bài thơ hay, đọc sảng khoái, thiếu chút nữa tôi… phỏng tác. Nghe đâu bài thơ này cũng đã bị một người làm thơ khác mượn đỡ một số câu, số ý. Việc làm không đẹp này, bị nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy phát hiện, và “bứt xúc” tin cùng ông nhà văn Nguyễn Đình Bổn. Thế là trong mục Văn Chương Và Tôi của nhà văn này, đã có một bài lên lớp khá nặng tay. Không hiểu Đynh Trầm Ca buồn hay vui.

… giang hồ nào có ai phong ấn
mà cũng từ quan , trở lại quê…”

(Vũ Hữu Định)

Chuyến trôi theo đời dù già năm tháng đến đâu, người thơ từng cuốc bẫm cày sâu cũng đã trở về trên nền cũ của tổ tiên mình. Trong khoảnh khắc tôi hình dung thấy anh quì gối trước mẫu thân, người đã đội trên đầu tròn một trăm năm cay đắng, vui buồn. Tôi biết chắc những câu thơ, những nốt nhạc trong lòng anh tượng hình, nhưng dễ gì viết lên giấy. Chúng bát ngát quá, chúng đậm đà, sờ được, nắm được, nên nhất thời anh đành dành ưu tiên giữ riêng cho mình một thời gian. Bãi phân gà trên bậc cửa, ổ tò vò dưới mái hiên…. những hình ảnh bé nhỏ, hèn mọn nhất đều nhất loạt cúi chào, nghênh đón một người thân thương đã trở về. Không hiểu bao lâu sau đó, Đynh Trầm Ca mới bớt xúc động ? Quốc lộ 1 trước mặt. Ao rau muống sau lưng. Ngã rẽ xuống Hội An. Bến xe về Đà Nẵng. Cổng trường bên dòng sông. Ai đã từng “sợ hồn bay nên níu chặt vai cầu” ? (Hà Nguyên Thạch). Và Th. có phải là Thoan, một thời Đynh Hoàng Sa cũng si tình ? Những hình ảnh tôi vừa kể, những vóc dáng tôi chưa gọi lại, nhiều lắm, không chỉ vừa đến chào hỏi nhà thơ, mà ngay khi anh còn ngồi trên phi cơ, trên con thuyền, trên xe đò, anh đã gặp chúng. Bởi thật ra trong bao năm qua, tất cả quê nhà, tất cả hương sắc Vĩnh Điện đều cùng trôi với người làm thơ.
Cùng qui cố hương với Đynh Trầm Ca còn có những vẫy tay tiễn đưa của bè bạn, Nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy, trải lòng ra:

“Buộc phải lên tàu- hề ! qui cố hương
Riêng ta biết ước mơ Người vẫn chảy
Có những điều mắt thường không dễ thấy
Cảm thông nhau như một nỗi buồn

Ba mươi năm đổi đời di dân
Nơi nào đến cũng đường cùng đất dữ
Nay về lại quê xưa chốn cũ
Bạc áo giang hồ- xếp mộng văn chương

Câu thơ tiễn Người xuống ngựa buông cương
Kết thúc giữa ngày sinh ly tử biệt
Nói sao hết những điều không cần thiết
Nhớ đến nhau thầm lặng một nỗi buồn”

(Như một nỗi buồn – Nguyễn Hữu Thụy)

Thiếu tài làm thơ, chưa là bạn đích thực, từ phương xa, tôi cũng xin gởi lời mừng anh, Đynh Trầm Ca, tiếp tục làm một ông chủ quán. “Cà phê Thạch Trúc Viên được dựng trên nền đất cũ của Tổ tiên nhạc sĩ. Thoáng, rộng và xinh đáo để” (Đặng Ngọc Khoa). Hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ có dịp thầm lặng đến thăm quán này. Tôi hứa với chính mình sẽ ngồi im lặng, để ngắm ông nhạc sĩ làm thơ, có vóc dáng thế nào, khuôn mặt có giàu phong trần mà qua ảnh chụp tôi không đọc hết. Một bạn đọc không thể sánh với một người bạn văn nghệ, nhưng biết đâu, tình cờ chính tay nhà thơ mang cho tôi một tách cà phê nóng, sóng sánh những thơ. Đynh Trầm Ca nổi tiếng có nhiều tình cờ, thêm một tình cờ bình thường nữa, chắc không sao ? Biết chừng đâu anh lại có lợi, bởi tôi định bụng sẽ nói nhỏ vào tai chị Giang, “ xin chị đừng là ngọn lửa đốt thơ tình của anh nữa, chị hãy là ngọn gió thổi tình anh bay xa hơn”
Đynh Trầm Ca thấy chưa, bà chị tôi đang bao dung mỉm cười.

http://my.opera.com/hoadongphuong/blog/2011/12/07/van-hoc-ha-khanh-quan-3

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Ra mắt "Người trẻ dáng nâu" tại Sài Gòn


Sáng ngày 6/12/2011 tập sách "Người trẻ dáng nâu" (*) của Nguyễn Trung BÌnh được tổ chức ra mắt tại Sài Gòn: Cafe Bros
số 213 Nguyễn Văn Thủ, quận 1 do nhà thơ Vũ Trọng Quang chủ trì; ba nhà thơ Trần Tuấn, Phùng Tấn Đông, Huỳnh Lê Nhật Tấn, những người thực hiện tuyển tập, từ Đà Nẵng vào tham dự. Mở đầu chương trình mọi người đứng dậy một phút tưởng nhớ Nguyễn Trung Bình, sau đó nhà thơ Vũ Trọng Quang giới thiệu những người có mặt, vợ của Nguyễn Trung Bình nhập viện trước hôm ra mắt nên không đến được, chỉ có con trai 10 tuổi là Nguyễn Trung Phước thay mặt gia đình đến tham dự.

Tại buổi ra mắt có gần 60 người, gồm nhà văn, nhà thơ,họa sĩ, nhạc sĩ, nhà báo, nhà nghiên cứu: Khổng Đức, Chinh Văn, Bùi Đức Long, Nguyễn Hòa, Đoàn Thạch Biền, Lê Văn Duy, Đinh Kim Phúc, Trần Hũu Dũng, Ý Nhi, Tuấn Khanh, Trương Văn Dân, Nguyễn Đình Bổn,Ngô Thị Hạnh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lưu Mê Lan, Vũ Hà Nam, Nguyễn Tam Phù Sa, Nguyễn Hũu Thụy, Nguyễn Vân Thiên, Nguyễn Viện, Đào Hiếu,
Lý Đợi, Khúc Duy, Mẹ Đốp, Chiêu Anh Nguyễn, Cao Tự Thanh, Phan Hoàng, Trương Đạm Thủy, Cao Quảng Văn, Lê Thị Kim, Lê Hải,
Ngô Thanh Tùng, Lam Điền, Trần Hoàng Nhân,...
Nhà thơ Lý Đợi dẫn chương trình, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Tiến Văn nhận định về thơ và cuộc đời "Người trẻ dáng nâu", bài đọc ứng khẩu dài hơn 30 phút; nhà thơ Ngô Thị Hạnh với chất giọng truyền cảm đọc "Bài của trẻ dáng nâu", nhà thơ Lê Thị Kim với giọng nhẹ nhàng đọc bài "Cỏ Mỹ Sơn", nhà thơ Vũ Trọng Quang đọc bài thơ viết lúc hay tin Nguyễn Trung Bình đi vào cõi vô biên, nhà thơ Nguyễn Thành Nhân hát chay bài hát do mình phổ thơ NTB; nhà thơ Ý Nhi và nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, nhà thơ Phan Hoàng bày tỏ hoài niệm với Nguyễn Trung Bình khi còn sống. Đặc biệt nhà thơ Lâm Xuân Thi thay mặt Quỹ Tình Thơ gửi hoa và 10 triệu đồng cho chi phí tổ chức buổi ra mắt sách và hỗ trợ cho gia đình anh Nguyễn Trung Bình, những người tham dự đều có mua sách ủng hộ.

Buổi ra mắt "Người trẻ dáng nâu" diễn ra sang trọng, thân thiết, đầm ấm; và thành công.
Chiều cùng ngày ba nhà thơ Trần Tuấn, Phùng Tấn Đông, Huỳnh Lê Nhật Tấn vào bệnh viện thăm chị Nguyễn Trung Bình đang điều trị bệnh tim và trao cho chị số tiền mà mọi người mua sách ủng hộ.
Chương trình buổi ra mắt sẽ được HTV9 phát hình vào 2 giờ chiều ngày thứ hai 12/12/2011.
- HĐP -
-----------------------------------------------------------------------------------------
(*) Sách phát hành tháng 11/2011, Nhà xuất bản Lao Động nơi tác giả công tác khi còn tại thế ấn hành

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Cao Huy Khanh VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Kỳ 94 – 5.12.2011

941 – Nguyễn Duy Quyết

VẼ BẢN ĐỒ NGHĨA TRANG CAMPUCHIA

Bộ đội về hưu sinh 1949 tại Thái Nguyên. Sống ở Thái Nguyên (2010).

Năm 1967 đi bộ đội vào chiến trường Tây Nguyên rồi chuyển qua mặt trận Bình Long, Tây Ninh, Kiên Giang, An Giang.

Năm 1978 còn được điều qua chiến trường Campuchia. Sau đó xuất ngũ về quê Thái Nguyên.

Nhưng vẫn canh cánh bên lòng nỗi ân hận chưa biết một số đồng đội đã hy sinh mất tích nay không biết mộ chí, hài cốt nằm nơi đâu. Vì thế năm 1997 cùng vài đồng đội trở về chiến trường xưa ở An Giang đi tìm mộ mộ liệt sĩ song không tìm đâu ra dấu tích nữa.

Không nản lòng, từ đó lao vào cuộc tìm kiếm thông tin từ đồng đội cũ, đơn vị cũ để lập nên danh sách liệt sĩ đã quy tập về nghĩa trang (mà người thân chưa biết) lẫn danh sách các liệt sĩ biệt tích. Rồi viết thư báo tin cho gia đình liệt sĩ, từ 400 lá thư đã giúp khoảng 150 gia đình tìm được mộ người thân để đưa về quê nhà.

Trong số này gian nan hơn cả là số liệt sĩ còn nằm lại trên chiến trường Campuchia bây giờ rất khó truy tìm vì thuộc lãnh thổ đất nước bạn lại trải qua thời gian dài cảnh cũ người xưa đều đã đổi khác rồi. Do đó mới có sáng kiến nhớ lại các chi tiết cộng với thông tin góp nhặt từ đồng đội cũ để vẽ nên bản đồ những nghĩa trang nhỏ mà mình hoặc đơn vị cũ từng lập tạm trên đất bạn để chôn cất liệt sĩ chờ ngày hòa bình sẽ lo liệu đem về quê hương.

Chính nhờ những tấm bản đồ vẽ theo trí nhớ đó mà mình cùng Tỉnh đội An Giang đã qua Campuchia tìm được nhiều mộ liệt sĩ “tha hương” quy tập về VN.

Vậy nhưng mộ – hay hài cốt – của anh ruột mình hy sinh năm 1972 đến nay vẫn bặt vô âm tín. Cho nên “Tôi vẫn đi tiếp, còn gia đình đồng đội nhờ tôi còn đi.”

942 - Nguyễn Đình Quốc

ANH HÙNG “TÀU KHÔNG SỐ” BỊ KHAI TRỪ ĐẢNG

Cựu sĩ quan hải quân sinh khoảng 1944 tại miền Bắc. Sống ở miền Bắc (2011).

Gia nhập hải quân năm 1964, được phân công tham gia chỉ huy những “chuyến tàu không số” bí mật vận chuyển vũ khí từ Hải Phòng vào miền Nam đánh Mỹ.

Năm 1966 lên lon thiếu úy làm thuyền phó một chuyến tàu như vậy bị địch phát hiện vây bắt đưa về giam giữ tra tấn moi tin tức.

Năm 1973 được trả tù binh. Nhưng trở về bị tình nghi trong thời gian bị bắt đã đầu hàng địch, khai báo tổ chức, thậm chí còn có tin đồn đã phát loa kêu gọi đồng đội ra đầu thú! Vì thế bị hạ tầng công tác, cắt chế độ đồng thời khai trừ Đảng luôn.

Nhưng vẫn kêu oan mình không hề là kẻ phản bội, không chấp nhận lãnh án oan nên đã liên tục làm đơn khiếu nại khắp nơi, lên các cấp buộc tổ chức phải tiến hành xác minh nghiêm túc.

Đến năm 1982 mới được tổ chức chính thức giải oan, khôi phục Đảng tịch cùng mọi chế độ xứng đáng.

943 - Nguyễn Đình Thường

MỞ ĐẦU GIÁM ĐỊNH ADN TÌM TÊN LIỆT SĨ

Cán bộ về hưu sống ở Hà Nội (2008).

Có em trai liệt sĩ hy sinh mất tích năm 1971 trên chiến trường Quảng Trị.

Sau hòa bình đã bỏ ra 38 năm đi tìm thông tin về mộ chí hoặc hài cốt em khắp các chiến trường miền Nam.

Ban đầu không đạt kết quả gì nhưng vẫn không nản lòng, tiếp tục hành trình truy tìm tông tích em. Đến năm 1992 qua các cựu chiến binh đồng đội cũ của em mới biết đôi chút tin tức em đã bỏ mình trên đất Lào nên nhờ Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ qua tận nơi để tìm kiếm song thời gian đã lâu nên không còn dấu vết gì.

Trở về, lại đi khắp các nghĩa trang liệt sĩ Quảng Trị vào tới Nghệ An dò la hy vọng có thể hài cốt em đã được quy tập về đây. Trải qua 3 năm nữa vẫn vô vọng.

Quay qua nhờ nhà ngoại cảm “nhập hồn tìm hồn” thì được cho biết hài cốt em không còn nữa!

Dù vậy vẫn không nỡ bỏ cuộc mà lặn lội vào lại Quảng Trị – nơi đơn vị của em đóng quân ngày xưa – xin được xem các tài liệu “mật”. Từ đó cuối năm 1995 tìm được 10 bản sơ đồ mộ chí liệt sĩ qua đó phối hợp thông tin thu thập lâu nay tập trung nghiên cứu thấy có 3 mộ liệt sĩ vô danh đã quy tập về Nghĩa trang Đường 9 có dấu hiệu liên quan trong đó có thể có mộ em mình.

Nhưng nghi là nghi vậy thôi chứ bấy giờ không có cách gì xác định được đâu là mộ – hài cốt em. Nên đành đem các bản sơ đồ mộ đó đặt lên… bàn thờ cúng bái cùng di ảnh và di vật của em!

Đến năm 2007 biết VN bắt đầu cho ứng dụng thử nghiệm kỹ thuật xét nghiệm ADN đối với con người nên nảy sinh ý nhờ phương pháp này để “khảo sát” hài cốt trong 3 mộ kia xem có thi hài em mình không.

Thế là tìm cách quan hệ, vận động các cơ quan liên hệ nhờ giúp đỡ làm việc này. Một việc rất khó khăn vì vào thời đó kỹ thuật xét nghiệm ADN chưa phổ biến do tính chất phức tạp, công nghệ mới mất nhiều thời gian và chi phí cao nên mới chỉ sử dụng bước đầu trong phạm vi nghiên cứu ngành khoa học, công an, quân đội.

May mắn cuối cùng cũng được thông cảm hỗ trợ giúp khai quật 3 ngôi mộ lấy mẫu xét nghiệm (răng hoặc một mẩu xương) cho Viện Công nghệ sinh học xét nghiệm. Kết quả tìm được hài cốt em ở một trong 3 ngôi mộ trên.

Kể từ đó dần dần kỹ thuật test ADN mới được áp dụng rộng rãi hơn cho việc xác định trả lại tên cho liệt sĩ không còn vô danh nữa.

944 - Nguyễn Đình Vân

NHỮNG LÁ THƯ TÌNH GIẤU ĐẦU GIƯỜNG

Thương binh sinh 1957 tại Hải Dương – Mất 2010 ở Phú Thọ (54 tuổi).

Vào bộ đội năm 1974 kịp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam. Nhưng đến các trận đánh cuối cùng thì bị thông báo mất tích trên chiến trường.

Mãi một thời gian sau gia đình mới biết đương sự bị thương nặng đưa vào bệnh viện điều trị. Kết quả thương tật 80%, liệt nửa người, đi đại tiện tiểu tiện đều qua ống thông từ bụng.

Sau thời gian nằm viện được cho ngồi xe lăn về quê cho gia đình chăm sóc.

Ở quê gặp cô gái bạn của em gái mình mới đem lòng thầm yêu trộm nhớ song mặc cảm mình bệnh tật nên không dám nói thành lời, chỉ âm thầm viết nhiều lá thư tỏ tình giãi bày tâm sự không dám gửi đi mà giấu ở đầu giường.

Người em gái tình cờ bắt gặp mới lấy đem cho cô bạn “đối tượng” đọc. Ai ngờ cô bạn đọc xong xúc động cảm thương tới chỗ… chấp nhận tình yêu của người thương binh tàn phế nặng vì “Chiến tranh lấy đi của anh ấy đôi chân nhưng tình cảm của anh ấy thì không ai lấy đi được”.

Từ đó năm cô 1988 kiên quyết làm lễ cưới nhận anh làm chồng bất chấp mọi lời can ngăn dù biết chắc anh không còn khả năng làm chồng nữa bởi anh cần “tình thương mà những người như tôi phải bù đắp”.

Để tiện việc chăm lo cho chồng, đã đưa chồng về quê mình ở Phú Thọ. Trong hơn 20 năm tiếp đó người vợ trẻ đã làm lụng vất vả để nuôi chồng bệnh “thường trực vào viện” vừa lo kiếm sống độ nhật.

Nhờ đó bản thân người thương binh thừa chết thiếu sống ngày nào cũng được hưởng hạnh phúc đầm ấm 21 năm, một niềm hạnh phúc gia đình cứ xem như trọn vẹn đi với người vợ tần tảo đảm đang và người cháu mà mình nhận làm con nuôi.

945 - Nguyễn Đức Tẹo

BỆNH SA RUỘT BẨM SINH

Thường dân sinh 1954 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2007).

Bộ đội đánh Mỹ ở Tây Nguyên xuất ngũ về quê làm nông mới biết bị nhiễm CĐDC.

Vì thế sinh được 3 con đều lĩnh hậu quả di chứng bị câm điếc và đều mắc bệnh lạ là bệnh sa ruột bẩm sinh không chữa nổi mà cũng không có tiền để chạy chữa.

Cả nhà làm ruộng không đủ để nuôi con bệnh phải xoay xở qua làm thêm hàng mã song nghèo vẫn hoàn nghèo.

Khổ cực vừa chạy thuốc cho con vừa ăn uống kham khổ khiến mới hơn 50 tuổi mà người gầy quắt cân nặng chỉ 37kg!

946 – Nguyễn Gia Kiểng

TẬP HỢP DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

Trí thức Việt kiều Pháp sinh 1942 tại Thái Bình. Sống ở Pháp (2011).

Gia đình theo Quốc Dân Đảng nên thời Pháp từng bị cả Pháp lẫn cộng sản đàn áp.

Di cư vào Nam 1954 sống cũng không yên lại bị chế độ Ngô Đình Diệm nghi ngờ theo dõi khiến gia đình phải bỏ lên Pleiku trốn tránh. Rồi tìm cách đưa con đi du học Pháp.

Tại Pháp trở thành lãnh tụ tổ chức sinh viên không theo cộng sản.

Tốt nghiệp làm kỹ sư tại Pháp và học thêm cao học kinh tế.

Năm 1973 quyết định về nước làm chuyên viên ngành ngân hàng và dạy ĐH Minh Đức ở Sài Gòn. Sau đó được mời làm phụ tá Bộ trưởng Kinh tế thời Nguyễn Văn Thiệu.

Sau 1975 là công chức cao cấp nên đương nhiên đi cải tạo song chỉ 3 năm cho về gặp thời Võ Văn Kiệt khá cở mở nên được nhận vào làm chuyên viên kinh tế chuẩn bị cho thời kỳ Đổi Mới.

Năm 1982 nhờ mối quan hệ trước ở Pháp nên được bạn bè bên đó vận động bảo lãnh đi Pháp.

Lần thứ hai quay lại Pháp làm kỹ sư rồi chuyển qua doanh nghiệp. Trong thời gian này đã góp phần thành lập xây dựng tổ chức chính trị Tập hợp Đa nguyên Dân chủ quy tụ nhiều quan chức, sĩ quan chế độ cũ từng ở lại hoặc đi cải tạo rồi trở về được cho ra nước ngoài, sau này còn thêm một số trí thức kể cả đảng viên trong nước tham gia.

Tổ chức này chủ trương tranh đấu “không bạo lực” chỉ nghiêng về lý luận chính trị theo tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Tập trung ý hướng khuyến khích VN chấp nhận chế độ dân chủ và đa nguyên với diễn đàn chính là nguyệt san “Thông luận” (có cả trên mạng) gây tiếng vang đáng kể nên còn được gọi là nhóm “Thông luận”.

Song song bản thân còn viết cuốn “Tổ quốc ăn năn”.

Năm 2005 về hưu. Bấy giờ mới rảnh rang phát triển tổ chức chính trị Tập hợp Đa nguyên Dân chủ kể trên, nhận chức thường trực tổ chức.

Tất nhiên không được chính quyền cộng sản VN bằng lòng mà ngay cả phe phái chống Cộng cực đoan hải ngoại cũng chống đối cho là “lý thuyết suông”, “thỏa hiệp”, “hoà hoãn”, “phản bội”. Vì thế năm 1990 khi đến Hà Lan diễn thuyết về quan điểm này đã bị đón… đánh bị thương!

947 – Nguyễn Hiền

NHẠC SĨ “PHỤC QUỐC”?

Nhạc sĩ sinh 1927 tại Hà Nội – Mất 2005 ở Mỹ (79 tuổi).

Năm 1954 di cư vào Nam.

Hoạt động âm nhạc, nổi tiếng với ca khúc “Anh cho em mùa xuân” phổ thơ Kim Tuấn, thêm các bài “Xuân vui ca”, “Hoa bướm ngày xưa”…

Song song đó còn hợp tác phụ trách nhạc cho nhiều cơ quan chống Cộng cộm cán của chính phủ VNCH như Bộ Thông Tin, Chiêu hồi, Xây dựng nông thôn, Phụ tá giám đốc đài truyền hình.

Vì thế sau 75, năm 1978 bị bắt tình nghi tội tham gia tổ chức “phục quốc”. Chắc là không phải bởi chỉ 2 năm sau thì được thả ra.

Năm 1988 được bảo lãnh đi Mỹ diện đoàn tụ gia đình.

Tại Mỹ tiếp tục hoạt động âm nhạc thuần túy, lập một ban nhạc chơi cho các quán ba, nhà hàng ở khu “Sài Gòn nhỏ”.

Mất bệnh ung thư phổi.

948 – Nguyễn Hồng Ngọc

VỢ CHỒNG TRẺ “DA CAM”

Thợ bạc sinh 1987 tại An Giang. Sống ở An Giang (2011).

Cha là bộ đội trên chiến trường miền Đông 10 năm nên bị nhiễm CĐDC. Vì thế khi mình sinh ra (con thứ ba cũng là con út) cơ thể nhỏ xíu “như con cá lóc”. Nuôi hoài không lớn, đúng hơn là lớn chậm thân hình chỉ bằng một nửa các bạn cùng tuổi khác (24 tuổi cao 1,27m).

Nhưng vẫn đòi đi học buộc cha phải đóng cho riêng mình bộ bàn ghế học trò thấp lè tè thì con mới ngồi học được. Vào lớp khi nào ngồi lâu thấy mỏi rần cả người thì thầy cô cho phép được… nằm học!

Dù vậy vẫn cố gắng học tốt nghiệp lớp 9. Hiểu mình khó lòng học tiếp được nên tự xin cha cho đi học nghề mong có thể kiếm kế sinh nhai tự lo thân mình. Học nghề thợ bạc xong ra nghề làm ở thị xã Long Xuyên cũng đủ sống.

Đã trưởng thành rồi nên bắt đầu biết… yêu! Tất nhiên phải nhắm đối tượng phù hợp, may sao gặp được người yêu mà dường như định mệnh đã sắp đặt sẵn là một cô gái cũng bị di chứng CĐDC nhưng nhẹ hơn từ huyện lên thị xã phụ dì bán tạp hóa. Đặc biệt tên tuổi cũng gần giống nhau mới lạ – Nguyễn Hồng Cẩm! Chỉ có điểm nhỏ khác nhau là nàng… cao hơn 0,08m.

Thế là vào giữa năm 2011 đám cưới được cử hành trang trọng, vui vẻ với đầy đủ nghi lễ như muôn vàn đám cưới khác được bà con hai họ chúc mừng rôm rả.

949 - Nguyễn Hồng Tâm

NGƯỜI DÁM KHÔI PHỤC PHAN THANH GIẢN

Cán bộ về hưu sinh 1946 tại Vĩnh Long. Sống ở Vĩnh Long (2009).

Xuất thân chăn bò ham học, lớn lên theo cộng sản đánh Mỹ. Từng là lính đặc công (bí danh “Tám Tâm”) đánh vào Sài Gòn.

Sau giải phóng miền Nam còn được điều qua chiến trường Campuchia. Cuối cùng chuyển ngành từ năm 1984 về làm cán bộ văn hóa thông tin ở thị xã Vĩnh Long.

Vốn ham học nên trước sau như một luôn một lòng sống theo nghĩa lý tôn sư trọng đạo không kể thuộc phe phái nào. Từ đó đã có những việc làm thể hiện lòng biết ơn với các bậc tiên sư từng có công lao khai hóa, giáo dục đặc biệt ở quê hương Vĩnh Long bất chấp quan điểm chính trị thời đó chưa chấp nhận (mà lẽ ra là một cán bộ VHTT mình nắm rõ hơn ai hết).

Cụ thể là về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản trước đây bị phê phán “phản quốc”, “bán nước cầu vinh” cho giặc Pháp. Vậy mà năm 1986 đã “vận dụng” biến một buổi họp kiểu “Mặt trận” ở thị xã thành… lễ giỗ cụ Phan!

Cùng với cách làm kiểu “đặc công” như vậy, trước đó một năm không xin phép ai mà vẫn bí mật tiến hành phục hồi lại nguyên trạng cái cổng cũ của Văn Thánh Miếu nơi xưa thờ cụ Phan Thanh Giản và các bậc tiên hiền Nam Bộ đến sau 1975 đã bị xóa sổ làm Nhà Truyền thống Thị xã. Công việc được thực hiện vào đúng giấc trưa nhân khi lãnh đạo về nhà nghỉ trưa, làm gấp chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ là xong. Khi cấp trên biết được thì đã… muộn rồi!

May mà được… cho qua, có lẽ một phần thời này đã bắt đầu không khí Đổi Mới, phần khác cũng có thể cấp trên không muốn làm lớn chuyện ồn ào mất uy tín. Hơn nữa dù sao người cầm đầu cũng là dân cách mạng gộc!

Quả là đến năm 1991 địa điểm trên được công nhận là Di tích Quốc gia với tên gọi chính thức là tên cũ Văn Thánh Miếu. Cũng như sau đó Phan Thanh Giản được khôi phục vị trí đúng đắn trong lịch sử là một vị quan yêu nước triều Nguyễn.

Không chỉ thế, tay đặc công cũ còn tự mình vận động bà con và cả tự mình đóng cừ đóng cột xây nên một ngôi miếu nhỏ đặt tên Ân Sư Từ (Miếu nhớ ơn thầy) ở trên một cù lao (nay thuộc vùng du lịch sinh thái Bình Hòa Phước) rộng khoảng 10m2 nhằm thờ cúng 20 vị thầy đầu tiên đến dạy học trên đất Vĩnh Long từ thời Pháp thuộc. Miếu xây trên nền cũ ngôi trường làng đầu tiên lập năm 1919 ở vùng đất hoang sơ hẻo lánh này, phía trước là dòng sông Tiền cuộn sóng.

Trong miếu có cả tranh ký họa chân dung các thầy vẽ trên gạch tàu đem nung. Trước cửa là 2 câu đối chữ quốc ngữ mang hồn Nam Bộ “Thầy cô cũ qua rồi, lời dặn dò vẫn còn văng vẳng/ Nền trường xưa còn đó, tuổi ngây thơ sống dậy ngậm ngùi.”

950 – Nguyễn Hưng Quốc

THẾ HỆ MỚI CŨNG VƯỢT BIÊN

Nhà lý luận phê bình Việt kiều Uc tên thật Nguyễn Ngọc Tuấn sinh 1957 tại Quảng Nam. Sống ở Uùc (2011).

Sinh ra ở miền Nam, trưởng thành trong chế độ mới cộng sản với lý lịch tốt đã được đào tạo bài bản: Tốt nghiệp khoa văn ĐH Sư phạm TPHCM.

Nhưng sau vài năm đi dạy học đến năm 1985 lại vượt biên đến Pháp.

Tại đây, bắt đầu viết lý luận phê bình văn học VN trên các báo hải ngoại, từ đó in 3 tác phẩm đầu tiên ở Pháp và Mỹ: “Tìm hiểu nghệ thuật thơ VN” 1988, “Nghĩ về thơ” 1989, “Văn học VN dưới chế độ cộng sản” năm 1991. Cũng năm 1991 chuyển qua Uc định cư, tham gia ban biên tập tạp chí điện tử Tiền Vệ.

Ở Úc, học tiếp đại học lấy bằng tiến sĩ văn học. Được mời dạy đại học chuyên về văn học VN (sau kiêm chủ nhiệm ban).

Đồng thời tiếp tục viết lý luận phê bình văn học VN chú trọng mảng văn học VN cận đại - hiện đại và cả những vấn đề thời sự văn học, văn hóa VN. Qua đó được đánh giá là cây bút lý luận phê bình văn học VN theo xu hướng chống Cộng có giá trị, uy tín nổi bật nhất hiện nay với một loạt tác phẩm “Văn học VN từ điểm nhìn hậu hiện đại” 2000, “Thơ “Con cóc” và những vấn đề khác” 2006, “Mấy vấn đề phê bình và lý thuyết văn học” 2007, “Socialism Realism in Vietnamese Literature” (Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học VN) 2008...

Nhưng chỉ chống Cộng trên bình diện văn học – văn hóa chứ hoàn toàn không tham gia, quan hệ gì đến các hoạt động chính trị chống đối chế độ Cộng sản VN.

Tuy vậy năm 2005 được trường đại học cử dẫn đầu một đoàn sinh viên về TPHCM tham quan thực tập dù đã được Tòa Đại sứ VN tại Uc cấp chiếu khán song xuống sân bay đã bị giữ lại không cho nhập cảnh rồi trục xuất về lại Uc!

Năm 2009 lần thứ hai được tổ chức quốc tế mời qua Hà Nội dự một cuộc hội thảo văn hóa cũng bị ách lại tại sân bay Nội Bài buộc bay về lại Úc!

Dù vậy vẫn hứa lần sau có dịp vẫn về, chấp nhận có thể bị “đuổi lui” lần nữa, lý do đơn giản vì “VN là đất nước quê hương tôi… Tôi không hoạt động chính trị gì, không dính líu tổ chức chính trị nào, chỉ là nhà trí thức, nhà phê bình văn học… Tôi có lên tiếng phê phán chuyện này chuyện kia thì cũng từ góc độ nhà trí thức với thiện chí làm thế nào để đất nước mình, văn học mình, văn hóa mình mỗi ngày một tốt hơn thôi…”

(Còn tiếp)

http://sites.google.com/site/vanvietloc4/home/ho-so-hau-chien/hosohauchienky94

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU



ĐƯỢC TIN
THÂN PHỤ NHÀ THƠ TRẦN PHÁ NHẠC

VỪA QUA ĐỜI TẠI SÀI GÒN HƯỞNG THO 101 TUỔI

LINH CỬU QUÀNG TẠI CHÙA LONG HOA,
SỐ 44 TRẦN MINH QUYỂN ,QUẬN 10 TP HCM

LỄ VIẾNG BẮT ĐẦU SÁNG NGÀY 02.12.2011
LỄ ĐỘNG QUAN 8 GIỜ SÁNG CHỦ NHẬT 4.12.2011
HỎA THIÊU TẠI BÌNH HƯNG HÒA

XIN CHIA BUỒN ĐẾN NHÀ THƠ TRẦN PHÁ NHẠC
VÀ TANG QUYẾN

XIN CẦU NGUYỆN HƯƠNG HỒN CỤ SỚM VỀ CÕI PHẬT

nguyễn đính - nguyễn văn trai -nguyễn tịnh đông - viêm tịnh
phạm tấn hầu - thái nguyên hạnh - từ hoài tấn - trần vĩnh tựu
dương đình hùng - trần lượng - nguyễn thị đấu - nguyễn đông nhật -
văn viết lộc - trương như bá - nguyễn thị ngọc tuyết - phan lệ dung
lâm thị mỹ dạ - trần thùy mai - hải trung - hồ đăng thanh ngọc
trần khanh - lưu hồng cúc - lê hùng vọng - lữ thượng thọ
đoàn phạm túy linh - lương túy vân - bùi ngọc long
trần dzạ lữ - lê công doanh - lê xuân đố - trương đình quế
lê ngọc thuận - nguyễn thanh văn - vợ chồng nguyễn miên thảo