Thứ Tư, 17 tháng 12, 2008

Tiếng Huế: Văn hoá mà ý nhị

Ngôn ngữ của người Huế rất phong phú, ngoài những từ đặc biệt của địa phương như mô, tê,răng, rứa...thì trong lời ăn tiếng nói của người Huế còn dùng nhiều ca dao, tục ngữ để thể hiện ý nghĩ thêm phần hoa mỹ và trơn tru. Chính điều này đã làm cho ngôn từ Huế sống động cũng như thăng hoa tâm hồn con người xứ Thần Kinh này.

Thiếu nữ Huế dịu dàng

Do chịu nhiều ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến nên trong các gia đình Huế những khuôn phép, lễ nghĩa cả trong lời ăn tiếng nói rất được coi trọng. Người phụ nữ phải quan tâm đến việc tề gia nội trợ, quán xuyến nhà cửa, tính toán cho chi tiêu trong gia đình. Họ thường bảo nhau "Con ơi! Một tháng có ba mươi ngày, liệu mà tiêu pha, ào ào không bằng hao lộ mội".

Người Huế sống rất khiêm tốn, tuy thích nói văn hóa bay bổng nhưng tuyệt đối ghét sự ba hoa, khoe khoang nên thường khuyên răn con cháu mình "Bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành" để khỏi xấu hổ với mọi người nếu một mai vấp váp, thất bại.

Bên cạnh đó, dù nói năng nhẹ nhàng nhưng người đất cố đô cũng thích nói xéo một cách văn hoa, để người đối thoại hiểu được cái hậu ý mà tự suy ngẫm. Chẳng hạn với người hay nói dối, người Huế mỉa mai dông dài: "Láo thiên láo địa, láo từ ngoài Sịa láo vô".

Còn trong tình cảm đôi lứa thì có thể nói người Huế dùng vô vàn những từ ngữ hoa mỹ nhất. Trong đó, một từ mà để nói lên sự kín đáo trong tình cảm của người Huế rất thi vị là "thẩm ý thẩm tình", ý nghĩa là hồi tưởng về những kỉ niệm đẹp thời thanh xuân mà bẽn lẽn cười một mình. Về chữ duyên ở đời, người Huế duyên dáng mà bảo nhau "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ...". Thiếu nữ Huế khi bị trêu "Nhớ ai hả?" sẽ trả lời một cách điệu đàng rằng "Ai, ông cai bến đò" thay vì bật mí người ấy là ai.

Bên cạnh đó là ngôn từ trong ẩm thực Huế, từ phong cách ăn uống cho đến phương tiện phục vụ đều được diễn đạt một cách bóng bẩy "ăn lấy hương lấy hoa". Khi thức ăn ngon quá thì học nói "ăn ngậm mà nghe", khoái khẩu ăn nhiều sẽ bị mắng yêu là "ăn như thúng lủng khu"...

Kiểu nói văn hoa trong sinh hoạt đời thường của người Huế đã chứng tỏ được lối suy nghĩ, cách sống phong lưu và một tâm hồn thư thái của con người đất cố đô này.

Thanh Nguyên (Tổng hợp)

http://www.hue.vnn.vn/vedephue/phongtuctapquan/2008/10/300229/

Tết với người Huế

Ăn Tết Nguyên đán không phải là phong tục riêng của Huế. Tuy nhiên, Tết Huế có những nét riêng thú vị. Là kinh đô xưa, Huế còn giữ được nhiều cổ tục trong việc đón Tết và ăn Tết.

(Ảnh minh hoạ)

Trước tiên, là ở phần lễ nghi, cúng kiếng. Nếu ở ngoài Bắc, người ta coi lễ cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp là nghi lễ khởi sự cho một cái Tết nên tổ chức rất trọng thị, thì ở Huế lễ cúng ông Táo có phần đơn giản hơn.

Đối với nhiều gia đình người Huế, ngày 23 tháng Chạp đơn thuần là chỉ là ngày thay cát lư hương, quét dọn bàn thờ gia tiên, và tiễn ba ông đầu rau bằng đất nung trên trang bếp ra chân ngôi miếu hay gốc cổ thụ nơi đầu xóm để thay bằng ông Táo mới.

Cái không khí Tết thực sự cảm nhận được phải từ sau ngày 25 tháng Chạp, khi các phường hội thợ thuyền làm lễ cúng tổ nghề, cũng là lễ cúng tất niên, dù một số nghề vẫn tiếp tục hoạt động cho tới tận phút giao thừa như thợ may hay thợ cắt tóc.

Trước Tết, người Huế có thói quen đi thăm các phần mộ tổ tiên. Sau khi quét dọn bàn thờ, thay cát mới cho lư hương và đánh bóng những bộ tam sự, ngũ sự trên bàn thờ gia tiên, mọi người chuẩn bị hương hoa đi thăm viếng phần mộ những người thân đã quá vãng. Họ đến đó, dọn dẹp vệ sinh, chăm sóc những luống hoa, bụi cỏ nơi phần mộ, rồi thắp mấy nén nhang mời người quá cố về ăn Tết với gia đình.

Với những người còn giữ những liên hệ ruột rà nơi quê quán thì lúc này chính là dịp họ trở về thăm bà con nơi quê cũ, biếu người này hộp trà, người kia quả mứt để đón Tết. Đành rằng, người xứ quê có thể mua sắm thật dễ dàng những thứ ấy nơi chợ huyện, chợ làng, nhưng họ thật sự quý trọng những món quà này bởi đó là tấm lòng của những người ly hương nhưng không ly tổ.

Và họ cũng hào hiệp đáp lễ người miệt phố bằng dăm ba ký nếp, cân đậu hay nhành mai chúm chím nụ vàng, lòng những mong cái Tết nơi phố phường sẽ thấm đẫm tình quê hương bản quán.

Với các bà, các chị, Tết là dịp để họ trổ tài nữ công gia chánh. Ngày trước, dường như người ta tự làm tất cả các món ăn mặn ngọt, chay tịnh... mà không phải mua thứ gì. Tết Huế có hàng trăm món ăn: mặn thì có bánh tét, dưa món, thịt bò dầm nước mắm, giò heo bó, chả thủ, nem tré, kim chi chuối chát, hành muối, kiệu chua... ngọt thì đủ loại mứt bánh: mứt gừng, mứt dừa, mứt khoai lang, mứt bí đao, mứt hạt sen, mứt me, mứt cóc, mứt xoài, bánh in, bánh thuẫn, bánh dẻo, bánh bó, chè xanh đánh, chè đông sương, chè khoai tía... Đồ ăn mặn có món gì thì đồ chay có món đó.

Huế vốn nổi tiếng với các món cỗ chay cao cấp trong cung đình xưa và hầu hết các bà nội trợ đất thần linh đều biết nấu được một, hai món chay đặc sắc. Nhờ thế mà cỗ chay ngày Tết rất phong phú và đặc sắc. Ngày nay, tuy hàng quà bánh trái tràn ngập chợ Tết nhưng đa phần phụ nữ Huế vẫn thích tự mình làm các món nhắm như thịt dầm, kim chi và đặc biệt là dưa món, thứ không thể thiếu trong Tết Huế.

Sự cúng kiếng trong ngày Tết ở Huế mới thực sự cầu kỳ. Trước Tết có cúng ông Táo, cúng tổ nghề, cúng tất niên, cúng lên nêu, cúng rước ông bà về ăn Tết, cúng thần Hành khiển (thần coi sóc trong năm), cúng giao thừa.

Từ sáng Mồng Một Tết trở đi phải cúng ông bà ngày 3 bữa, ngày Sóc cúng chay, ngày thường cúng mặn. Đến chiều mồng Ba phải làm cỗ cúng đưa (tiễn ông bà về lại cõi trên). Tiếp theo là cúng đầu năm, cúng sao, cúng rằm Nguyên tiêu...

Cũng chính nhờ cổ tục này mà người Huế dù đi làm ăn xa ở trong Nam ngoài Bắc, Tết đến, cũng tranh thủ về với gia đình, không chỉ để được sum họp với người sống mà còn như muốn tìm trong không khí thành kính, linh thiêng ấy hình ảnh của những người thân đã khuất bóng.

Đêm giao thừa là lúc gia đình đoàn viên. Khác với ngoài Bắc, ở Huế không có tục hái lộc đầu năm nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau khi giao thừa. Nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở Huế vẫn giữ nguyên lộc biếc suốt cả mùa xuân.

Mấy năm gần đây, nhà nước có tổ chức cầu truyền hình đêm giao thừa nên một bộ phận cư dân Huế, nhất là lớp trẻ, đã "biệt" ra khỏi nhà vào đêm trừ tịch, song ít ai trở về nhà sau lúc giao thừa. Ấy là bởi cái tục đạp đất. Người Bắc cũng có lệ xông đất, nhưng dân Huế đã gọi rất đúng tên cổ tục này: đạp đất.

Không ai muốn về nhà sau giao thừa bởi họ muốn tránh việc đạp đất nhà mình. Người ta mong người đến đạp đất nhà mình vào sáng Mồng Một Tết là những người có chức sắc, có học vấn, hay là người nhẹ vía, để tài lộc, may mắn sẽ theo họ đến với gia đình suốt cả năm sau đó.

Nhiều gia đình ở Huế còn "ra lệnh" cho con cái, đứa nào nặng vía thì sáng Mồng Một Tết không được dậy sớm, có thức giấc cũng phải nằm yên, chờ đứa khác nhẹ vía hơn, đã được cha mẹ dặn trước từ đêm giao thừa, đặt chân xuống đất trước. Lúc đó, những đứa khác mới được ra khỏi giường.

Người Huế thường dành ngày Mồng Một Tết để đi viếng mộ tổ tiên, thăm nhà thờ họ tộc, thăm ông bà, cha mẹ, chúc Tết thầy dạy nghề, dạy chữ... Sang Mồng Hai, mồng Ba, mới tính đến chuyện thăm viếng đồng nghiệp, bằng hữu. Ngày nay, tệ "viếng xếp vi tiên" cũng có le lói ở một đôi nơi, nhưng nếp lễ nghĩa xưa vẫn là phổ biến.

Nói đến Tết, tất phải nói chuyện chơi. Dân Huế xưa chơi Tết thật lắm trò. Không kể những trò trong cung vua phủ chúa, trò vui nơi thôn dã cũng đã phong phú. Trò chơi tập thể có hội bài chòi, đu tiên, đua ghe, đấu vật...

Nơi đầu đường, góc phố có các trò bài vụ, bầu cua tôm cá...; trong mỗi nhà thì có hội bài tới, xăm hường, tứ sắc, bài cẩu... Sau này, đu tiên vắng bóng, bài chòi chỉ còn lại nơi thôn dã, nhưng hội đua ghe trên sông Hương và vật võ làng Sình (Phú Mậu, Phú Vang) vẫn duy trì đều đặn. Hàng năm, trong công viên Thương Bạc vẫn diễn ra hội hợ với các trò vui xuân có thưởng và trong các gia đình người Huế tiếng gieo xúc xắc của trò xắm hường vẫn rộn vang trong ba ngày Tết.

Tết ở Huế còn là dịp để muôn hoa khoe sắc. Ngoài làng Chuồn chuyên nghề làm trướng liễn để treo ngày Tết, Huế còn có làng Thanh Tiên chuyên làm hoa giấy. Từ giữa tháng Chạp, hoa giấy nơi đây theo chân dân làng đi làm đẹp khắp chốn thành kinh. Nhưng đẹp nhất vẫn là những đoá hoa đến từ những làng hoa ven sông Hương: hoa huệ Nguyệt Biều, hoa cúc Bãi Dâu, thược dược Phú Thượng, hoa mai Dương Xuân...

Tất cả đều tụ hội về công viên Phu Văn Lâu cả tuần trước Tết, để từ đó tỏa ra làm đẹp cho mọi miền, mọi nhà của xứ Huế trong dịp Tết. Khoảng chục năm trở lại đây, đi chợ hoa đã trở thành một thói quen của người Huế. Đến chợ hoa, nếu tinh ý, bạn sẽ nhận ra tính cách, khiếu thẩm mỹ, trình độ học vấn và cả sự sang hèn của những hạng người mua hoa và thưởng hoa. Đó cũng là một thú vui của Tết Huế vậy.

Nguồn: Trần Đức Anh Sơn
http://www.hue.vnn.vn/vedephue/phongtuctapquan/2008/10/300447/

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2008

Tình ca cuối năm

cuối năm, những tờ lịch vừa mới bóc đi
ngày tháng bỏ lại sau lưng và năm mới đến
sự ưu phiền của cuộc sống cũng đã nở hoa
vì mùa xuân là tất cả
trên những ngã đường nhân loại nhỏ to
râm rang bài hát mới
tôi cũng sẽ gởi tặng em bài thơ mới viết đêm qua
như một lời chúc đầu khai sinh cuộc sống

trái đất của chúng ta vừa to vừa tròn
vừa hung bạo vừa hiền hòa
vừa dữ dội vừa êm ái
cũng như mối tình tôi và em
vừa cuồng điên và tuyệt vọng
như căn bệnh rối loạn tiền đình của em
vừa dịu dàng và tưng tửng

tình yêu của tôi bài thơ của tôi
suối nguồn của tôi dòng sông của tôi
mỗi một ngày không ngưng nghỉ
bằng làn hơi dịu ngọt cuộc đời
pha phôi đi những âm trầm cay đắng
em đã cho tôi sức lực của ngày vui
mạnh mẽ niềm mong chờ năm mới lạ
mọi người trên đường sẽ nhìn chúng ta
với tình yêu rất trẻ

trong bữa tiệc cuối tuần em cùng tôi
đôi mắt em long lanh
em sẽ không bao giờ nói được rằng
tình yêu của em đã gởi cho tôi
lặng lẽ niềm vô cùng tận
tình yêu của tôi đã gởi cho ai
để em sẽ không còn những đêm mất ngủ

tôi đã hiểu lòng em đôi mắt em
ngọn đèn sáp vừa được thắp lên
lung linh tình em
sáng mãi tình em
trong những đêm tàn cuối một năm
những đôi bạn tình hát cùng nhau
sự bất diệt của tình yêu
và em hãy hiểu lòng tôi
hãy hiểu tình tôi
chung đôi như năm tháng

cuối năm, trên những con đuờng về khuya
ngày mới qua nửa đêm
cuộc sống lại lên tiếng
khi ấy trên chiếc giường một mình em ngủ muộn với niềm cô đơn
anh sẽ chưa đến được cùng em
sẻ chia những gì hờn dỗi chuyện đời thường
anh còn phải chờ kịp đón mùa xuân
về theo ngọn gió đầu ngày
và anh cũng sẽ về với em
với nụ hoa tình yêu ngàn năm tuyệt vời
đặt đầu giường chúng ta
như một bài tình ca miên viễn


TỪ HOÀI TẤN

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2008

Nam Xuân khúc

Ta về trong cõi phương nam Xuân

Ngọn gió hiu hiu chút lạnh xa gần

Người yêu ai đã qua hết mùa đông

Sao không thấy một lời nói năng

Chỉ là những chiều bên nhau im lặng

Tiếng lá nghe khúc ca lìa cành

Chỉ là con mắt tình êm lắng

Lời ngàn câu không tiếng thanh âm


Em ơi hãy mở lòng năm tháng

Xuân về ngập cả phương nam


Từ Hoài Tấn

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2008

Hai bài thơ mới

CUỘC HẸN


Đường thơm lừng dưới gót chân em

Tình đi trong buổi sáng hôm nay

Hò hẹn cà phê vệ đường

Những chiếc ghế chao đảo lời nói em

Không gian ngây ngất hơi thở em

Ngồi gần nhau

Không thể gần hơn

Chỉ cách nhau môt chiếc lá

Và một ngọn gió


Em khẽ nói về những ngày yêu nhau

Bão ngầm dưới đôi môi đỏ

Khúc tình tự vỗ sóng

Thuyền chúng ta đi xa đi xa

Không bến bờ nữa

Em yêu

Cuộc hẹn của những chiếc bong bóng

Vừa thả vào hư không


12 giờ trưa

Mọi người đúng dậy ra về

Chỉ còn lại chiếc lá

Và ngọn gió

Không có hai người





MƠ MÒNG


Thăm thẳm tím chiều sâu không gian

Lưng ngựa dốc cao gồ ghề

Hàng cây im tiếng những cành lá lặng lẽ

Đâu đó trong thoang thoảng điệp khúc về xa

Ở phía bình nguyên người gù lưng cuộc sống

Mơ mộng hát lời bình yên


Chiều vỗ mặt tôi gió của ngàn lau sậy xưa

Ngượng lời vi vu đằm thắm

Thời gian và lối mòn

Về đâu về đâu

Những nhát búa người phu rừng

Đốn cổ thụ quá khứ

Ngắt tạnh cơn mưa miên viễn tăm tối mặt đất

Vầng sáng ngày trở lại lời ao ước hiện thực


Chiều thăm thẳm bước đi thời gian

Thật sự mạnh mẽ niềm mơ ước

Tôi trở lại trong chiều nay

Mới nguyên


Tháng 11 - 2008


Thứ Tư, 12 tháng 11, 2008

Nguyễn Hiến Lê - hai mươi năm, một trăm cuốn sách

Nguyễn Hiến Lê thời trẻ.

Hầu hết, những vị tôi muốn gặp đều tiếp người ngoài Bắc vào với thái độ nhiệt tình, ít nhất cũng lịch sự dù không giấu vẻ lạnh lùng. Duy có hai người khước từ: Thượng toạ Thích Trí Quang và học giả Nguyễn Hiến Lê.

"Văn kỳ thanh"

Tôi gặp nhà sư Thích Trí Quang chủ yếu vì tò mò. Còn Nguyễn Hiến Lê là người mình thực lòng hâm mộ. Vì vậy, chờ một thời gian lâu cho tình hình thành phố thật ổn định, tôi lại đến gõ cửa ngôi nhà có gốc hoàng lan ở đường Kỳ Đồng.

Dường như đối với học giả nổi tiếng này, tôi có chút duyên. Tôi nghe tên ông đã lâu, tuy chưa được tiếp cận trọn vẹn một tác phẩm nào. Ở Hà Nội thỉnh thoảng vẫn gặp ông trên tạp chí Bách khoa được tiếng đứng đắn xuất bản tại Sài Gòn. Bài nào ông viết cũng toát lên sự tự tin về kiến giải, lời văn mạch lạc, giản dị và trong sáng lạ thường.

Tại Đà Nẵng, tôi hay la cà các hiệu sách. Một lần, chị hàng sách thấy khách xem nhiều mua ít, nghĩ chắc anh bộ đội không đủ tiền, liền bê một chồng sách từ trên giá xuống, bảo tôi mang theo mà đọc. Tôi chọn lấy hai cuốn, biết mình còn tiếp tục đi xa về hướng Nam, và cũng không muốn lợi dụng lòng tốt của đồng bào. Hai cuốn sách ấy đều của Nguyễn Hiến Lê. Cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ của nhà sử học Mỹ Will Durant do ông dịch, và bộ Sử ký của Tư Mã Thiên ông cùng làm với Giản Chi.

Tờ tạp chí mới duy nhất in trước ngày 30/4 bày bán tại hiệu sách tôi mua được ở Sài Gòn cũng lại là tờ Bách khoa số cuối cùng (426) ra ngày 20/4/1975. Đây gần như là một đặc san mừng cuốn sách thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê, xuất bản khớp với ngày phát hành tạp chí. Cuộc triển lãm toàn bộ tác phẩm của nhà văn nghe nói định làm ở nhà sách Khai Trí đã không diễn ra vì thời cuộc.

Đến khi say sưa tìm hiểu đồng bằng sông Cửu Long, sưu tầm tài liệu về vùng đất ấy, tôi lại gặp Nguyễn Hiến Lê. Cuốn du khảo Bảy ngày ở Đống Tháp Mười phần nào mảnh mai về độ dày mà ngồn ngộn thông tin, chứa đựng nhiều tư liệu vững chãi. Một cuốn biên khảo hấp dẫn gần như tiểu thuyết. Tôi nhiều lần trích dẫn nó trong các bài viết cuối những năm 1970 về đồng bằng Nam Bộ.

Cuộc gặp đầu tiên

Một con người dong dỏng, mái tóc hoa râm, vẻ mặt đăm chiêu, mặc chiếc sơ mi trắng dài tay rộng và chiếc quần Âu cũng rộng thùng thình, hơi khác thường so với thời trang bó sát người thời ấy. Đó là hình ảnh nhà văn Nguyễn Hiến Lê lưu lại trong tôi khi ông thong thả từ gác hai xuống tiếp khách. Trước khi vào phòng, tôi đã dừng lại một phút ở hành lang ngắm cái tủ sách đóng theo lối cổ xếp đầy sách, toàn tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê.

Tôi trao tặng ông cuốn sách mới in, Đất nước một dải tập hợp những bút ký viết dọc theo chiều đất nước, từ khi giải phóng Quảng Trị ngày 19/3/1975, qua Huế, Đà Nẵng, Đèo Cả, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn đến "những cánh đồng thẳng cánh cò bay", do Nhà xuất bản Thanh Niên vừa ấn hành. Ông nói: "In cũng nhanh nhỉ" trong khi những ngón tay tiếp tục lật các trang và đôi mắt lướt qua các bài viết. Đến trang cuối sách, ông ngẩng đầu hơi lộ vẻ ngạc nhiên: "Mười nghìn bản?".

Đặt sách xuống bàn, ông nói tiếp: "Ở trong Nam này, sách in lần đầu, chẳng bao giờ lên tới con số ấy".

Dường như cuốn sách nhỏ giúp đánh tan bầu không khí phần nào lạnh nhạt ban đầu. Thay những lời đối đáp xã giao, ông mặn mà trả lời những câu tôi hỏi. Tôi kể ông nghe chuyện được biếu sách tại Đà Nẵng, và thật thà nhắc lại, ngay sau ngày mới giải phóng tôi có đến thăm ông, tiếc là gặp lúc ông không được khoẻ. Ông nói: "Tôi mắc bệnh đau bao tử từ lâu, thỉnh thoảng nó lại hành cho một trận". Tôi đáp: "Bệnh của người lao động trí óc. Chắc bác biết, tại bác làm việc quá miệt mài, ngồi tại chỗ, ít đi lại...". Ông cười: "Tôi biết tất cả. Biết mà không sao làm khác. Cái nghiệp của mình là đọc và viết mà...".

Tấm gương sáng về tự học

Đời văn của Nguyễn Hiến Lê là một hiện tượng hiếm thấy ở nước ta. Nghiên cứu, biên khảo, cảo luận, tiểu phẩm, dịch thuật, bình chú..., trong khoảng thời gian hai mươi năm (1955 - 1975), cho ra đời một trăm tác phẩm - trong đó nhiều cuốn ba, bốn tập và rất có giá trị.

Giáo sư Đào Duy Anh đánh giá bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê là "tác phẩm trội nhất từ trước tới nay trong loại của nó". Bộ Đại cương Triết học Trung Quốc viết chung với Giản Chi là một tác phẩm đồ sộ (1.700 trang). Ba tập Lịch sử văn minh Ấn Độ, A Rập, Trung Quốc, dịch của Will Durant, có chú giải và bình luận dày hơn hai ngàn trang.

Bảy, tám năm cuối đời (1975-1984), trở về sống tại đồng bằng sông Cửu Long nơi ba mươi năm trước ông giã từ để "lên Sài Gòn sống bằng cây bút", nhà văn còn viết và dịch thêm hơn hai mươi cuốn nữa. Có những cuốn đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, như khảo luận triết học Trung Hoa trước đời Tần. Chỉ tính riêng về số lượng, đã là một kỳ tích.

Nguyễn Hiến Lê là một tấm gương sáng về tự học. Ra đời làm một kỹ sư công chính, vốn Tây học của ông khá dày dặn. Tuy nhiên, cho dù xuất thân gia đình Nho học, thuở nhỏ có theo đòi đôi ba chữ Hán, và về sau, những kỳ nghỉ hè cũng có về quê học với ông bác, vốn Nho học của ông "trước sau có bốn tháng, mỗi ngày học hai giờ!. Thuộc bốn ngàn từ, quên mất một nửa".

Sau khi đỗ kỹ sư, thời gian chờ việc, ông học chữ Hán. Chiều chiều đến Thư viện Trung ương đường Trường Thi (nay là Thư viện Quốc gia) mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh. Rồi “bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và ngữ nào đoán thường dùng mà chưa biết thì chép lại trong một tập vở, mỗi ngày độ ba, bốn chục từ". Tối hôm đó và sáng hôm sau học thuộc những gì sáng đã ghi chép, chiều lại đến thư viện.

Ông còn mượn cuốn Ngữ pháp tiếng Trung của một tác giả viết bằng tiếng Pháp để học và ghi những điều quan trọng. Với cái vốn ấy, bắt đầu đọc nguyên bản truyện Tàu (Tam quốc chí), lúc đầu chậm sau nhanh, càng quen càng thích...

Đừng cầu danh, danh sẽ tới

Thời học sinh, ông cũng có học tiếng Anh, vừa đủ để vượt qua cửa ải môn ngoại ngữ kỳ thi tú tài. Chính sách của nhà cầm quyền Pháp thời trước, dù không nói ra, không muốn học sinh Việt Nam biết thêm một thứ gì khác ngoài ngôn ngữ và văn chương Pháp. Để có thể làm việc nghiên cứu, biên dịch, trước tác, Nguyễn Hiến Lê tự học thêm Anh ngữ, khá tới mức được một trường tư thục mời dạy Anh văn. Ông quả quyết: "Muốn kiểm soát sự hiểu biết của mình (về ngoại ngữ), muốn hiểu cho rõ thì phải dịch ra tiếng Việt".

Trau dồi ngoại ngữ, ông không coi đó chỉ là phương tiện làm việc mà còn là một cửa ngõ đi tiếp vào biển học không bờ. Cuối đời, sau khi đã tạo lập nên một sự nghiệp đáng nể vì, Nguyễn Hiến Lê khẳng định: "Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ Học và Viết... Chép về đời văn của tôi, phải nhắc trước hết đến việc tự học".

Ông có lời khuyên các bạn trẻ, thoạt nghe như nghịch lý mà rất nghiêm trang: "Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết sách về vấn đề ấy... Viết sách tức là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ mới đọc qua chứ không phải học". Một thái độ như vậy có phần nào chưa thật trang nghiêm đối với công việc trước tác chăng? Dường như thấy trước phản xạ của độc giả, ông trấn an ngay: "Khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải để cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới. Cầu nó, nó sẽ trốn...".


Triển lãm sách của Nguyễn Hiến Lê tại Sài Gòn năm 1959.

Đọc - ghi và viết

Đọc và viết là nếp sống hằng ngày của Nguyễn Hiến Lê. Buổi sáng, sau điểm tâm, công việc mở đầu ngày làm việc là đọc chứ chưa phải viết. Đọc hết nửa buổi, mới ngồi vào bàn. Chiều cũng vậy. Còn cả buổi tối chỉ dành cho sự đọc. Sách nào mua về cũng đọc, dù chán cũng ráng mà đọc, để biết qua nội dung "trừ loại chưởng của Kim Dung".

Những nơi đọc sách luôn để sẵn cây bút chì và cục gôm (tẩy). Đọc thấy chỗ nào đáng chú ý, cần xem lại hoặc ghi chép thì đánh dấu vào trang. Đọc xong chương nào, giở lại xem những đoạn có đánh dấu, ghi ngay những điều cần nhớ hoặc suy nghĩ, bình luận của mình.

Về mặt này, ông có điểm giống văn hào Ernest Hemingway: "Điều lớn lao nhất là sống, là làm công việc của mình - Hemingway nói - là nhìn, học và hiểu. Rồi lúc ấy mới viết, sau khi đã biết được một điều gì đấy, sau chứ không phải trước".

Những người cầm bút đều biết, viết không phải lúc nào cũng là một thú vui. Đối với Nguyễn Hiến Lê, "dù không có hứng cũng đúng giờ ngồi vào bàn viết, viết bừa vài câu, nửa trang, rồi hứng tự nhiên tới". Có thấy cách làm việc của ông, mới hiểu tại sao ông trước tác được nhiều như vậy. Nhà thơ Quách Tấn uyên thâm cổ văn từng ngạc nhiên: Riêng việc Nguyễn Hiến Lê đọc sách cũng đã khó có người bì kịp, chứ đừng nói đọc rồi còn viết.

Một đặc điểm nổi bật trong phương pháp làm việc của Nguyễn Hiến Lê là ghi chép. Ông ghi cẩn thận, không mệt mỏi, thường là tại chỗ qua mỗi chuyến công vụ khi còn làm công chức (mà ông gọi là "đi kinh lý") hoặc những lần chuyển dịch vì việc riêng. Từ khi bắt đầu cầm bút, ông đã có thiên hướng viết du ký, đi đến đâu ông cũng chịu khó ghi chép cảnh đẹp, tục lạ, cổ tích... Trở về nhà, ghi ngay lại cảm tưởng cả chuyến đi. Văn phong của ông lưu loát.

Hãy đọc lại một đoạn ông viết bảy mươi năm trước về cái ga xép Lăng Cô, nay là điểm du lịch khởi sắc ở miền Trung, nhất là từ khi hoàn thành đường hầm Hải Vân: "... Từ trên cao nhìn xuống, nó y hệt một bức tranh thuỷ mặc của Trung Hoa. Một cù lao nhỏ ở gần bờ, bằng phẳng, trồng toàn dương, có chùa có nhà, có ghe đánh cá và lưới đánh cá phất phơ dưới gió. Một cây cầu dài nối với bờ. Những buổi chiều mây ngũ sắc in trên mặt nước, những chiếc ghe giương buồm ra khơi, hay những đêm trăng sóng bạc nhấp nhô vạch một đường sáng tới một đảo nào ở chân trời mù mịt, ngồi ở góc đường đầu cầu này mà ngắm trời nước...".

Sách đã in ra, ông vẫn kiếm tiếp tài liệu để bổ sung khi tái bản. Như cuốn Đông kinh nghĩa thục (xuất bản lần đầu 1956), lần tái bản bổ sung ba mươi trang (1968), in lần thứ ba thêm hai mươi trang nữa (1974).

Phan Quang

* Các tít nhỏ do Tòa soạn đặt

Nguồn: http://dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/guyen-Hien-Le-

hai-muoi-nam-mot-tram-cuon-sach/2008/11/258080.vip

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2008

Đầm Chuồn đêm ngàn sao...

Đầm Chuồn không xa lắm, bởi chỉ mười cây số đi xe máy từ trung tâm thành phố Huế là đến nơi. Trên đường đi, tiện thể ghé qua làng Chuồn (xã Phú An, Phú Vang, Huế) đong vài xị “đệ nhất danh tửu”, chọn một vài đòn bánh tét đặc sản lúc nào cũng có ở chợ làng này.

Bình minh trên đầm Chuồn

Ra đến bến đò Đồng Miệu, mấy anh bạn lái thuyền cặp đôi hai chiếc ghe nan, đủ chỗ cho tám người, gắn máy đuôi tôm hẵn hòi. Khuôn mặt khách háo hức, bởi trừ hai anh bạn thuyền “thổ địa”, những người còn lại đều lần đầu được rong chơi giữa vùng đầm phá bao la này.

Con thuyền phăng phăng lướt sóng. Anh bạn lái thuyền khéo léo điều khiển thuyền luồn lách giữa đám “nò” sáo ken dày như bàn cờ trên mặt phá, lúc rẽ phải, lúc rẽ trái, chuyển hướng điệu nghệ như một tay lái “lụa” điều khiển xe hơi giữa thành phố đông đúc với nhiều ngã ba, ngã tư...

Nhà chồ của ngư dân

Nửa giờ sau, thuyền đến nơi và cặp vào một nhà “chồ” (nhà tạm trên sông). Hai ông thổ địa bảo, việc đầu tiên thú vị nhất là đi giở nò (đổ nò). Chiếc nò hình trụ, được làm bằng tre đan, đặt ở đầu chóp hình chữ V của các tấm sáo trên mặt phá với độ sâu chừng hai mét. Anh bạn thuyền khỏe mạnh, bặm môi kéo nò lên, tôm cá thi nhau quẫy đạp. Mọi người háo hức, lăng xăng chuẩn bị cho bữa tiệc đầy hứa hẹn.

Rượu làng Chuồn được rót ra, mùi ngất ngây của loại “đệ nhất danh tửu” này quyện với mùi cá tươi thoang thoảng hình như đã kích thích bụng dạ mọi người đói cồn cào. Vừa nhấm nháp thưởng thức, vừa xuýt xoa khen ngon, anh bạn quả quyết rằng, ăn con cá trên suốt dọc chiều dài đất nước, không ở đâu ngon bằng cá trên phá Tam Giang, bởi nó có mùi... đầm phá. Một anh khác giải thích thêm, đó là nhờ mùi rong tảo đặc trưng, chỉ có ở vùng nước lợ... Mùi của biển, mùi rong tảo đầm phá vừa quen vừa lạ, phảng phất đâu đây. Đêm khuya, nước trời lồng lộng, không còn xác định được phương hướng nữa.

Thuyền đi giữa nò sáo

“Trăng lên!”. Ai đó reo. Mảnh trăng thượng tuần được mắc sẵn trên bầu trời, ánh bạc lấp lóa trên mặt nước. Phong cảnh đẹp lạ lùng. Không khí loãng ra. Mấy xị rượu và bánh tét làng Chuồn đã đưa mọi người vào trạng thái lâng lâng rồi nhanh chóng rơi vào giấc ngủ sâu.

Gió biển mơn man nhè nhẹ, mang theo cảm giác se lạnh, tưởng chừng như mùa hè oi bức đã rời xa. Giữa vùng đầm phá mênh mông bốn bề sóng nước, đêm trên nhà chồ thoáng mát, hư ảo trong một khung cảnh khá lạ lùng, bỗng quên mùa hè hanh hao miền Trung.

Chiều trên phá Tam Giang.

Người Huế gọi đêm ngủ nhà chồ trên phá Tam Giang là đi ngủ “khách sạn nghìn sao”. Ranh giới giữa trời và nước không còn. Chỉ tiếng sóng vỗ về mạn thuyền nghe rì rào, và thi thoảng có tiếng quẫy của con cá hanh, cá kình.

Tam Giang nay đã hòa vào dòng chảy của đời người...

Vũ Hào (Phụ Nữ Online)

http://www.hue.vnn.vn/dulich/diemthamquan/2008/11/302279/