Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012
Ngày 20 tháng 3
20/3/1966 - tập thơ viết tay Cơn mê 66 - bút danh mới ra đời : Từ Hoài Tấn - năm vừa 17 tuổi
Trước đó, đã từng ký rất nhiều bút hiệu để đăng báo. Tôi nhớ những bút danh tôi đã dùng vào thời ký mới viết: Luân Lưu, Thảo Nguyên, Phan Kim Thoa, Cao Gioãn Nghiệm ... Những tờ báo của thời đó : Tiểu thuyết thứ Năm, Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Tiền Phong ...
(Tất cả bản thảo, báo chí và sách vở đã thất tán từ ngày 30/4/1975)
Đã 46 năm sử dụng bút danh Từ Hoài Tấn - cũng là một thoáng tình cờ nghĩ ra rồi giữ lại cho đến bây giờ. Chẳng có ý nghĩa nào cả, ngoài trừ bạn bè đùa vui là từ hoài tấn tới ...
Năm 1966, chuẩn bị thi Tú Tài I. Làm báo viết tay: Cuồng Biển với Quảng, Tụng ...
Những ngày hè ở làng, căn nhà của cha mẹ dưới quê, ở một mình.
Ngày 20/3/1966
Cho đến bây giờ ...
Bao nhiêu là kỷ niệm
Di sản thi ca trên kiến trúc cung đình Huế
Từ đầu thập niên 80, Giáo sư Huỳnh Minh Đức đã cùng các học trò của mình từ thành phố Hồ Chí Minh ra Huế ghi chép và dịch những bài thơ, câu thơ chữ Hán khắc trên nóc mái, trên các ô hộc trang trí của lầu Ngọ Môn, điện Thái Hòa, và các nghi môn. Sau 13 năm miệt mài với công việc này, năm 1994 Giáo sư Huỳnh Minh Đức đã cho ra mắt cuốn sách “Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hoà (NXB Trẻ-1994)”. Đó là công trình đầu tiên dịch và chú giải khoảng 300 bài thơ, các bức đại tự, và các dòng chữ trên hai nghi môn nằm trên trục Bắc - Nam của Hoàng thành Huế, từ Ngọ Môn đến điện Thái Hoà; một việc làm rất có ý nghĩa trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Huế.

Xét về vị trí, ý nghĩa, chức năng sử dụng, điện Thái Hoà là công trình kiến trúc quan trọng nhất trong Hoàng thành Huế. Đây là nơi đặt ngai vua; nơi triều đình tổ chức đại triều và các đại lễ quan trọng như: lễ Vạn thọ, lễ Tứ tuần, Ngũ tuần đại khánh tiết, lễ Hưng quốc khánh niệm… Ngọ Môn là cửa chính giữa mặt trước Hoàng thành, tên cũ là Nam Khuyết Đài, dành cho vua, và đoàn Ngự đạo, khi ra – vào Hoàng thành. Ngọ Môn còn có một số chức năng khác. Bên trên là lầu Ngũ Phụng, được xem như một lễ đài tổ chức một số sự kiện quan trọng như: lễ duyệt binh, lễ Truyền lô (xướng danh Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban sóc. v.v…
Giáo sư Huỳnh Minh Đức đánh giá thơ trên Ngọ Môn và trong điện Thái Hoà là tinh hoa văn hoá Việt Nam của thế kỷ 19 mà tác giả là các vị vua, và các Hoàng thân, Nho thần triều Nguyễn. Để dịch nghĩa, dịch thơ và chú giải nội dung tư tưởng ông đã huy động vốn kiến thức về văn hóa phương Đông nói chung, văn hoá Trung Hoa nói riêng, bao gồm kinh dịch, kinh thư, điển tích, học thuyết, triết lý của các Nho gia, và truyền thuyết về lịch sử, tư tưởng.

Từ kinh dịch, kinh điển, và truyền thuyết lịch sử, Giáo sư Huỳnh Minh Đức cho rằng tổng thể kiến trúc từ cửa Ngọ Môn đến Điện Thái Hòa thể hiện uy quyền của nhà vua; là một loạt công trình kiến trúc lộng lẫy như muốn vươn đến trời xanh, rồi lại xuống thấp để tìm lại sự hài hòa giữa đất, trời, và con người. Sự hài hòa đó được kinh dịch gọi là Thái Hòa. Đó là sự sáng tạo của các vị vua đầu triều Nguyễn trong quy hoạch và xây dựng quần thể kiến trúc Hoàng thành Huế.
Ở nội thất, ngoại thất tiền điện và hậu điện Thái Hoà, trên bờ nóc, cổ diêm, liên ba, đều được trang trí theo mô tip nhất thi nhất họa (một bài thơ, một họa tiết) với hai chất liệu chủ yếu là chữ viết trên nền Pháp lam (ở ngoại thất) và chạm khắc trên gỗ - sơn son thếp vàng (ở nội thất). Chữ Hán trên điện Thái Hoà được khắc ghi trên 297 ô hộc. Riêng thơ hiện còn khoảng 200 bài, nghiên cứu kỹ sẽ thấy đó là một chỉnh thể văn bản nhằm thể hiện nội dung tư tưởng và khát vọng của một triều đại.

Xin dẫn một bài nhằm làm sáng tỏ: Văn hiến thiên niên quốc/Xa thư vạn lý đồ/Hồng Bàng khai tịch hậu/Nam phục nhất Đường Ngu. Đây là bài Ngự chế của vua Minh Mạng với nghĩa: Đất nước đã hàng ngàn năm văn hiến. Xa thư (xe, sách) lấy từ “xa đồng quỹ” (xe cùng một cỗ bánh) và “thư đồng văn” (sách viết một thứ chữ) với hàm ý đã thống nhất được đất nước rộng lớn. Kể từ thuở Hồng Bàng dựng nước đến nay nước Đại Nam (ở triều ta) đã trở thành một cõi thanh bình, thịnh trị như thời Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.
Thơ trên điện Thái Hoà điển tích Xa thư được sử dụng ở nhiều bài để nhấn mạnh niềm tự hào về công cuộc thống nhất đất nước, cũng như sự ưu việt của chế độ chính trị. Xin dẫn thêm một bài: Xa thư quy nhất thống/Thịnh trị quản Hồng Bàng/Việt tộ chính đương dương/Cư trung ngưỡng thánh hoàng (Giang sơn nay nhất thống/Thịnh trị sánh Hồng Bàng/Nước Việt dương toàn thịnh/Thần dân ngưỡng thánh hoàng).
Điển tích Nghiêu Thuấn được sử dụng với tần suất nhiều hơn như các trường hợp: Hóa nhật quang Nghiêu điện/Huân phong độ Thuấn cầm (Mặt trời làm sáng ngôi điện của vua Nghiêu/Khúc Nam Phong đã đưa tiếng đàn cầm của vua Thuấn); Đại đạo đăng Nghiêu Thuấn/Tân phong quảng Lạc Hùng (Đạo lớn xin theo mô hình thời vua Nghiêu vua Thuấn/Chế độ mới mở rộng quy mô thời các vua Hùng); Cửu cù ca Thuấn đán/Tứ hải vọng Nghiêu vân (Chín nẻo ca ngợi ngày của vua Thuấn/Bốn biển ngắm cảnh mây của vua Nghiêu.v.v…
Khi phân tích ý nghĩa của công trình điện Thái Hoà, tác giả Phan Thuận An dẫn bài: Đại đức phù càn tạo/Thuần phong vãn thái hoà/Nghiêu cù thuận đế tắc/Xứ xứ dật âu ca (Đức lớn tày tạo hoá/Thuần phong giữ thái hoà/Thời Nghiêu theo phép nước/Khắp chốn dậy lời ca). Đây là điển tích dễ hiểu. Nghiêu - Thuấn là hai vị minh quân trong truyền thuyết lịch sử Trung Quốc. Vua Minh Mạng lấy điển tích này để tỏ rõ khát vọng đất nước có vua sáng tôi hiền, chính sự tốt đẹp. Thời huy hoàng của triều Lê, Nguyễn Trãi cũng đã từng bày tỏ khát vọng Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn/Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu.



Từ cửa Ngọ Môn đi vào điện Thái Hoà, ở hai đầu cầu Trung Đạo có hai Nghi môn (còn có tên gọi khác là Phương môn). Hai mặt trước sau của mỗi Nghi môn đều có bốn chữ viết trên nền Pháp lam. Hai mặt hướng nam (từ ngoài Ngọ Môn nhìn vào) là hai câu Chính trực đẳng bình và Chính đại quang minh. Hai mặt hướng bắc (trong điện Thái Hoà nhìn ra) là hai câu Cư nhân do nghĩa và Trung hoà vị dục. Nội dung bốn câu trên hai Nghi môn này toát lên tư tưởng chỉ đạo, phương hướng, đường lối cai trị của triều đình nhà Nguyễn.

Chính trực đẳng bình và Chính đại quang minh mang ý nghĩa mà Mạnh Tử gọi là ngoại vương. Trong Kinh Thư, Kinh Thi đều có viết về chính trực đẳng bình, tuân vương chi nghĩa, tuân vương chi đạo, vương đạo chính trực… Vua Minh Mạng cho đưa bốn chữ này lên Nghi môn trước điện Thái Hoà là đưa ra tuyên ngôn về con đường chính trị của triều đại, và của bản thân nhà vua. Đó là thực hành chính sự ngay thẳng, rõ ràng. Bậc quân vương tuân theo điều nghĩa, không thiên lệch.

Cư nhân do nghĩa và Trung hoà vị dục dựa theo sách Trung dung, Kinh dịch, Mạnh Tử… thuộc nội thánh, có quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Trung Quốc từ triết lý nhân của Khổng Tử đến triết lý nhân nghĩa của Mạnh Tử. Nhân là đức tính, là tố chất cần phải có để làm người. Thuyết giảng của Khổng Tử về Đạo Nhân tập trung vào vấn đề tu dưỡng nhân cách để làm người. Mạnh Tử thì ứng dụng Đạo Nhân của Khổng Tử để thực hành trong chính trị và quan hệ xã hội; phát triển tư tưởng nhân của Khổng Tử thành tư tưởng nhân nghĩa.

Và chính Mạnh Tử đã nhấn mạnh: Quân nhân, mạc bất nhân; Quân nghĩa, mạc bất nghĩa - Nếu nhà vua ở theo nhân thì không ai không ở theo nhân; Nếu nhà vua đi theo nghĩa thì không ai không đi theo nghĩa. Nhân nghĩa là con đường thực hành nhân tính. Khẩu hiệu Cư nhân do nghĩa trên Nghi môn như là tấm gương soi hàng ngày của vua quan nhà Nguyễn. Trung hoà vị dục cũng dựa theo sách Trung dung. Hoà dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã trí; Trung hoà, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên - Thực hiện được đầy đủ lẽ trung hoà thì trời đất được an vị, vạn vật được sinh sôi nẩy nở.

Theo TS.Phan Thanh Hải, PGĐ phụ trách Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế, điểm độc đáo riêng biệt đối với thế giới là ít có nơi nào có thơ được khắc họa trên di tích như Huế. Toàn bộ các bài thơ được cha ông xưa tuyển chọn kỹ từ các áng văn thơ tiêu biểu nhất trong tinh hoa thi ca của văn sĩ Việt Nam. Điểm khác biệt nữa là ngay tại các nơi còn lại nhiều di tích như Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc và các triều đại trước nhà Nguyễn cũng không có kiểu khắc thơ trên cung điện, lăng tẩm của vua như ở Huế.
Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị mỹ thuật, giá trị tư tưởng, giá trị văn học của bộ tuyển thơ đồ sộ - ước tính có khoảng 4.000 bài thơ lưu dấu trên các công trình kiến trúc cung đình triều Nguyễn - Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế đang tiến hành định dạng các văn tự Hán Nôm trên các ô hộc trang trí. Công việc số hoá đã hoàn thành ở Ngọ Môn, điện Thái Hoà, lăng Đồng Khánh. Ở Điện Long An có khoảng 400 ô hộc trang trí, đã số hoá được khoảng 50%.

Công việc, ghi chép, số hoá những bài thơ và các hoạ tiết trang trí đòi hỏi khá nhiều thời gian do có nhiều chữ đã mờ theo thời gian, có bài thơ bị mất chữ, có chữ bị mất nét. Việc phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, sắp xếp các câu thơ được khắc riêng lẻ trên từng ô hộc để ghép lại thành những bài hoàn chỉnh cũng không hề đơn giản. Nếu suôn sẻ phải mất bốn năm công việc này mới có thể hoàn tất.
Việc làm này rất bổ ích và thiết thực đối với công cuộc trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc cung đình cũng như phát huy những giá trị văn hoá tinh thần của tiền nhân để lại. Sau khi dự án hoàn thành di sản thơ ca trong cung điện triều Nguyễn sẽ được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận “Di sản ký ức thế giới”.

Các câu thơ viết trên pháp lam ở trên nghi môn chói sáng dưới ánh mặt trời

Nguồn: http://www.dantri.com.vn
Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012
Thận Nhiên : NHỮNG CHUYẾN QUA SÔNG VÀ NHỮNG PHẬN NGƯỜI
Những năm đầu thập niên 80 tôi thường đi miền Tây, hầu như tuần nào cũng một hai chuyến. Thời đó xe cộ còn khó khăn lắm, và cả thủ tục hành chánh nữa; muốn đi ra khỏi nơi cư trú thì phải có giấy phép đi đường mới có thể mua được vé và đăng ký tạm trú ở nơi đến. Tôi làm hợp đồng khâu phát hành cho một tờ báo ở Sài Gòn nên được cấp giấy. Công việc của tôi là nhận khoảng 1000 tờ báo ở toà soạn, rồi mang về phân phối lại cho các cơ quan và sạp báo ở các tỉnh bán lẻ. Các tỉnh ở miền Tây là nơi tôi thường chọn để đi, thường thì Cần Thơ, Mỹ Tho, Bạc Liêu... Thời đó những chiếc cầu Mỹ Thuận, Cần Thơ chưa có, để qua sông chỉ có thể đi bằng phà. Chuyến nào tôi cũng phải qua ít nhất là một chuyến phà Mỹ Thuận, hay hai, ba chuyến, như phà Cần Thơ, phà Vàm Cống. Người miền Tây thường không gọi là phà, mà gọi là bắc.
Vì sao người ta gọi con tàu chở khách sang sông là phà hay là bắc? Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì:
Những chuyến qua sông của tôi quá nhiều. Về sau, ký ức không níu giữ được mấy, tôi không còn nhớ được chi tiết của từng chuyến đi, chỉ đọng lại những hình ảnh người hàng rong rao bán xô bồ, xe đò sắp hàng dài chờ chuyến, mưa mịt mùng trên con sông rộng, những chồng báo nặng và bộ đồ ướt lèm nhèm trên người, mùi khai nồng của nước tiểu... Và có lần, một xác người trần truồng, mất đầu, nằm sấp, nhìn thoáng qua không biết là nam hay nữ, trôi bập bềnh rồi tấp vào cạnh bên chân phà. Người ta bảo cái xác nổi lên từ trưa, bấy giờ đã xế chiều. Những người đứng trên phà chốc chốc lại lấy cây sào dài cố đẩy ra, nhưng nó giạt ra rồi lại tấp vào như thể không muốn rời bỏ cái đám nhân quần từng là đồng loại. Vậy đó, tôi chỉ nhớ toàn những hình ảnh tồi tệ như vậy, nhưng cảm xúc của một thời trai trẻ thì cứ bám chặt vào ký ức.
Mấy mươi năm sau, lần lượt cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ được xây lên hoành tráng và tiện lợi, có khi lòng tôi nổi cơn sến, lại tự hỏi người ta mang những chiếc phà này đi đâu rồi, và những người sống nhờ vào chúng cũng đã ra sao.
Tôi đọc được trên mạng những bài thơ có tứ nói về những lần thi sĩ qua sông, thường là những chiều, hay đêm, hiu hắt trong thời chiến. Mà ngộ, theo những gì tôi đọc được, thì có sự trùng hợp là có ít nhất ba nhà thơ của miền Nam cùng viết về một không gian: bắc Vàm Cống; gần như cùng một thời điểm trong ngày: hai bài vào buổi đêm và một bài vào buổi chiều sập soạng; cùng một tâm cảnh: thân phận con người nhỏ nhoi trước sông nước và trước thời gian; cùng một thời điểm tàn khốc của lịch sử: thời chiến; cùng chút hơi rượu chạnh lòng giang hồ nhưng ngang tàng và bi phẫn: tuổi trẻ. Họ là các nhà thơ Tô Thùy Yên, Cao Thoại Châu và Huy Văn.
Tò mò, tôi tìm trên google về địa danh “bắc Vàm Cống” thì có những thông tin như sau:
Tôi ghi lại dưới đây những bài thơ của thời chinh chiến.
tôi đi xuống Lục Tỉnh
đã đôi lần nhầm lẫn
tôi châm điếu thuốc nữa
nước tách nguồn về biển
Tô Thùy Yên
ĐÊM QUA BẮC VÀM CỐNG
Lại hứng của trời ngọn gió sông mát rượi
Người đàn ông mù và con chó tinh khôn
Hàng quán bên này bên kia rất khác
Chiếc phà chở những lòng đời nặng lắm
Qua Vàm Cống nhớ “Phong Kiều dạ bạc”
Buồn và cũng giận thời gian
Cao Thoại Châu
CHIỀU QUA BẮC VÀM CỐNG
Chiều qua sông thoáng buồn se sắt
Ta qua sông. Thì đang qua sông!
Con đò đẩy ngược để thả xuôi
Đường ra mặt trận vùng châu thổ
Tuổi trẻ thở dài vì chinh chiến
Huy Văn
Bài viết lan man này lẽ ra ngừng ở đây, nhưng không dưng tôi còn muốn thêm một đoạn, một bài thơ nữa, cũng về bến, bến đò; nhưng tâm tình và hoàn cảnh của nó thì khác, ở một thời đoạn khác: thời bình.
Chiều qua bến đò ngang
Cô bé hát
Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông
Chiều rây rây những bụi mưa êm
Đinh Trầm Ca
Rồi lại nhớ có lần Võ Quốc Linh đọc cho nghe hai câu lục bát mênh mang, buồn và đẹp, mà không nhớ là của ai:
Lang thang trong vạn hồn chiều
Nghe mùa gãy đổ dưới nhiều bến sông
Thơ của ai vậy Linh? Ừ, có khi lẩn thẩn vậy đó, những bến sông và những phận người!
SG, 07/03/2012
tienve.org
Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012
Thanh Tâm Tuyền (15.03.1936 – 22.03.2006) : Sống, Viết
THANH TÂM TUYỀN
(1936-2006)
ÓNG ÁNH HƯ NGỤY
Mỗi phen cầm bút viết về văn chương — làm một thứ văn chương trên văn chương — tôi hiểu rõ mình đang sống thời buổi khủng hoảng. Văn chương nhất thiết là hồn nhiên, ngây thơ hay không, tôi chẳng rõ. Nhưng đối với tôi khi nó cần trông thấy nó qua phản ánh của nó, không thể phủ nhận là nó đang truỵ lạc, sa đoạ. Nhất là buồn bã.
Mỗi phen, tôi đều lập lại với tôi khẩu hiệu: Enfin, j’écris. Enfin, đó là tín hiệu của người bạn thân phát ra giúp tôi nhận biết anh ta bắt đầu say. Trong cuộc rượu của chúng tôi đã tới một thời điểm gay cấn, hãy nhận Enfin, báo động cho bạn bè, những kẻ ngồi chung cuộc, rằng: bất ổn, bất ổn, chán quá, chán quá, tôi quyết định đẩy cơn say đến cùng, đánh đắm mình vào mông lung, mù mờ, hỗn độn. Như Hamlet kêu: “The time is out of joint” (Thời gian đã ly tán). Như Hamlet, chẳng còn hiểu đời sống, hươi gươm đâm chết nàng Ophélia. Cơn khùng điên óng ánh những mảnh minh trí vỡ nát, những mảnh sao băng miệt mài, không một giây đốn ngộ, từ khước đốn ngộ — chẳng thể ôm ấp đời sống mênh mông vô hạn. Đó định mệnh của văn chương trên văn chương, nỗ lực soi rọi mù mờ bằng những ánh mù mờ, nỗ lực kết tập thời ly tán bằng những đun đẩy ly tán.
Enfin, j’écris. Enfin, je crie.
Thảm thiết chưa, cũng lố bịch chưa, văn chương kêu la tắt tiếng trên văn chương. Văn chương soi bóng làm bộ làm tịch trước văn chương. Mỗi phen tôi đều nổi da gà, nhờm tởm, thấy mình đang đóng vai chủ chứa trong tấn kịch Bao Lơn (Le Balcon) của Genet. Trong nhà chứa của mụ này, mỗi phòng được bài trí một kiểu dành riêng cho một vai nhất định mà khách chuộng đóng — tu sĩ, tướng lãnh, quan toà, cách mạng — với đầy đủ y trang và các thứ phụ tùng cần thiết để đóng trò — mọi trò điển hình của dục tính thác loạn — nữ nhân là phụ tùng thiết yếu, nhưng phòng nào cũng có gắn gương để cho các đương sự có thể nhìn ngắm mà sửa bộ.
Ngôi nhà chứa ở trong một thành phố dấy loạn. Và trên bao lơn của nhà chứa, khách làng chơi và gái giang hồ dẹp loạn.
LE POÈTE MAUDIT
“Tôi viết chỉ bởi lẽ tôi không thể nào làm khác.” (Je n’écris que parce que je ne puis faire autrement) và “Đáng nguyền rủa thay con tim không biết đường tự chế.” (Maudit soit le coeur qui ne sait se contenir — "Penthésilée"). Đó là những lời than thở của Kleist, đối cực của Goethe.
Tôi tự hỏi còn không cái tông giống thuần khiết kia? Gương mặt ngửng cao dưới bầu trời giông bão, trán hứng nhận sấm sét và cất giọng gào ca một điệp khúc hân hoan thịnh nộ của con người, ganh đua cùng trời đất quỷ thần. Quả nhiên là cái tông giống đáng nguyền rủa, dập vùi. Đáng nguyền rủa cái hào quang của tuyệt vọng, đáng dập vùi cơn đam mê khốn cùng của một tông giống.
Keats hát: “Hạnh phúc thay ở trần gian này lại còn có nấm mồ (Je suis heureux qu’il y ait ici bas une chose telle que la tombe).
Nhưng còn không, còn không những vầng trán hiền lộng mênh mang của một cõi ngoài, những cửa miệng há mở cho nhảy thoát con tim đỏ ối, những đôi mắt căng banh dập dồn ánh lửa uy linh một đời khác? Còn không một tấm lòng trinh bạch? Còn không chút thơ ngây dại dột, chẳng làm tuồng?
Nhận chịu bị nguyền rủa (không phải được bị nguyền rủa) - chẳng hiểu sao, bởi không thể khác — như con chim thất lạc giữa mùa đông băng giá, cất tiếng kêu thảm thiết gọi nắng, gọi hoa và đợi chết? Chim bị nguyền rủa, chẳng nguyền rủa. Còn không? Còn không?
Dường như sau buổi tân hôn bi tráng của Kleist, tắm đượm niềm hoan lạc phi thường — Tử thần lẫm liệt uy nghi đã bị Kleist nặn thành tượng trưng bày — cái tông giống kia không thể tồn tại bởi không thể vượt hơn. Hãy nghe Kleist viết thư từ biệt cô em gái:
“Que le ciel t’accorde une mort qui ressemble, ne fûtce qu’à moitié, à la mienne en joie et en sénérité; c’est le voeu le plus sincère et le plus tendre que je puisse former pour toi.”
(Cầu trời ban cho em một cái chết hân hoan và thanh tịnh giống như cái chết của anh, bằng phân nửa thôi cũng được; đó là lời cầu chúc chân thành nhất, âu yếm nhất mà anh dành cho em.)
Chàng thơ ấy bình thản nhìn lần cuối mớ bản thảo của chàng, một quyển tiểu thuyết đã hoàn tất, hai vở kịch - tất cả giông tố mê mải của hồn chàng đó — nhưng bấy giờ lặng thinh mọi tham vọng — không ai màng những của nợ ấy và chính chàng cũng chẳng còn thiết (... J’ai cru savoir. Je savais toujours. Je sais peut-être mais personne ne veut ce secret et je n’en veux pas moi-même. Tôi từng tưởng biết. Tôi hằng vẫn biết. Bây giờ có lẽ tôi biết nhưng không một ai màng đến điều thầm kín ấy và ngay chính tôi, tôi cũng chẳng thiết — Camus — Trở Lại Tipasa). Và chàng thiêu huỷ đống giấy lộn kia (như Gogol, Kafka). Chàng viết gửi nhà chức trách bản tường thuật diễn tiến cuộc tự sát, mở đầu bằng câu: “Chúng tôi nằm chết trên con lộ...”
Kleist với một người đàn bà xấu xí bệnh hoạn và cũng cô đơn như chàng, thoả thuận chết cùng chàng, hớn hở như đôi uyên ương cùng rủ nhau đến Wannsee. Họ ngồi uống cà phê giữa trời. Người ta còn nghe họ cười ròn tan, đi khuất vào đồng cỏ. Đúng giờ đã ghi, hai phát súng nổ. Kleist đã kề súng bắn vào trái tim của người đàn bà đồng hội đồng thuyền rồi ngậm họng súng trong miệng mình nổ phát thứ nhì. Tay chàng không hề run rẩy.
“Tôi đã làm tất cả những gì thuộc quyền năng của một người... Tôi đã thử thách đến điều bất khả. Tôi đã mang đặt thời vận cuối cùng của đời tôi trong một tiếng bạc. Mấy con xúc xắc định mệnh đã thẩy lăn, tôi cố tìm hiểu... Tôi thua. (J’ai fait tout ce qui est dans le pouvoir d’un homme... J’ai tenté l’impossible. J’ai mis ma dernière chance dans un coup de dés. Les dés fatals ont roulé, j’essaie de comprendre... J’ai perdu!) — “Penthésilée”.
Tôi thua! Tôi thua! Và “tôi nghĩ tôi có quyền chết”.
Sau Kleist, không còn poète maudit. Mọi người đều bị nguyền rủa, đều được nguyền rủa, đều cùng nguyền rủa, đều tự nguyền rủa. Khốn khổ, thảm hại thay tuồng nguyền rủa. Tuồng văn chương truỵ lạc đấy thôi. Coi kìa Dosoievski đeo thánh giá, đọc diễn văn dưới chân tượng Pouchkine. Henri Miller khoác áo mô phạm đứng trên bục giảng đường thuyết pháp. Sartre từ khước Nobel, xuống đường tranh đấu, tự đoạ mình trong tự do... Nhiều vô xiết kể. Tất cả những người ấy, hết thảy những người — ít nhiều chăn nuôi ảo tưởng của văn chương nghĩa lý đều đã mang giấc mộng tột cùng / khốn cùng: trở thành maudit, đều từng đóng các tuồng tích và đều trở thành hề. Không chừa ai.
Đã tuyệt giống poète maudit. Còn chăng là những chàng thơ bị ám toán, “triệu triệu chúa Kytô có đôi mắt u sầu và hiền hậu” (O, million de Christ aux yeux sombres et doux) (Rimbaud).
GIẢI ĐỀ: CHỮ TRINH CÒN MỘT CHÚT NÀY
Bạn ta — “Xuống núi” không tìm gặp bạn, nghĩ cũng tệ. Thật thì chẳng có lý do nào ngăn trở hết. Mỗi lần đáp xuống thành phố, vẫn chỉ ngần ấy thói quen: Ngồi quán, gặp vài khuôn mặt thân thuộc và ngày dứt trong khuya ngất ngưởng. Thế thôi, không gì khác. Ta chẳng thích mất những thói quen.
Xuống, nghe bạn ta lại phải dấn thân vào trường “gió tanh mưa máu”, còn mắc nạn nữa. Hơi buồn. Biết làm sao được, phải không? Đúng là “ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.” Cái nhà ông Nguyễn Du, lâu lâu sực nhớ ông, bắt giật nẩy mình. Ngày xửa, ngày xưa, ta đã cứ thắc mắc hoài về mấy câu nói của nàng Kiều khi tái ngộ chàng Kim... Chữ trinh còn một chút này, chẳng cầm cho vững lại dày cho tan. Giờ mới thấm thía, tội cho nàng Kiều biết mấy. Ông Nguyễn Du là chúa độc, hơn cả anh chàng Tây Độc (hỗn danh của bạn ta đó). Nàng Kiều trầm mình xuống sông Tiền Đường, tưởng đã thoát nợ kiếp này, ông lôi cổ lên đẩy về nhà, bắt phải mở mắt mà trông: Này chồng, này mẹ, này cha; này là em ruột, này là em dâu... Cô ngồi xuống đó đi, trước mắt đông đủ mọi người — hết thảy mọi người, yên ổn và êm ấm nhưng không thể quên cô — và trước mắt tình lang mười lăm năm cũ cô ngồi đó trong kiếp đoạn trường nào đâu đã dứt. Cô đã trả món nợ hồng nhan cho ông trời già cay nghiệt, nhưng chưa xong. Còn cái món nợ tình với chàng Kim nữa, cô ơi. Ôi, cái món nợ tình, món thế tục cầm chân ta lại trong vòng khiến ta bắt buộc ngồi đó với bẽ bàng. Cái “bước trần ai” ta cứ động lòng. Nhưng mà động lòng đến chừng nào, hỡi bạn ta. Còn một chút này.... thật là thảm, bạn ta nghĩ mà coi. Chút này là chút nào? Chàng Kim chỉ có thể hiểu đến chỗ: Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình. Thiệt kỳ cục.
...
Giả như gặp nhau, ta cũng đến lặng ngắt. Hoặc giả ta khua inh sự lặng ngắt. Thế thôi. Mà ta rõ đã lăn thân vào chốn ấy, bạn không muốn nghe sự lặng ngắt. Ta cũng đang khua gióng sự lặng ngắt đây. Bạn ta nghe chăng?
--------
Trích từ : http://tienve.org
Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012
NHÀ VĂN SƠN NAM VÀ NỖI ĐỜI TRÔI NỔI . / bài của KIÊN GIANG- HÀ HUY HÀ .

"... nhớ ơn người vú nuôi gốc Miên ( Campuchia ) Phạm Minh Tày lấy bút hiệu Sơn Nam . ..."
Phạm Minh Tày ( nhà văn Sơn Nam ) đã chuyển kiếp từ ngày 13 - 8 - 2008 . Hạt bụi không nghiêng mình nhớ đất quê mà du cư đến Bến Cát Bình Dương , an giấc ngàn thu ở công viên Nghia trang Chánh-Phú- Hòa .
Đồng bào ở Kiên Giang, nhất là các bạn trong Hội Văn học Nghệ thuật Kiên Giang hơi bàng hoàng khi Sơn Nam không gói mình trong câu thơ :
Sống thì xuôi ngược bôn ba
Chết về đất mẹ quê cha ngủ vùi ...
Riêng tôi cảm thấy áy náy hụt hẫng khi Sơn Nam vẫn rời cố thổ ở phút cuối đời . Lắng lòng suy tư , hóa giải sự đắn đo , không riêng của tôi mà một số con cháu thân nhân vẫn thỏa lòng nhìn thấy Sơn Nam an giấc ở phần mộ nằm trong công viên Chánh-Phú-Hòa cũng ấm áp khang trang .
Một ông già miền Nam hốc U Minh trên 60 năm cuộc đời hành trình đầy chông gai hố sâu ... an giấc ngàn thu ở Bình Dương , từ tấm lòng ái mộ mộ nhân tài hiếm hoi ở miền Nam . Đó là một ân huệ .
Trên 50 cây số , người có lòng với Sơn Nam thuở sinh tiền nên không thể xem là khỏang cách vô cùng cách trở . Khoảng cách này cũng là một thử nghiệm với ai còn thương kính Sơn Nam :
Thác còn tinh anh hồn văn gửi lại
Non trăm đầu sách quý của Sơn Nam
Nhớ đời Sơn Nam . Tôi mong mỏi giới bạn đọc cho phép tôi kể sơ mối quan hệ đời thường , đời văn học nghệ thuật và mấy đêm sau cùng với Sơn Nam ở nhà tang lễ 25 Lê Quý Đôn, tp. Hồ Chí Minh .
Năm 1945 , Sơn Nam học trường Collège de Cần Thơ với phẩm chất học sinh giỏi được phụ cấp . Tôi thi rớt , học trường tư thục Nam Hưng Cần Thơ . ( ở trường Delanuoe ) , nay là trụ sở UBND phường An Lạc . Từ đó, hai đứa học trò đồng hương mới có dịp gặp nhau lần đầu trong tình đồng hương .
Năm 1946 - 1954 , cùng tham gia kháng chiến ở tỉnh Rạch Giá , tôi là Thanh niên Cứu quốc, phụ trách Đoàn văn nghệ lưu động thiếu nhi , Sơn Nam được gỉai thưởng Văn nghệ Cửu Long với đầu sách Bên rừng cù lao Dung rồi Tây đầu đỏ năm 1952 .
Ở Rạch Giá , Sơn Nam từng làm thơ ký cho tiệm tạp hóa Bỉnh Thái Xương . Ẩn náu ở Bỉnh Thái Xương, Sơn Nam đanh truyền đơn , đêm đêm dán truyền đơn ở nhiều trọng điểm ( chợ búa, bến xe ) . Ban ngày len lỏi khắp xóm nghèo, phố rách . Đó là những cuộc thám hiểm ngầm . Nhìn bao quát nắm trọng tâm . Đo là quá trình viết và lách của Sơn Nam gạn lọc trong nhiều tác phẩm . Tình đồng hương càng đậm đà trong tình văn học và nỗi đời trôi nổi .
Trong chiến dịch Long-Châu-Hà, tôi là phóng viên chiến trường , Sơn Nam xem lại và duyệt sơ bài, trước khi đưa in - bột nếp để dán ở công sở - " nhà việc " sau khi quân ta chiếm cứ được . Vốn thích xem hát đình ( hát bội ) , anh Sơn Nam vẫn chú ý ( tới) cải lương . Năm 1956 , Sơn Nam trong thời lang thang , đươc soạn giả Hà Triều và Hoa Phượng mời về nhà ở mướn, ở sau lưng Nhà đèn Chợ Quán . Nhà nhỏ vẫn chứa đông bạn bè trốn quân dịch và anh em gốc kháng chiến .
Hoa Phượng là thơ ký đánh máy ở Viện Hối đoái lãnh lương rồi nuôi hết anh em . Chính Sơn Nam đã gợi ý cho Hà Triều và Hoa Phượng viết tuồng từ đề tài Nhật Bản ; các vở Cầu sương thiếp phụ
chàng * *, Trăng thượng tuần sắp lặn đều do Sơn Nam cung cấp chứng liệu .
( Có một lần ) , anh Sơn Nam mua được ở vỉa hè một tập sách nhỏ, đó là vở tuồng chèo Nghĩa Kim Bằng , anh đã gợi ý cho tôi soạn vở Người đẹp bán tơ ( Lưu Bình Dương Lễ ) . Đa số kịch bản cải lương của Hà Triều và Hoa Phượng , và ( cả tôi ) đều ăn khách . Đương nhiên , đàn em phải rỉ tai bồi dưỡng , đúng ra là giúp đỡ ( đàn anh) trong cơn chìm nổi . Trong giai phẩm Giải Thanh Tâm và giai phẩm đoàn Thanh Minh, anh Sơn Nam đã viết nhiều bài về sân khấu, gợi ý cho soạn giả cải lương viết tuồng có ấn tượng, định hướng đậm đà bản sắc dân tộc , nhất là ở miền Nam ( này ) .
Trước chiến dịch Long-Châu-Hà , ở vùng nam Thái Sơn, trước khi xuất quân vào ba bản : Vĩnh Trạch , Vĩnh Hạnh - các chiến sĩ đều được thưởng thức chương trình văn nghệ dưới bầu trời đêm .
Riêng Sơn Nam hứng khởi đọc thơ :
Ngồi trên cầu khỉ cheo leo
Em bé mắt nheo
Nhìn theo bộ đội
Bô đội đi rồi , em vẫn ngó theo ...
Rất tiếc tôi không nhớ đoạn thơ sau . Lời thơ chân chất, đã phản ánh rõ nét ánh mắt của trẻ con ở nhà quê đều thương mến chiến sĩ .
Sơn Nam ít làm thơ . làm thơ phải xuất thần. Xuất thần kể như giọt nước bị dồn nén . Trước con người thật có ấn tượng có phẩm chất hoặc trước bối cảnh kỳ vĩ thì cảm xúc xuất thần mới phát tiết cao độ ...
" Làm thơ nghèo khổ lắm. Phải chịu nghèo khổ mà vẫn làm thơ thì mới ra thơ ...".
Lời nói Sơn Nam thật đúng khi tôi vào tuổi 80 .
Nhà văn Sơn Nam có biệt tài kể chuyện tiếu lâm, chuyện khôi hài rất hấp dẫn. văn hóa văn minh miệt vườn vẫn ăn rễ từ nông thôn , từ lễ hội . Cúng Kỳ Yên ở đình là lễ hội lớn ở thôn quê . Nơi nào có đền thờ Lễ Thành hầu-Nguyễn Hữu Cảnh đều được Sơn Nam thăm viếng và chiêm bái .
Trước năm 1975 , Sơn Nam và tôi xuống Châu Đốc , đến chuà Phi Lai để nói chuyện về công trình khai hoang . Sau khi đồng bào ở quanh chùa Phi lai bị thảm sát , tôi và Sơn Nam đều sụt sùi - khi đứng nhìn vô số đầu lâu được gom lại trong vòng" bò le " ... đan bằng tre . Sau chuyến nói chuyện do Sơn Nam chủ xướng và chương trình thi ca câu hò câu hát dân gian do tôi trình bày - để tránh né sự theo dõi - tôi và Sơn Nam tạm ẩn náu tại nhà của một nhà giáo , nhà thơ Liêm Châu ở Châu Đốc .
Đa số anh em được Hà Triều và Hoa Phượng nuôi đều là dân trốn quân dịch và dân có gốc kháng chiến . Ở lâu sợ bể, Sơn Nam quyết định phân tán mỏng , chia nhau tìm nhà trọ, nhà mướn ở ven đô . Chính vì thế , tôi và Sơn Nam sống lang thang .
Sau khi Sơn Nam gặp tôi , chủ nhiệm Ngô Công Đức và Tổng biên tập Hồ Ngọc Nhuận báo Tin Sáng sẵn sàng yểm trợ Sơn Nam .
- Đăng mọi bài của Sơn Nam .
-Trả thù lao cao .
Khi Sơn Nam lâm bệnh năm 2003, báo Tin Sáng đã trợ giúp một số tiền lớn .
Sau ngày 30 - 4 - 1975 , mỗi lần báo Tin Sáng tổ chức tiệc tất niên , Sơn Nam vẫn được mời ở hàng cổ thụ . Dù Ngô Công Đứic qua đời , nhưng góa phụ Ngô Công Đức vẫn đến phúng viếng Sơn Nam .
Suốt 2 đêm trắng với Sơn Nam , tôi dã nghe và thấy biết bao tấm lòng thuộc mọi đẳng cấp , thành phần xã hội Sài Gòn , ở nước ngoài ( đối ) với nhà văn Sơn Nam .
Ngoài tràng hoa lớn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các con cháu của Sơn Nam không thể đếm hết mấy trăm tràng hoa cườm, hoa tươi, thư pháp, bưu thiếp tang .
Gần nửa đêm 16 - 8 - 2008, có nhiều người tóc bạc , phục sức đơn sơ ; có lẽ ở xa, cũng là bạn tâm giao, bạn nghèo của Sơn Nam đã đến bái lạy qua hai hàng nước mắt .
Sơn Nam và tôi sống lang thang trong cảnh không nhà trên dưới 30 năm, nên rất xúc động khi đọc sổ tang :
" Nhớ năm nào tôi với anh sát cánh quyết tâm giữ lại Lăng Ông Lê Văn Duyệt . Lúc đó anh là người góp phần lớn để thực hiện một việc không phải là dễ dàng . Và công lao đó tôi đã thay mặt Đảng bộ, cấp cho anh một ngôi nhà ."
( Nguyễn Chơn Trung - 6 Quang - nguyên chủ tịch UBND quận Bình Thạnh ).
Một trong những giám đốc sở Văn hóa thông tin tp HCM đã ghi trong ' Sổ tang " :
" Rất thương tiếc và cám ơn Sơn Nam có công lớn, bằng tấm lòng tài năng hiếm có góp phần khơi dậy niềm tự hào và lòng biết ơn văn hóa , hào khí Đồng Nai, Việtnam do nhiều thế hệ hun đúc , trường tồn ".
( Dương Đình Thảo )
Thành ủy và UBND tp. HCM với sự hiện diện của các ông Lê Thanh Hải , Nguyễn Văn Đua và bà Phạm Phương Thảo, đã ghi :
" Thành ủy vô cùng thuông tiếc nhà văn Đất Phương Nam Sơn Nam . Nhà văn lớn đã góp phần to lớn bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc , sức sống mãnh liệt của tổ quốc , làm giàu đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào nhân dân ".
Rất nhiều người bạn cùng quê hương, nhiều bạn làng văn, nhiều nàh văn , nhà báo, nhiều người Việtnam ở nước ngoài đã ghi nhiều tình cảm , ý tưởng trong sổ tang ; kể cả bản thư pháp và bưu thiếp tang - nên không thể tóm lược hết .
Giáo sư Trần Văn Khê đã viết ngắn gọn, khái quát rất cao :
" Trong suốt cuộc đời, anh đã đem Văn hóa miền Nam Việt đến bao người nhiêu người Việtnam trong và ngoài nước ..."
Tôi đã đọc Tình nghĩa giáo khoa thư trong chuyến xe đò từ Sài Gòn ra Phan Thiết 1964 : Chuyện đời thường mà phi thường .
Sơn Nam nói về 2 bạn học cũ . Ra trường , người bạn ở Cà Mau mua báo chậm trả tiền . Người bạn ở Sài Gòn là nhân viên thu tiền , đòi tiền . Xuống Cà Mau, hai bạn lâu gặp nhau ngủ chung ở xứ muỗi . Kể chuyện đi học xong lại kể chuyện ở Cà Mau , cực khổ nhiều vì sinh nhiều con . Người bạn đi đòi tiền cảm thấy thương bạn nghèo, không nỡ đưa biên lai . Trở về Sài Gòn , người bạn cũ ở Sài Gòn không bị phê bình, thì ( cũng) bị đuổi việc . Mặc !
Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam cũng là tình người sâu lắng , cao khiết . dễ gì còn nhiều người ấp ủ tình nghĩa giáo khoa thư để đối xử, ứng xử nhuần nhuyễn trong cuộc đời còn nhiều thói đời mưa nắng .
Nhớ ơn người vú nuôi gốc Miên ( Campuchia ) Phạm minh Tày lấy bút hiệu Sơn Nam . Đó cũng là chất ngọc trầm tích của tình nghĩa giáo khoa thư .
Hạt bụi nghiêng mình vào cõi nhớ
Gởi lại Tình nghĩa giáo khoa thư .
Tình nghĩa đó chơn chất, sâu lằng mà vô tận .
Nhớ thương anh Sơn Nam , tôi mượn Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam để nhớ hoài Sơn Nam - sau khi đọc nhà văn Văn Phụng Vỹ trong dòng chữ : " Vĩnh biệt bạn già Tình nghĩa giáo khoa thư ".
[]
KIÊN GIANG - HÀ HUY HÀ .
( trích CUỘC ĐỜI SỰ NGHIỆP " PHÙNG HÁ " + SƠN NAM "
do Nguyễn Thanh Nhã sưu tầm, biên soạn .
Nxb Văn học , Hà Nội 2011 - tr. 221 - 228 ) .
-----
* ( Sơn Nam : 1926- 2008 ) - tựa chính của Kiên Giang- Hà Huy Hà : " Tình nghĩa giáo khoa thư "
trong tâm hồn nhà văn miền Nam gốc U Minh ".
- Kiên Giang- Hà Huy Hà ( Trương Khương Trinh : 1929 - ) -
- tựa bài hiện thời do BT đặt .
* * Cầu Sương hay thiếp phụ chàng " của Hà Triều và Hoa Phượng ra sau vài năm - soạn giả
đã mượn tựa tiểu thuyết" Cầu Sương hay thiếp phụ chàng", một tiểu thuyết
Ngọc Giáo ( 1911 - 200 ? ) phát hành ở Hà Nội năm 1954 ( Thế Giới xb ) .
Dư luận điểm sách đã lên án tiểu thuyết này" đạo" một tác phẩm Somersest Maugham .
Người viết điểm sách, có lẽ là Thượng Sỹ, bị đánh,
" té nhào" xuống hồ Hoàn Kiếm ? ( T .Phong chú thích ) .
NGUỒN : Blog nhà văn Thế Phong
Nhà thơ KIÊN GIANG HÀ HUY HÀ
TÁC GIẢ BÀI THƠ
“HOA TRẮNG THÔI
CÀI LÊN ÁO TÍM”
- Bài Nguyễn Việt
Từ thập niên 1960 thế kỷ trước, khi chưa có truyền hình chỉ có Đài phát thanh, thì mọi người không ai không nghe qua nhạc phẩm “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” được hát đi hát lại nhiều lần, nhạc phẩm này do nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc từ bài thơ mang cùng tên của thi sĩ Kiên Giang – Hà Huy Hà, trưởng ban thi ca Mây Tần lúc bấy giờ. Mọi người nghe xong là thuộc, vì nhạc phẩm dễ hát và dễ nhớ. Chính điều này bài thơ trở nên bất hủ và không chỉ vang bóng một thời mà sẽ mãi mãi sống trong lòng mọi người.
Tiểu sử về thi sĩ Kiên Giang
Kiên Giang Hà Huy Hà tên thật là Trương Khương Trinh, sinh 17/02/1927 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, là con thứ trong một gia đình gồm năm anh em; vì thế ông lấy tên quê hương đặt thành bút hiệu. Ông cũng là đồng hương của nhà văn “đi bộ” Sơn Nam.
Tuổi thơ của nhà thơ Kiên Giang trải qua những nhọc nhằn từ vùng U Minh Thượng, nơi cha cày ruộng thuê, mẹ gie gạo (giã ra gạo sàn trắng) để có tiền đóng học phí cho thầy. Đến năm 1948, ông đi theo tiếng gọi non sông, rồi làm thơ ở báo “Tiếng súng kháng địch” thuộc Chiến khu 9, miền Tây U Minh. Thời đó ông đã làm thơ về đề tài tuổi thơ, quê hương, như các bài : Khói trắng, Xe trâu, Sàn gạo…
Năm 1943, nhà thơ Kiên Giang theo học trường tư thục Lê Bá Cang ở Sài Gòn. Năm 1944, đến ở tại Cần Thơ đi học trường tư thục Nam Hưng, để rồi có một mối tình học sinh chớm nở, nhưng thời cuộc đã xui ông đi theo kháng chiến. Nên vào năm 1955 cũng vì duyên kiếp ông đã cưới vợ ngay trong chiến khu. Cho nên sau khi hay tin ông đã lập gia đình thì người nữ sinh ấy cũng lên xe hoa.
Từ đó bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” ra đời với hình ảnh người con gái mang tà áo tím thướt tha cùng nét chữ bay bướm đã khiến ông thương thầm nhớ trộm : “Hoa trắng thôi cài trên áo tím / Từ ngày binh lửa ngập quê hương / Khói hôm che khuất chân trời cũ / Che cả người yêu, nóc giáo đường…”. Bài thơ sau này được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc rất phổ biến. Nay “người con gái ấy” hiện đã an nghỉ nghìn thu tại đất Tây Đô, lâu lâu có dịp nhà thơ Kiên Giang lại ghé về thắp một nén nhang để làm ấm lòng người quá cố thay cho lời tạ lỗi.
Cũng từ năm 1955 nhà thơ soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà xuất hiện nhiều trên văn đàn Sài Gòn. Sau làm thơ, ông soạn tuồng cải lương và viết báo. Đến nay ông đang sống cô độc trong tuổi già tại Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Sân Khấu nằm trên đường Cô Bắc, trước rạp hát cải lương Hưng Đạo trên đường Trần Hưng Đạo, Q1, Sài Gòn.
Như đã nói ngoài làm thơ, nhà thơ Kiên Giang còn có nghệ danh là Hà Huy Hà. Có lần ông tâm sự : “Học hết lớp 12 tôi tham gia kháng chiến chống Pháp 9 năm, làm biên tập viên, phóng viên cho báo “Tiếng súng kháng địch” ở chiến khu 9. Năm 1955, tôi về Sài Gòn viết báo cho các tờ : Dân Chủ Mới, Tiếng Chuông, Dân Ta, Dân Tiến… Kiên Giang là bút danh khi tôi làm thơ, còn viết báo, soạn tuồng tôi lấy tên Hà Huy Hà. Bút danh này khiến mật thám thời đó lầm tưởng tôi có họ hàng với Hà Huy Tập, Hà Huy Giáp những người làm chính trị ở miền Bắc, nên chúng đã bắt tôi. Sau khi nghe giọng nói Nam Bộ của tôi, chúng đã thả tôi ra”.
Còn làm soạn giả cải lương, Kiên Giang Hà Huy Hà rất nổi tiếng cùng thời với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Quy Sắc… đến nhà thơ Nguyễn Bính khi vào Nam từng đến nhà ông tá túc nhiều ngày. Các tác phẩm cải lương của soạn giả Hà Huy Hà có thể kể đến “Áo cưới trước cổng chùa”, “Người vợ không bao giờ cưới” là đỉnh điểm cho sự thành danh của ông, trong đó vở cải lương “Người vợ không bao giờ cưới” đã giúp cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải thưởng Thanh Tâm “nữ nghệ sĩ cải lương xuất sắc nhất” do nhật báo “Tiếng Dội” của nhà báo Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm tổ chức; Thanh Nga cũng từ đó trở thành một ngôi sao trong giới nghệ sĩ cải lương.
Trước năm 1975, nhà thơ soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà còn phụ trách ban thi văn Mây Tần trên Đài phát thanh Sài Gòn, làm ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn như nhật báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng… Ông cũng từng tham gia phong trào “Ký giả đi ăn mày” và dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại những quy chế khắt khe của chính quyền TT Nguyễn Văn Thiệu áp đặt lên giới báo chí lúc đó.
Sau năm 1975, Kiên Giang được cử làm phó đoàn cải lương Thanh Nga, và làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu, đồng thời là Ủy viên Ban chấp hành Hội Sân khấu thành phố qua 3 nhiệm kỳ.
Nói về thơ của nhà thơ Kiên Giang có rất nhiều, những thi tập đã xuất bản có Hoa trắng thôi cài trên áo tím (1962), Lúa sạ miền Nam (1970), Quê hương thơ ấu…
Còn về soạn tuồng cải lương với tên Hà Huy Hà, ông có những tuồng như sau : Người đẹp bán tơ (1956), Con đò Thủ Thiêm (1957), Người vợ không bao giờ cưới (1958 cùng với Phúc Nguyên), Ngưu Lang Chức Nữ, Sơn nữ Phà Ca, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Từ trường học đến trường làng, Dòng nước ngược, Chia đều hạnh phúc, Trương Chi Mỵ Nương, Mây chiều xuyên nguyệt thôn, Sương phủ nửa chừng xuân, Chén cơm sông núi, Hồi trống trường làng, Lưu Bình Dương Lễ.
Và viết tân cổ giao duyên, nhà thơ soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà có những bài nổi bậc như : Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cao quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây…
Nói về thơ Kiên Giang
Vì nhà thơ Kiên Giang có lúc từng là anh em kết nghĩa, là bạn thơ với thi sĩ Nguyễn Bính, nên nhiều người nhận xét thơ ông đã ảnh hưởng thơ của Nguyễn Bính khá nhiều. Nhưng nhiều người cho rằng cái chất “rặt ròng” Nam Bộ trong thơ Kiên Giang là đồ gia bảo riêng của tác giả, không thể ảnh hưởng phong trào thơ “áo bào gốc liễu” như Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân được. Ta hãy cảm nhận ít vần thơ sau đây của nhà thơ Kiên Giang để thấy chất “rặt ròng” Nam Bộ trong thơ của ông :
Từ khi cô giáo tập em đồ
Không kê giấy chặm em vô ý
Để dấu tay lem vở học trò (Đồng xu giấy chặm)
Phạt anh ngâm nước vô lu
Bẻ tàu chuối hột che dù cho em (Ngựa trúc)
Lời lẽ mộc mạc Nam Bộ đến thế, bây giờ hiếm hoi gặp lại cái chất đó trong thơ của các thi sĩ miền Nam. Riêng nhà văn Sơn Nam khi còn sống đã nói về nhà thơ Kiên Giang như sau :
- “Kiên Giang là một thi sĩ thành công, một soạn giả đã đưa thi ca vào sân khấu, để lại cho đời những vở tuồng mang đậm chất thơ như Áo cưới trước cổng chùa, Người đẹp bán tơ, Ngưu Lang Chức Nữ, Sơn nữ Phà Ca… Còn trong thơ ca, Kiên Giang đã viết những câu thơ mà nhiều nhà nghiên cứu cứ ngỡ là ca dao : “Ong bầu vờn đọt mù u / Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”. Thơ Kiên Giang cũng như thơ Nguyễn Bính có nét chung bình dị, mộc mạc, nhưng một bên là chân quê Nam Bộ, còn một bên là chân quê Bắc Bộ”.
Ngoài ra nhà văn Sơn Nam còn bình xét thơ và tuồng của Kiên Giang Hà Huy Hà như sau : “có người nói ông làm thơ dễ dãi đến mức có lẽ không đọc lại bản thảo (?). Cũng có thể như vậy hoặc không như vậy, nhưng nếu dễ dãi mà đã để lại cho đời những bài thơ như “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, “Khói trắng” hay “Tiền và lá”… – những bài thơ sống dai dẳng trong lòng người dân miền Nam suốt một thời thật nên trân trọng”.
Lịch sử bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”
“Hoa trắng thôi cài trên áo tím” có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất của thi sĩ Kiên Giang, đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và được nhiều ca sĩ thể hiện rất thành công. Theo nhà thơ Kiên Giang tâm sự :
- “Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH – cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH. đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi tôi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn : ‘”Con Tám NH. vẫn chờ mày”. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. để tâm tình suốt đêm với NH. bên ánh đèn dầu. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Câu kết trước là :
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ nay tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tím trên mồ người xưa
thành cái kết khác :
Lạy Chúa ! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ở trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi !
Năm 1999, hãng phim TFS của Đài Truyền hình Thành phố có làm phim “Chiếc giỏ đời người” về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh

Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ”
Qua bài viết, người viết đã kể đến cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ kiêm soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà, và những tâm sự của nhà thơ khi sáng tác thi phẩm “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, đã để lại nỗi buồn man mác trong lòng mọi người qua bài thơ tình đầy lãng mạn.
Chúng tôi xin tải đăng nguyên tác của bài thơ :
HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM
I.
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường
oOo
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh
oOo
Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! Chuông nhà trường
II.
Lần kia anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
oOo
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại, không đi
III.
Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
oOo
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
- Hoa trắng thôi cài lên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh
oOo
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang, cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
IV.
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường
oOo
Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ
oOo
Màu gạch nhà thờ còn đỏ thẫm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím tình thơ đã nhạt màu
V.
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang
oOo
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ
VI.
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường
oOo
“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !”
(Bến Tre, 14-11-1958)
http://cafevannghe.wordpress.com/2010/04/03/nha-th%C6%A1-kien-giang-ha-huy-ha/Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012
Ba bài thơ mới
BUỔI TRƯA TRÊN TÒA CAO ỐC
Tôi thường mơ về một thế giới trong sáng
Sau khung kính trên tòa nhà cao ốc
Nhìn xuống phía dưới đường
Dòng người dòng xe như dòng đời tuôn chảy không dứt
Đi đâu về đâu
Những chiếc lá vàng rụng xuống những chiếc lá xanh mọc lên
Bao nhiêu mùa bao nhiêu thời gian qua
Thế giới vẫn còn bị nhiễm khuẩn
Ngày lại ngày cũng giống như sự thật vẫn phơi bày từng giây phút
Sự thật là thế giới vẫn không ngừng đổi thay
Không ngừng mơ
Về một thời kỳ trong sáng không có trong niên lịch
NGÀY NÓNG CỦA THÁNG BA
Tháng ba mặt trời phơi lộ hết nhan sắc
Đêm đi vắng rất lâu
Cuối hẻm nhỏ có người đàn bà xõa tóc quạt thành gió
Tà áo bần bật
Ngày dài ngoằng hơi thở sốt
Khi đi qua một thoáng ngơ ngác nhìn
Cảnh tượng giữa tháng
Rủ em vào trú một bóng râm
Vệ đường bốc khói
Ngửi hơi hám em quên buổi trưa giữa tháng ba
Ngày cũng biệt dạng
MỘT NƠI TẠM THỜI ĐỂ TỎ TÌNH
Tôi tưởng tượng ra một chút mùa đông khi hôn em dưới tàng cây góc đường nhỏ hẹp ngày thành phố tung tóe nắng
Em giấu kín bàn tay búp măng tuổi thơ nhỏ nhắn hiền dịu xinh đẹp làm người ta chết ngất mấy tầng
Không có em làm sao buổi sáng nay thức dậy trong khi tập thể dục vừa gửi một chùm tin nhắn hẹn hò
Ở dưới tờ lịch mới tháng hai âm vẫn còn hơi hướm mùa xuân sao tưởng như mùa hè nắng dữ quá
Tôi bước ra đường tôi chạy xuống phố có chút ngân vang trên con đường tôi đi hinh như có ai đó hát đuổi theo tưởng chừng như không dứt
Ừ rồi thế nào tôi cũng sẽ được gặp em nơi ấy là nơi đã hẹn hay nơi nào cũng được như tôi tưởng tượng ra trong một ngày mới khởi đầu và chào đón mùa hè sẽ quay trở lại
Những con đường nội thành lóe sáng nắng tháng ba khó tìm nơi trú ẩn cho đôi ta giữa hai hàng cây trọc đầu chịu trận
Hôn em đi và chờ đến mùa sau
TỪ HOÀI TẤN

