Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Tái dựng đầy đủ nhất lễ dựng Nêu chốn Hoàng cung

(Thethaovanhoa.vn) - Chiều ngày 23/1 (23 tháng Chạp), Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã tổ chức lễ dựng Nêu ngày Tết (hay còn gọi là lễ Thướng Tiêu), một nghi lễ đầy ý nghĩa trong đời sống tâm thức của người Việt mà các vua nhà Nguyễn thực hiện hàng năm tại Đại Nội - Huế.
Tục dựng cây Nêu ngày Tết là một nghi thức có từ lâu đời trong đời sống tâm thức của người Việt. Cây Nêu thường được trồng ngay trước sân nhà mỗi dịp Tết Nguyên đán. Trong đời sống cung đình ở Huế, trước ngày Tết người ta làm lễ dựng Nêu để báo hiệu ngày Tết đã tới. Mục đích là để mừng ngày Tết, rồi sau đó cúng những thần linh để phù hộ cho người nhà được bình an, cầu tổ tiên phù hộ cho con cháu. Triều đình dựng Nêu ngày Tết để cầu mưa thuận gió hòa, cho dân chúng làm ăn thuận lợi.
Cầu mưa thuận gió hòa
Theo sử liệu, dưới triều Nguyễn, đến ngày 25 tháng Chạp là ngày là ngày trừ nhật không tiếp nhận văn thư, ngày này làm lễ khóa ấn, nghĩa là cất ấn triện, không đóng dấu nữa, rồi dựng Nêu (Thướng Tiêu). Đó là nghi thức dùng 1 cây tre trên đó lấy tranh kết 4 dọc 5 ngang (cái lung tung), rồi treo 1 cái sọt bên trong đựng giấy tiền, cau trầu, bùa đào… để cúng Thần. Trên bùa đào ngoài việc ghi tên Thần, còn treo câu đối Tết mà thường là câu “Tân niên nạp dư khánh/ Gia tiết hiệu trường xuân” (Năm mới nhiều điềm tốt / tiết đẹp gọi xuân lành).
Dựng Nêu ở điện Long An
Đến thời Tự Đức, triều đình quy định đến ngày 30 tháng Chạp mới dựng Nêu, tức thời gian nghỉ Tết ngắn lại. Theo điển lệ, khi thấy cây nêu lấp ló trên bức tường thành của chốn Hoàng cung, các nhà dân mới bắt đầu tiến hành dựng Nêu ăn Tết cúng Thần cùng tổ tiên và vạch vôi trừ ma quỷ. Thơ của Tú Xương cũng phản ánh sự quy định dựng Nêu ngày Tết của người dân sau Hoàng cung: “Xuân từ trong ấy mới ban ra/ Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà”.
Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài tục trồng cây nêu ngày Tết ở Thừa Thiên Huế đã dần mai một và một vài năm trở lại đây, nhiều chùa, đình làng đã phục dựng lại tục dựng Nêu ngày Tết của cha ông để lại. Năm 2013, lễ dựng Nêu trong Hoàng cung lần đầu tiên được Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế phục dựng, nhưng do là lần đầu nên chưa bài bản và đầy đủ.
Lễ dựng Nêu bài bản nhất
Tết năm nay, lễ dựng Nêu chốn Hoàng cung được thực hiện tại 2 điểm tại Thế Miếu và điện Long An. Từ cửa Hiển Nhơn, nghi thức rước Nêu được tổ chức trang trọng, bao gồm 6 quân lính cầm cờ cảnh, lồng đèn; 4 lính cầm cờ tứ phương; tiếp đến là 1 quan cầm lỗ bộ ghi chữ "Thướng Tiêu"; 1 lính bưng tráp cau, trầu, rượu, phướn; kế đến đội nhạc công tiểu nhạc; giữa đội rước là 10 lính đội nón, mặc áo màu vàng, vác cây Nêu; theo sau là 8 lính cầm lỗ bộ và cuối cùng là thành phần tham dự trong trang phục truyền thống tiến đến cửa chính của khu vực Thế Miếu và tiến hành nghi thức dựng Nêu.
Tại đây, hương án, lễ phẩm cùng đội đại nhạc và các bồi tự đã chờ sẵn. Nghi thức thướng nêu được cử hành nghiêm trang. Sau đó tiếp tục rước 1 cây Nêu khác về dựng Nêu tại điện Long An theo đúng nghi thức.
TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế cho biết, trên cơ sở rút kinh nghiệm lần phục dựng đầu tiên vào năm 2013, lễ dựng Nêu năm nay được nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo hơn. Ngoài việc tổ chức nghi lễ dựng Nêu ở thế Miếu, chúng tôi còn dựng Nêu ở Điện Long An - nơi gắn liền với không gian sinh sống và thờ tự của vua Thiệu Trị trước đây. Có thể nói, lễ dựng Nêu năm nay được tổ chức đầy đủ hơn, bài bản hơn theo nghi thức truyền thống. Hy vọng qua những dịp như thế này, tục dựng nêu của người Huế không chỉ khôi phục lại trong Hoàng cung mà còn trong dân gian.
Cũng theo ông Phan Thanh Hải, do Huế là Cố đô cuối cùng của Việt Nam là nơi hội tụ sự giao lưu của nhiều luồng văn hóa và đã tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng, Huế là nơi các nghi thức truyền thống được bảo tồn và giữ gìn nguyện vẹn nhất, trong đó có lễ dựng Nêu ngày xưa. Việc phục dựng lại lễ dựng Nêu chốn Hoàng cung xưa nhằm chuyển tải các thông điệp về mặt văn hóa, những vẽ đẹp của nghi thức trong đó có nhạc, lễ, trang phục, khói hương… tạo ra không gian trầm lắng, có tính suy tưởng cao để người ta có thể gợi lên, suy ngẩm được nét văn hóa đậm tính nhân văn và sâu sắc của người Việt Nam.
Nghi lễ dựng Nêu chốn Hoàng cung được phục dựng ở Huế mang tính chất cung đình, trang trọng và bài bản hơn nhiều mà ở tất cả những nơi khác trên đất nước Việt Nam không thể có được bởi có sự tham dự của quan lại triều đình, hoàng thân quốc thích, sự tham gia của đại nhạc, tiểu nhạc và các đội nghị thức; các phần trình bày về nghi lễ vào hào soạn cũng trang trọng và bài bản hơn. Có lẽ chỉ riêng Huế mới có được đặc điểm này.
Trần Dương
http://thethaovanhoa.vn

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Phong tục cúng đưa ông Táo về trời

23 tháng chạp đưa ông Táo về trời, ở miền Bắc cỗ cúng gồm 3 mũ ông công, cá chép vàng. Người miền Trung cúng thêm con ngựa giấy, trong khi miền Nam chỉ cần mũ, áo ông công là đủ.

Không khí Tết bắt đầu nhộn nhịp kể từ ngày tiễn Táo quân về chầu trời vào 23 tháng chạp. Đồ cúng gồm bánh, kẹo và nước trà. Lễ vật cúng Táo công thường có 3 chiếc mũ ông công (2 mũ đàn ông và 1 mũ đàn bà). Những đồ vàng mã này sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo.
Ngoài ra, để ông Táo có phương tiện về chầu trời, người miền Bắc hay cúng một con cá chép (hay cá vàng) còn sống thả trong chậu nước. Sau đó, cá sẽ được phóng sinh ra ao hồ hay ra sông. Tuy nhiên, tục phóng sinh ngày nay cũng bị lạm dụng, nhiều người mua hàng trăm con cá để phóng sinh, thậm chí phóng sinh tôm, cua, ếch, nhái, rùa với số lượng lớn. Tôm cá chết gây ô nhiễm môi trường.
IMG-3921-JPG-1359790324-500x0-7162-13903
Nguời Việt có quan niệm cúng cá chép hoặc cá vàng ngày Tết ông Táo. Ảnh: Phan Dương.
Theo tục xưa, những nhà có trẻ con còn cúng Táo quân một con gà luộc. Gà luộc này phải là gà trống mới tập gáy (tức gà mới lớn), ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ.
Ở miền Trung, người dân hay cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn miền Nam, các nhà chỉ cúng mũ, áo và đôi khi bằng giấy là đủ.
Khi khấn, đa phần không cầu xin phú quý, cũng không cầu xin no đủ, mà chỉ xin Táo công bẩm báo điều tốt, bớt nói điều không hay. Từ 30 Tết đến mùng 5 Tết, các nhà lại dán ảnh Táo quân để mời ngài quay trở lại.
Phương pháp đặt bàn thờ Táo quân:
Người Việt quan niệm ba vị thần Táo định đoạt phúc đức cho gia đình. Phúc đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Tuy vậy, ngoài Bắc có xu hướng thờ chung là thổ địa, thổ công.
Trên thực tế, bếp là nơi nấu nướng phục vụ ăn uống, nếu không chú ý thì khả năng "Bệnh tòng khẩu nhập" khó đảm bảo bình an cho gia đình. Bếp là nguồn nuôi sống con người, vạn vật sống được là nhờ ăn uống, vì thế rất coi trọng bếp nấu.
Một số điều kiêng kỵ trong khu bếp:
- Bếp không quay ra cửa chính (có nghĩa là người nấu không quay lưng ra cửa).
- Cửa bếp không hướng ra cửa, tránh tà khí xông thẳng vào.
- Phía sau bếp phải là tường kín, không nên đặt ở cửa sổ.
- Đặt bếp tránh "Thủy hỏa xung khắc", không đối diện vòi nước hay tủ lạnh.
- Cửa bếp không đối diện phòng ngủ, bếp không gần phòng ngủ đặc biệt là đặt giường gần bếp.
- Cửa bếp không đối diện khu vệ sinh.
Quan niệm xưa cho rằng thần Táo cai quản việc bếp núc. Công việc chủ yếu của Táo quân là thay trời giám sát việc thiện ác tại mỗi gia đình, hàng năm vào dịp 23 tháng chạp ông Táo về thiên đình để báo cáo với Ngọc Hoàng mọi việc. Ngoài ra Táo quân còn là Thần hộ trạch (giữ nhà), không cho tà ma vào nhà gây rối cho gia đình.
Vị trí đặt bàn thờ Táo quân
Đặt bàn thờ Táo quân thường là ở bên trên bếp nấu (gọi là trang thờ), trên vách bàn thờ có câu liễn "Định phúc Táo quân".
Việc bài trí, sắp xếp của khu bếp ngăn nắp, đúng phong thủy sẽ làm cho chất lượng cuộc sống nâng cao. Khu bếp trong một gia đình phản ánh toàn bộ sinh hoạt, văn hóa của ngôi nhà đó, nhìn vào khu bếp ta có thể đánh giá được tính cách của chủ nhân. Dù việc bài trí có như thế nào, có đúng phong thủy hay không, thì làm đẹp cho khu bếp phản ánh nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội hiện đại.
Có người thờ cúng nhưng để khu vực nhà bếp quá dơ bẩn cũng không tốt, vì chỗ nấu ăn là nơi rất cần sự sạch sẽ, an toàn vệ sinh thực phẩm.
Nguyễn Mạnh Linh
Trưởng Phòng Phong thủy Kiến trúc
Viện Quy hoạch & Kiến trúc Đô thị - ĐHXD

http://doisong.vnexpress.net

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Nguyễn Trí: Tiểu sử gây sửng sốt

 Nhiều năm nay, giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam chưa thuyết phục dư luận trong và ngoài giới. Lần này, giải thưởng chính thức được trao cho một người chưa phải là thành viên trong Hội lại được vỗ tay nhiệt tình. 
Trước khi được vinh danh, Nguyễn Trí đã có 65 truyện ngắn đăng tải trên báo. Trong thời buổi, người người làm thơ, viết truyện như hôm nay, việc đăng ngần ấy tác phẩm trên báo cũng chưa đủ ghi tên tác giả trong lòng độc giả. 


Tranh của: nguyễn xuân hoàng

Nhắc đến Nguyễn Trí trước đó, có khi nhiều người chỉ nhớ đến hình ảnh người cha mặc áo trắng đứng lên xin toà giảm án cho kẻ giết con mình, trong vụ án người mẹ tuổi teen phạm tội giết người tại Đồng Nai. Hành động của vợ chồng Nguyễn Trí, chồng xin giảm án, vợ bồng con cho phạm nhân, đã lay động trái tim biết bao người dân trong cả nước. Và nay, chính người cha giàu lòng bao dung ấy, đã trở thành chủ nhân giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam.

Viết văn giữa cảnh đời đầy bạo lực

Chẳng nhà văn nào có tiểu sử sửng sốt như Nguyễn Trí. Ông lăn qua đủ thứ nghề: Nghề nấu rượu, nghề nhảy tàu, nghề đồ tể, nghề đi tìm vàng, khai thác đá quí, trầm hương, nghề chặt củi, đốt than, xe ôm… lung linh nhất có lẽ là nghề dạy Anh văn (chính xác là dạy tiếng Anh “bồi”).
Đến hôm nay, chính thức ông đi vào nghề viết văn chuyên nghiệp: “Sau giải thưởng ai cũng gọi tôi là nhà văn, vậy đó”. Chẳng ai mộc mạc như Nguyễn Trí, khi nói về con đường đến với văn chương: “12 tuổi tôi đã biết đọc sách rồi và rất ngưỡng mộ các nhà văn. Ông trời cũng thương tôi lắm, ông cho tôi cái bộ nhớ tương đối gọi là, có những truyện hay quá tôi thuộc lòng luôn, đặc biệt nhớ những truyện có tình tiết li kì như Tội ác và trừng phạt” (Chẳng biết có phải những tình tiết li kì ám ảnh từ thuở nhỏ đã ảnh hưởng tới truyện ngắn của Nguyễn Trí không?). 
Tôi hỏi nhà văn nông dân: “Sự thật anh thấy văn chương của mình thế nào?”. Nguyễn Trí không cần che đậy bản tính thật thà: “Có người thích truyện nọ, có người thích truyện kia của tôi. Chẳng hạn có người đoan quyết truyện “Đoạn trường” in trên báo Văn nghệ là tác phẩm hay nhất của tôi. Từ đó, tôi suy ra truyện của tôi đọc cũng được, không đến nỗi tệ”.
Trong mặt bằng văn chương hiện nay, công nhận Nguyễn Trí nói đúng: Truyện của anh đọc được. Sự bứt phá “Bãi vàng, đá quí, trầm hương” so với những tác phẩm tranh giải năm nay hẳn không phải vì “Bãi vàng, đá quí, trầm hương” quá xuất sắc mà vì có hơi thở mới, đi vào đề tài ít người đụng, đặc biệt người viết chứng tỏ vốn sống dồi dào. Điều này cũng khiến không ít người đặt ra câu hỏi: “Cứ vặn mình mà viết, liệu có đến lúc Nguyễn Trí cạn kiệt không?”. 
Nhưng Nguyễn Trí có cái lí của anh: “Tôi không sợ cạn vốn vì đời sống đang luân chuyển. Tôi không chỉ viết về cuộc đời mình. “Người điên không biết nhớ” có phải vốn của tôi đâu? “Khóc không thành tiếng” là bi kịch của tụi nhỏ bên trường gần nhà tôi, chúng yêu nhau sớm quá. Toàn những chuyện tôi nhìn thấy trước mắt và tôi viết ra. Nên tôi hổng sợ đâu”.
Đa phần nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Trí bắt nguồn nguyên mẫu ngoài đời. Tuy nhiên, anh hay tặng cho nguyên mẫu một cuộc đời tươi sáng hơn: “Thằng bạn của tôi đáng lí chết rồi nhưng ngoài đời nó chết oan ức lắm nên trong truyện của tôi, tôi không để nó chết mà cho nó sống. Tôi còn cho nhiều nhân vật được sống và được hạnh phúc nữa”. 
“Ở hiền gặp lành” là triết lí sống của người Việt nên đọc Nguyễn Trí nếu có kết thúc nào đó hơi có màu “Tấm Cám”, hoặc có vị “sến” như ai đó nhận xét, chắc bạn đọc cũng thông cảm và bỏ qua cho một nhà văn đau đời và giàu ân nghĩa.
Nguyễn Trí, sinh năm 1956, quê gốc Quảng Bình, sinh ra ở Bình Định, lang bạt nhiều vùng đất nước và dừng chân ở Đồng Nai đã ba chục năm nay. Ông là con thứ năm trong gia đình có chín anh em. Cha ông từng là lính của vua Bảo Đại. “Đó là lí do vì sao quê gốc của tôi là Quảng Bình mà anh em của tôi đứa thì sinh ở Huế, đứa ở Đà Lạt…”. 
Sau đó Bảo Đại bị lật đổ cha ông lại làm lính cho Ngô Đình Diệm, rồi tiếp tục làm lính cho nền đệ nhị cộng hoà từ Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu… Cha ông đi đến đâu lại đưa vợ con theo đó. Cuộc sống thường xuyên thay đổi khiến việc học của Nguyễn Trí bị gián đoạn. Tới năm 1975, nhà văn mới học lớp 10. Rồi cha ông rời bỏ đời lính, sự thiếu đói về kinh tế khiến anh em Nguyễn Trí phân tán mỗi người một nơi. Ông vào Đồng Nai và bắt đầu công cuộc mưu sinh chật vật khi mới 17 tuổi.
Trong vô vàn những nghề lao động chân tay cực nhọc đã trải qua và được ghi lại bằng ngòi bút, có hai nghề đặc biệt ghi dấu ấn với nhà văn: Nghề nấu đường và nghề làm đồ tể. “Hồi đó tôi vừa làm đồ tể, vừa làm thầy giáo dạy Anh văn, vui lắm. Buổi sáng ba giờ tôi thức dậy nấu nước, sáu giờ cạo lông, mổ heo, chủ cho phép tôi lấy bất cứ thứ gì trong bụng heo làm đĩa lòng hoặc nồi cháo. Tôi ngồi bên cạnh một xị rượu. Xong xuôi tôi tắm rửa sạch sẽ, áo bỏ vô quần, lên trường gõ đầu trẻ”. Tới đây, Nguyễn Trí sẽ cho ra mắt cuốn sách thứ hai, tên sách chính là tên nghề một thời của anh: Đồ tể.
Nguyễn Trí sẽ gắn bó chung thuỷ với nghề văn. Ông trải lòng: “Ở Việt Nam ta để sống được với nghề văn, có mấy người? Nhưng nhu cầu của tôi không lớn, vài ngàn bạc cũng sống được. Bây giờ tôi không còn việc gì làm nữa, ngoài việc viết văn để phụ thêm cùng vợ. Kể ra cũng sống được”.
Thường các cây bút luôn tận dụng thời điểm tết để kiếm sống, bằng cách gửi bài đăng báo. Giải thưởng đến với Nguyễn Trí dịp này cứ tưởng giúp anh “gặt hái”, hoá ra không phải: “Không có đâu. Giải đến cận tết quá, các tờ báo họ đã lên khung rồi. Mà nói chung tôi thì tôi không viết theo kiểu đơn đặt hàng đâu. Có người bảo, anh Trí ơi, anh giúp em cái truyện 2.000 chữ. Tôi có thể viết được 1.200 chữ, 2.500 chữ, 5.000 chữ, 10.000 chữ … Nhưng truyện của tôi, cái ngắn ra ngắn, cái dài ra dài, tôi không thể gò bó theo bất kỳ khuôn khổ nào theo đơn đặt hàng của người ta. Thí dụ tết đến phải viết về tết nhưng lúc đó trong lòng tôi không có tết thì sao tôi viết về tết được?”. 
Tôi “chọc”: “Có vẻ anh chưa chuyên nghiệp?”. Nhà văn đáp: “Trước đây tôi viết văn để trang trải tâm hồn tôi. Tôi viết ra được những gì ứ trong đầu, tôi thấy thoải mái. Sau đó tôi mới gửi đi báo và gặp nhiều thất bại. Song tôi nhủ mình cứ viết đi rồi tiến tới. Tôi có quan điểm thế này, tôi là người nông dân, người thợ rừng. Cái cày, cày mãi, lưỡi sẽ bén lên, sáng lên. Trong truyện “Đá quí” tôi viết: Đừng nghĩ cát là bỏ đi. Hãy tưởng tượng một con trai há miệng kiếm ăn thì một cục cát tình cờ vương lại và từ đó sự tình cờ làm nên sự kỳ diệu”.

Thích viết 1.200 chữ
Không ít truyện ngắn của Nguyễn Trí khá... lê thê. Bản thân tác giả luôn muốn viết ngắn. Trong số những truyện ngắn của tôi, tôi tâm đắc nhất là truyện 1.200 chữ “Người điên không biết nhớ”. Tôi ngưỡng mộ, thán phục những người viết ngắn.
Nguyễn Trí thuộc dạng viết nhanh, một tuần có thể viết tới hai truyện ngắn. Ông thường đi ngủ lúc tám giờ tối, thức dậy lúc ba rưỡi sáng, ngồi viết một tiếng rồi phụ giúp vợ đẩy xe hàng ra trước cổng trường học. Nhà văn nghiền ngẫm ý tưởng trong khi đi dạo ở lô cao su gần nhà. Khi viết xong, Nguyễn Trí mang tác phẩm ra quán cà phê đọc cho bạn bè nghe, rồi gửi đến một số bạn viết văn thẩm định, cuối cùng gửi cho nhà văn Hồ Anh Thái, người ông gọi bằng “thầy”, soát lại. 
Tới đây ông sẽ viết chậm hơn: “Tôi không viết một tuần một cái nữa. Tôi viết nửa tháng một truyện ngắn, kỹ càng hơn, cẩn thận hơn. Tôi sẽ viết thành hai thể loại: Một cái thuộc về những gì tôi trải nghiệm. Cái kia viết về những gì tôi gặp trên đường”.

Nỗi đau lớn hơn vinh quang

Nguyễn Trí từng trả lời phỏng vấn báo chí khi vừa “đăng quang”: Bấy lâu tôi nghĩ “hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi”, nay tôi lại nghĩ đến câu “để một mai vươn hình hài lớn dậy”. 
Giải thưởng đã thay đổi ngoạn mục đời ông. Tuy nhiên trạng thái lâng lâng sung sướng tới mức không viết nổi chữ nào, chỉ kéo dài trong ba ngày: “Tôi đã trở lại trạng thái bình thường rồi. Đã viết lại được rồi, sau ba ngày”. 
Ông giải thích cho sự nhanh chóng bình thản trước niềm vui của mình: “Con người tôi vốn vậy, niềm đau trong đời tôi lớn hơn vinh quang này. Cha tôi chết, bi thiết lắm, anh tôi chết, cũng bi thiết lắm, anh chết, cha chết, tôi không có ở nhà. Mẹ tôi chết, đến khi tôi về đến nhà, nắp áo quan đã đậy rồi. Đứa con gái của tôi bị người ta đâm chết, bi thiết, rồi một đứa con trai bị ma tuý, hai đứa cháu nội bị mẹ bỏ đi… 
Những người bạn của tôi đã chết trên non cao. Đó là lí do tại sao cái chết ám ảnh trong truyện của tôi. Vì thế, khi tôi được tin giải cao quí về văn chương trong nước, tôi cũng mừng nhưng đến ngày thứ ba hết mất”.
Hiện tại anh sống cùng vợ và hai con: “Hai đứa này cũng ngoan nếu chúng không ngoan nữa thì tôi tự sát cho rồi. Thật đó”.
Hỏi anh sẽ làm gì với số tiền nhận được từ giải thưởng văn chương, anh bảo: “Tất cả mọi thứ tôi đều dành cho bả. Tôi không uống rượu, không hút thuốc một người đàn ông mà có hai thứ để vui, tôi đều không thì xem ra nhu cầu sống của tôi đâu có cao”.
Còn nhớ trong vụ án người mẹ tuổi teen phạm tội giết người, chính vợ ông đã giúp bế đứa con bốn tháng tuổi cho tội phạm 17 tuổi đứng trước vành móng ngựa. Còn ông, người cha đau khổ đã xin giảm án cho kẻ giết con mình.
Ông từng tâm sự với báo chí: “Tôi luôn thua vợ trên mọi phương diện. Nhưng có hai lần bà ấy thua tôi, thua tâm phục khẩu phục. Lần thứ nhất, tôi tuyên bố bỏ thuốc lá, bà đã cười mỉa mai. Nhờ nụ cười đó mà tôi bỏ được. Lần thứ hai, tôi tuyên bố bỏ rượu, bà không mỉa mai mà bĩu môi. Vì cái bĩu môi này mà tôi bỏ rượu cho đến ngày hôm nay. Một giọt, dù là bia tôi cũng không. Ở đời chẳng có gì khó, chỉ cần một tấm lòng”.

Nguồn: Tiền phong

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Kỳ lạ tục thờ ngựa ở Huế

Có lẽ trên cả nước ta hiếm có địa phương nào thờ con ngựa như ở xứ Huế. Ngựa được thờ như con vật linh thiêng, gồm ngựa đá, ngựa giấy và ngựa gỗ; màu sắc chủ yếu đỏ và trắng tượng trưng cho một vị thần.

Các loại ngựa được thờ trong am miếu ở Huế.
Từ tục thờ ngựa độc đáo ở Huế
Tục thờ rất lạ, lạ ở chỗ, có đến gần 100% dân số ở Huế lập am, miếu để thờ, từ trong nhà ra đến sân, trong số các am miếu phổ biến nhất là miếu thờ các cô, cậu, ông chiêm thành, ông quận, ở đó họ đều có thờ con ngựa. Vậy, con ngựa có gì mà phải thờ, vì sao dân tin tôn thờ đến như thế?
Ông Lê Văn Ngộ, Trưởng ban Bảo trợ di tích Điện Huệ Nam cho biết: “Tục thờ ngựa có từ rất lâu đời, nhất là ở các am, miếu và đền đài. Trong dân gian thường quan niệm, âm dương nhất lý (tức lúc sống thế nào, chết cũng như vậy), họ quan niệm khi các vị thánh còn sống dùng ngựa để xuất quân ra trận, dẹp loạn đem lại bình yên cho đất nước nên khi chết có lẽ dưới âm dương hoặc trên trời cao vẫn thế các vị thần dùng ngựa để đi lại, đi chầu, hoặc giảng đạo…”.
Theo đó, ngựa đỏ dùng cho cho tôn ông ngự giá, chu du, hành đạo (6 tôn ông: gồm ngài đệ nhất, đệ nhị, đệ tam giám sát, đệ tam thủy phủ, đệ ngũ, đệ nhị ngoại), còn ngựa trắng là để thờ các cậu ngoại càng.
Trong tứ phủ đền thần, 2 loại ngựa này được thờ để tôn ông đi chầu. Và khi làm ngựa để thờ, người thợ làm ngựa phải hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như ngựa dùng ở cõi nào, ví dụ ở cõi thượng thiên (cõi trên trời- PV) thì phải làm khác với ngựa thờ ở am miếu cõi trung thiên (cõi trần gian- PV). Do tôn ông ngự giá ở cõi thượng thiên nên khi làm ngựa thờ ngựa đó phải có cánh, vì ở cõi trời nên ngựa có cánh dùng để bay, còn ở cõi trung thiên thì làm ngựa như ngựa ra chiến trận bình thường, có yên ngựa, dây cương, đao kiếm để ra trận…chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy cảnh thờ ngựa đá ở đền Đức thánh trần Hưng Đạo Đại Vương, hay các đền Quan Thánh, và ngựa đá ở các am miếu trong dân gian.
Người dân Huế quan niệm, ở trên trời cao, giữa dân gian và âm phủ các đức thánh cũng dùng ngựa để đi chầu, đi hành đạo nên khi họ đặt am miếu thờ cúng phải thờ ngựa thể hiện lòng thành kính của mình đối với các vị thần thánh của đất nước, những vị thánh đã có công mở mang bờ cõi, giữ vững bình yên cho đất nước. Cho nên, các am, cảnh, miếu ở Huế, người dân thờ ngựa đá là như thế, ông Ngộ nhấn mạnh.
Chính vì việc trân trọng thờ ngựa như thờ một trong những con vật linh thiêng ở Huế nên ngựa cũng chiếm một vị trí rất đặc biệt trong am miếu, đền đài…ví như ở đền thờ Hưng Đạo Đại Vương ở 399 đường Chi Lăng, cặp ngựa đá được làm y như ngựa thật, màu đỏ, được đặt trang trọng trước đền, hai con đối xứng nhau trong tư thế sẵn sàng bất cứ lúc nào ngài xuất quân, còn ngựa trắng được người dân Huế thờ phổ biến nhất ở các am miếu ngoài trời.
Ngày nay, khi dâng cúng ngựa cho các cõi, người ta thường làm con ngựa to nhất bằng màu đỏ để dâng cúng cho tôn ông và những con ngựa nhỏ bằng màu trắng để cúng cho các cậu ngoại càng.
Đến chuyện dân làm vàng mã hình ngựa để đốt cho các thần
Cứ mỗi dịp xuân đến, Tết về người dân Huế lại tất bật chuẩn bị chu đáo trang hoàng nhà cửa, trong số những vật dụng như chúng ta thường thấy là vàng mã, áo binh, giấy tiền vàng bạc tiền, xe hơi,…thỏi vàng thì không thể thiếu hình ảnh những con ngựa giấy được làm giống y như thật để đốt trong dịp cuối năm, trong đêm giao thừa đầu năm mới.

Và các loại ngựa bằng giấy để cúng cho các ngài.
Cụ Hoàng Bảo Ngọc, 80 tuổi, ở đường Mai Thúc Loan, TP.Huế cho biết: “Hàng năm, cứ Tết đến tôi lại đến các cửa tiệm đồ giấy đặt mua 3 cặp ngựa đầy đủ màu sắc trắng, đen, đỏ để đốt cho các ngài. Tôi được biết, truyền thống thờ ngựa thần đã có từ lâu đời ở Huế, nhất là sau năm 1975 phong trào thờ am miếu ở Huế bắt đầu phát triển mạnh. Vì đây là đất thần kinh, xứ sở kinh kì, trải qua bao binh đao lửa đạn, chết chóc lại nằm trên đất chiêm thành nên họ luôn quan niệm các thần, ngài luôn ngự trị ở đâu đây trên đất Huế vì thế ngựa được người ta xem như một linh vật dụng cho các ngài (thần) đi lại, ngựa để các ngài đi chầu, đi giảng đạo…”.
Ông Nguyễn Văn Bân, 78 tuổi, nguyên Phó Ban tổ chức lễ hội Điện Huệ Nam (Điện Hòn Chén), nối nghiệp cha ông cho biết: “Không phải ngẫu nhiên mà người dân Huế bày ra các con ngựa để thờ và càng không phải ngẫu nhiên mà người ta chia ra các loại ngựa màu sắc khác nhau để thờ thần này, thần khác, tất cả đều có lý do của nó. Tôi sinh ra trong gia đình có 3 đời làm thủ am nên tôi cũng như những người theo đạo thánh đều am tường về cách thờ ngựa ở Huế. Trong đó, người Huế đặc biệt lưu tâm đến 2 loại ngựa được làm bằng đá, hoặc gỗ, giấy màu đỏ và trắng giống y như ngựa thật để thờ, trong đó ngựa màu đỏ để thờ cho lục vị tôn ông (quan lớn) và ngựa trắng dành cho các cậu ngoại càng (quan nhỏ) cứ mỗi năm một lần tôi đều sắm cho các ngài một cặp ngựa để thờ trước am điện”.
Trong dân gian cũng truyền miệng nhau rằng, nếu như thờ ngựa trắng là con ngựa bình thường với đầy đủ tứ chi, dây cương, đao kiếm thì thờ ngựa đỏ con ngựa đó phải có thêm đôi cánh để bay, người dân Huế quan niệm, ngựa đỏ ở cõi thượng thiên nên di chuyển theo hướng bay là chủ yếu nên đã lắp thêm đôi cánh.
Còn người dân Huế khi thờ ngựa đen có nghĩa là họ đã thờ ngựa đó cho ông chiêm thành (bản thân ông Chiêm là người thượng nên ông cũng ăn toàn những vật dụng là đồ nướng) nên khi cúng ngài cũng phải có những vật dụng như sau: khoai nướng, thịt nướng (thịt heo quay), xôi đậu đen…
Anh Xích, chủ cửa hàng vàng mã trên đường Điện Biên Phủ cho biết: “Chính vì sự linh thiêng của các bậc thánh và các cậu ngoại càng nên khi người ta đặt cho tôi làm ngựa, chúng tôi đặc biệt hết sức lưu ý, công đoạn làm ngựa cũng rất công phu và tỉ mỉ, đòi hỏi người làm phải làm giống y như thật và tuyệt đối cấm kị khi làm thiếu một bộ phận, chi tiết nào đó của ngựa, như vậy là xúc phạm đến thần linh. Cả đời tôi làm vàng mã, tôi luôn quan niệm đã không tin thì thôi, nhưng khi đã tin thì phải là có nên không bao giờ tôi dám mạo phạm”.
Nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Huế, ông Hồ Tấn Phan nhấn mạnh: “Xét về khoa học, người Huế có cái cách thờ rất đặc biệt, ở chỗ không có địa phương nào có nhiều am miếu như ở Huế. Cũng chính vì thế, cách thờ ngựa ở am miếu Huế cũng xuất phát từ quan niệm, ngựa là một trong những vật linh thiêng như: Rồng, rắn, rùa, voi, cá gáy (cá chép)…trong số những linh vật đó ngựa được xem là con trung thành nhất. Ngoài 2 con ngựa đỏ, trắng, ở Huế người dân còn thờ ngựa đen dâng cho ông Chiêm Thành, họ quan niệm rằng người Chiêm sống trên đất Huế nên họ thờ ngựa đen, và trên mỗi cái am họ còn thờ ngựa xanh lục cho Thái tử Đông Cung và ngựa vàng cho Ngài đệ nhị…tất cả các loại ngựa này khác về màu sắc nhưng đều dùng làm phương tiện đi lại cho các ngài- thần”.
Theo H.Phương (PetroTimes)
http://hue.vnn.vn/vi/58/5610/Nhip-song-Hue/Ky-la-tuc-tho-ngua-o-Hue.html#.Ut5vAxBurIU

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nghề thuốc Cẩm Lệ ở Huế

HOÀNG HƯƠNG TRANG

Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
Nghề thuốc Cẩm Lệ ở Huế
Thuốc Cẩm Lệ là thuốc rời, muốn hút phải vốc một loại ít quấn vào tờ giấy quyến, vấn như hình sâu kèn, người lao động, nông dân vấn điếu to bằng ngón tay, người trí thức sang cả chỉ vấn thanh cảnh, nhỏ như sâu kèn thôi. Hút chỉ 3 phần tư điếu thuốc, phần còn lại gọi là tàn thuốc thường dán lên cột nhà, dán dưới phản gỗ v.v..., người nghèo khó không có tiền mua thuốc phải đi lột những tàn thuốc ấy, gom 3, 4 tàn lại thì quấn được một điếu hút cho đỡ ghiền.

Có điều lạ, thuốc Cẩm Lệ vốn nổi tiếng không những ở Huế mà tiếng tăm còn lan xa đến Quảng Trị, Quảng Bình vào tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Mỗi khi có dịp đi Huế hoặc có ai đi Huế đều gởi gắm mua vài lượng thuốc Cẩm Lệ coi là món quà quý giá. Nhưng thuốc Cẩm Lệ ấy lại không phải do đất Huế trồng nên mà gốc gác thuốc ngon là do trồng ở đất Quảng Nam, làng Cẩm Lệ là thuốc thượng hạng. Nhưng nghịch lý là đất Quảng Nam trồng được thuốc ngon, mà không bài chế thành thuốc ngon đặc biệt như ở Huế, cho nên họ thường trồng cây thuốc, hái lá thuốc, hong phơi khô, đóng thành kiện rồi “xuất khẩu” ra Huế, người mua về, có kỹ thuật chế biến riêng thành thứ thuốc có hương vị, phẩm chất độc đáo, không nơi nào có được, và trở thành món hàng quý Thuốc Cẩm Lệ Huế.

Thật ra không phải ở Huế ai cũng bào chế được đâu. Người đầu tiên tìm ra cách bào chế độc đáo, ngon nổi tiếng, đến tận bây giờ, những ông bà già ngoài 80 vẫn còn nhắc đến tên tuổi, đó là bà Cửu Mai ở đầu đường bờ Hột Mát, bây giờ là đường Bạch Đằng. Ngôi nhà số 10 đường Bạch Đằng là gốc gác gia truyền nghề thuốc Cẩm Lệ, trải qua nhiều đời và giàu có nổi tiếng nhờ vào công thức chế biến thuốc Cẩm Lệ ấy, đến đời thứ 4 thì bỏ nghề, vì con cháu lo học hành, lấy vợ lấy chồng ở xa, làm các ngành nghề khác nên không còn tiếp tục làm thuốc Cẩm Lệ nữa.

Thuở ấy, cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 chỉ mới có một nhà làm thuốc Cẩm Lệ là bà Cửu Mai, người làng Vân Thê mà thôi, vài chục năm sau, một số người bắt chước làm theo và cũng nổi tiếng đó là bà Cửu Ới ở Gia Hội, đời con là chị Hàm ở Trần Hưng Đạo, gia đình này là họ hàng, cùng làng Vân Thê với bà Cửu Mai, nên làm theo công thức của bà Cửu Mai, còn có bà Bửu Hoàng ở cửa Đông Ba là cháu bà Cửu Mai, rồi tới mụ Thôi ở gần đường Ngự Viên, cô Phòng ở chợ Đông Ba, mụ Cháu ở An Cựu v.v... đều là thế hệ đi sau bà Cửu Mai cả.

Đến nay nghề thuốc Cẩm Lệ ở Huế đã thất truyền, mọi người đều hút thuốc điếu gọi là thuốc tây, không phiền phức phải vấn sâu kèn, thuốc tây mua đâu cũng có, dễ dàng, tiện lợi hơn. Tuy nhiên nhiều người vẫn còn nhớ hương vị độc đáo của thuốc Cẩm Lệ. Để nhớ đến người khai sơn phá thạch nghề thuốc Cẩm Lệ đã hơn trăm năm nay, nhớ ơn bà cố nội Cửu Mai của dòng họ tôi, nhớ bà mà con cháu giàu có, nhiều ruộng, lắm nhà, được dân Huế còn mãi nhớ tên bà và không quên sản nghiệp của bà vang danh một thuở. Có lẽ cả dòng họ chỉ còn tôi là người duy nhất còn nhớ được cái công thức chế biến thuốc Cẩm Lệ. Tôi viết lại bài này, trước hết là để thắp một nén nhang trầm và một lời tri ân đến Bà Cố của dòng họ tôi, thứ hai là ghi lại một nghề đã thất truyền, chẳng còn ai biết nữa. Tôi không có ý đồ làm sống lại một nghề đã thất truyền, nhất là nghề làm thuốc Cẩm Lệ, rất có hại cho sức khỏe, nó cũng gần như một loại thuốc nghiện, nặng hơn thuốc lá điếu, nặng hơn cả thuốc Lào bây giờ.

Ở Huế không trồng được cây thuốc ngon như đất Cẩm Lệ ở Quảng Nam, nhưng ở Quảng Nam không bào chế được thành một loại thuốc ngon độc đáo bằng ở Huế. Do vậy, đến mùa hái lá thuốc, hong phơi xong, đóng thành từng kiện lớn khoảng 100 kilô, rồi chở cả xe tải ra Huế bán. Ở Huế coi thuốc, thử thuốc loại ngon số 1 hay số 2, ngả giá xong, mua cả xe tải, chất vào kho thuốc để chế biến dần quanh năm. Có những tốp thợ làm thuốc, cuốn thuốc đến nhà, lấy thuốc từ kho ra, xổ thuốc phân loại, loại lá to để riêng làm lá áo, loại lá nhỏ, lá nhánh để riêng làm ruột. Lá áo được làm cẩn thận, tước rất khéo tay để nguyên lá không bị rách, còn cọng ở giữa lấy nguyên vẹn ra riêng, bó thành từng bó khoảng và ký lô (cọng nghĩa là cái sóng lá). Lá nhánh, lá nhỏ, được tước ra để riêng từng đống, cọng cũng để riêng. Người ta thường nấu loại cọng thuốc trong nồi rất lớn hoặc một cái thùng phuy, nấu cho đến khi nước còn ít, đặc lại, lúc bấy giờ để loại nước cốt này cho nguội, lá thuốc đã tước đánh thành đống trên nền nhà xi-măng đã lau sạch, dùng nước cốt rảy vào, xóc xới cho tơi khi nước cốt thấm vào thuốc dịu tay là được, đó là ruột thuốc. Có lá lớn để riêng làm áo cũng rảy nước cốt cho dịu, để riêng làm áo. Cứ vài ba lá trải ra, cuốn dần ruột thuốc theo hình tròn, dài mãi ra, cuốn khoanh tròn như bánh pháo, mỗi khoanh thuốc khoảng vài ký lô, mỗi đợt cuốn thuốc có khoảng vài chục khoanh chất chồng cao lên, để khỏi khô, người ta lấy lá chuối tươi quấn chung quanh. Như thế là tốp thợ làm thuốc đã xong. Đến giai đoạn xắt thuốc, có thợ xắt riêng, có bàn xắt, dao xắt là một dao yếm to để xắt lát thuốc mỏng và đều, xắt đến đâu, cuốn thuốc mở ra dần cho đến hết, thuốc xắt vào quả thuốc xây tròn cho thuốc đều khắp quả, về sau có máy xắt thuốc nhanh hơn. Quả cũng lót lá chuối tươi, quả đầy cũng được đậy lá chuối tươi như thế thuốc còn mềm mại không bị khô, thuốc khô hút khét mất hương vị ngon. Người bán thường cân thuốc bằng cái cân như cân thuốc Bắc, gói thuốc bằng lá chuối tươi bên ngoài, bên trong lót lá chuối khô, gói thuốc kèm theo vài dung giấy quyến để người hút tự xé một mảnh giấy quyến hình chữ nhật, vốc một ít thuốc cho vào và cuốn theo hình sâu kèn. Loại thuốc ấy hút rất nghiện. Giai đoạn về sau có nhiều nhà chế biến còn muốn cho người hút nghiện hơn nữa, họ còn dã tâm cho cả xái thuốc phiện và nồi nấu cọng để rảy lên lá thuốc.

Khoảng từ 30 năm nay nghề thuốc Cẩm Lệ đã không còn nữa, những hàng bán thuốc ở Huế không thấy ai nhắc tới nữa. Một nghề đã thất truyền hoàn toàn, còn chăng là ký ức của những người già còn nhớ lại thôi.

H.H.T
(SDB11/12-13)
http://tapchisonghuong.com.vn/

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ TRẦM KHA, HQ TRUNG ÚY NGUYỄN VĂN ĐỒNG HY SINH NGÀY 19-01-1974 TẠI HOÀNG SA

Trong danh sách liệt sĩ hy sinh trong trận đánh quân xâm lược Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa năm 1974 phổ biến trên các phương tiện truyền thông, có người bạn thân của chúng tôi là Trung úy Hải quân Nguyễn Văn Đồng, anh là nhà thơ với bút danh  Trầm Kha có thơ đăng trên các báo văn nghệ Sài Gòn như Văn, Khởi Hành...Trung úy Nguyễn Văn Đồng tốt nghiệp trường Võ bị Sĩ quan Đà Lạt,Sinh sống tại Phú Cam, thành phố Huế.

DANH SÁCH LIỆT SĨ HY SINH TRONG TRẬN HOÀNG SA 1974

T/T Chức vụ và họ Tên Đơn vị
1 Tr/sĩ CK Trần Văn Ba HQ 10
2 HS/CK Phạm Văn Ba HQ 10
3 HQ đại-úy Vũ Văn Bang HQ 10
4 HS/CK Trần Văn Bảy HQ 10
5 Th/sĩ nhất quản nội trưởng TP Châu HQ 10
6 Tr/sĩ nhất VT Phan Tiến Chung HQ 10
7 HS/GL Nguyễn Xuân Cường HQ 10
8 HS/ÐK Trần Văn Cường HQ 10
9 Tr/sĩ BT Trần Văn Đàm HQ 10
10 HS1 vận chuyển Nguyễn Thành Danh HQ 4
11 HS vận-chuyển Trương Hồng
Đào HQ 10
12 HS1/DV Trần Văn Định HQ 10
13 Trung-úy NN Lê Văn Đơn Người Nhái
14 HS/CK Nguyễn Văn Đông HQ 10
15 HQ tr/úy Phạm Văn Đồng HQ 10
16 HQ trung-úy Nguyễn Văn Đồng HQ 5
17 Tr/sĩ TP Đức HQ 10
18 TT1/TP Nguyễn Văn Đức HQ 10
19 Tr/sĩ TX Lê Anh Dũng HQ 10
20 HS/QK Nguyễn Văn Duyên HQ 16
21 Th/sĩ ÐT Nguyễn Phú Hào HQ 5
22 HS/ÐK Nguyễn Ngọc Hòa HQ 10
23 HS/GL Nguyễn Văn (nhỏ tuổi nhất) Hoàng HQ 10
24 HQ trung-úy CK Vũ Ðình Huân HQ 10
25 HS/TP Phan Văn Hùng Hùng HQ 10
26 Th/sĩ nhất ÐK Võ Thế Kiệt Kiệt HQ 10
27 Th/sĩ vận-chuyển Hoàng Ngọc (nhiều tuổi
nhất)
Lễ HQ 10
28 TT1/TX Phạm Văn Lèo HQ 10
29 Th/sĩ nhất CK Phan Tấn Liêng HQ 10
30 HS/TP Nguyễn Văn Lợi HQ 10
31 TT1/CK Dương Văn Lợi HQ 10
32 HS/NN Ðỗ Văn Long Người Nhái
33 Tr/sĩ ÐK Lai Viết Luận HQ 10
34 HS1/CK Ðinh Hoàng Mai HQ 10
35 HS1/TP Nguyễn Quang Mến HQ 10
36 HS1/CK Trần Văn Mộng HQ 10
37 Tr/sĩ TP Nam HQ 10
38 TT1/TP Nguyễn Văn Nghĩa HQ 10
39 Tr/sĩ GL Ngô Văn Ơn HQ 10
40 HS/PT Nguyễn Văn Phương HQ 10
713
T/T Chức vụ và họ Tên Đơn vị
41 TT1/PT Nguyễn Hữu Phương HQ 10
42 TS1/TP Nguyễn Ðình Quang HQ 5
43 TT1/TP Lý Phùng Quy HQ 10
44 Tr/sĩ CK Phạm Văn Quý HQ 10
45 Tr/sĩ TP Huỳnh Kim Sang HQ 10
46 HS1/vận chuyển Ngô Sáu HQ 10
47 Tr/sĩ CK Nguyễn Tấn Sĩ HQ 10
48 TT/TP Thi Văn Sinh HQ 10
49 Tr/sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn HQ 10
50 HS1/Vận-chuyển Lê Văn Tây HQ 10
51 HQ trung tá HT Ngụy Văn Thà HQ 10
52 HQđại-úy HH/TT Huỳnh Duy Thạch HQ 10
53 HS/TP Nguyễn Văn Thân HQ 10
54 TT/DT Thanh HQ 10
55 HQ tr/úy Ngô Chí Thành HQ 10
56 HS/PT Trần Văn Thêm HQ 10
57 HS/PT Phan Văn Thép HQ 10
58 HS1/vận-chuyển Lương Thanh Thi HQ 10
59 Th/sĩ DT Thọ HQ 10
60 TT1/VT Phạm Văn Thu HQ 10
61 TT1/DT Ðinh Văn Thục HQ 10
62 Tr/sĩ GL Vương Thương HQ 10
63 TT/NN Nguyễn Văn Tiến Người Nhái
64 HQ thiếu-tá HP Nguyễn Thành Trí HQ 10
65 Tr/sĩ TP Nguyễn Thành Trọng HQ 10
66 HS vận-chuyển Huỳnh Công Trứ HQ 10
67 TS/NN Ðinh Hữu Từ Người Nhái
68 Tr/sĩ QK Nguyễn Văn Tuân HQ 10
69 TT1/CK Châu Túy Tuấn HQ 10
70 Biệt hải Nguyễn Văn Vượng HQ 4
71 HQ trung-úy Nguyễn Phúc Xá HQ 10
72 Tr/sĩ TP Nguyễn Vĩnh Xuân HQ 10
73 Tr/sĩ ÐT Nguyễn Quang Xuân HQ 10
74 TS/ÐK Xuân HQ 16

Ghi chú của Blog:

HQ Trung Úy Nguyễn Văn Đồng HQ5 là nhà thơ Trầm Kha (có  thơ trên tạp chí VĂN trước 1975)
 
Tưởng nhớ Trầm Kha Nguyễn Văn Đồng
1948 - 1974


Thơ TRẦM KHA
TÀN CUỘC

khi về bóng lạ tên người

trong mê hoang đã lạnh vùi xương da

khói sương riêng bóng với ta

nghe hờ điệp khúc quân qua mặt thành

bỗng xa, rồi bỗng mông mênh

mới hay hồ điệp bồng bềnh năm canh

say hồn theo ánh trăng xanh

ngẩn ngơ trong cõi phù vân một mình

cỏ hoa đắp đổi cuộc tình

chút riêng tư đã hết đành nhớ quên. 
( VĂN số 181 ngày 1 tháng 7 năm 1971 )

(Tư liệu ảnh do người thân của bạn Nguyễn Văn Đồng cung cấp)

BÀI THƠ CỦA MỘT NHÀ THƠ NGƯỜI MIỀN BẮC SÁNG TÁC NĂM 1974 SAU TRẬN ĐÁNH CỦA QUÂN XÂM LƯỢC TRUNG QUỐC ĐẢO HOÀNG SA

Anh ruột tôi là 1 liệt sĩ hy sinh trên chiến hạm HQ 10, Nhật Tảo. Mấy chục năm nay tôi đã đọc biết bao nhiêu bài thơ, đoạn văn viết để tri ân các liệt sĩ anh hùng. Có một bài thơ thật đặc biệt với tôi vì nó được viết bởi 1 người miền bắc (khuyết danh) năm 1974. Theo đặc san Quảng Đà phát hành ở thủ đô Hoa thịnh Đốn, Hoa Kỳ, năm 2005 (Trang 84), bài thơ này đã được gửi từ miền bắc Việt Nam sang Pháp rồi từ đó chuyển về miền nam Việt Nam năm 1974 sau trận Hoảng Sa. Tôi đọc bài thơ này không biết bao nhiêu lần không chán... Lời thơ thật cảm động, sẻ chia và cũng đầy hùng khí. Vì tình hình chính trị năm 1974 Tác giả đã không thể để tên của mình. Hy vọng bây giờ với internet, chúng ta có thể tìm ra danh tánh của vị tác giả bài thơ này (Vũ Nam Nhuận ở Virginia)



TƯỞNG NIỆM HOÀNG SA

 
Xin kể thêm tôi: thành 19 triệu một người
Trái tim tôi đập về trong đó
Dòng máu xa nguồn bỗng giận sôi
Hoàng Sa, Hoàng Sa
Cái tên nghe buồn từ thuở ban sơ
Đối với tôi đã là da thịt
Dẫu chỉ là một mảnh san hô
Lại đau chăng vết buốt tự ngàn xưa
Trong sử cũ còn hằn dấu ngựa
Từ thảo nguyên xa
Từ biển ải lửa
Khói tràn về đen thẫm những ước mơ
Đếm bao người vợ đợi chờ
Em ơi, trên từng trang sử nhỏ

Xin kể thêm tôi, thành 19 triệu một người
Thành viên gạch hồng tươi
Làm bức tường thành, ngăn triền sóng dữ
Giữ không cho rơi một giọt mật nào
Mỗi giọt ra đi chính mỗi giọt máu đào, bao đời cha ông nhỏ xuống
Người bạn hải quân miền nam ơi
Trên đảo mù sương hôm đó có tay anh cầm súng
Từ những hạm tàu rẽ sóng đại dương
Tôi thấy pháo anh giương nòng sừng sựng
Cuộc chiến đấu kết thúc dù bị thảm
Bài ca anh hùng vẫn vọng trời cao

Xin cho thơ tôi góp phát súng chào
Vĩnh biệt tuần dương chìm giữa sóng
Đáy biển âm thầm ngàn năm lạnh cóng
Vẫn mặn nồng lòng tổ quốc ta

Một thi sĩ miền Bắc khuyết danh (1974 )
Từ INTERNET

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

HOÀI NIỆM XUÂN XA - Bài của Võ Chân Cửu

Tượng đài mới không còn cảnh súng ống và giáo mác chỉa ngang. Hình tượng đã thu gọn. 40 năm sau chiến tranh, sự nghi ngại hoặc quy chụp vẫn còn lấp ló.
Cái ác hình như đã được nâng cấp với những loại súng giết người hàng loạt, với bom vi khuẩn… Những câu thơ liệu có còn giúp con người gần nhau không?
Sau buổi viếng tang một nhà thơ vừa nằm xuống sau thời gian ủ bệnh, chúng tôi dừng lại nghỉ bên lề một đô thị mới. Màu xanh cây trồng và những mặt hồ khiến mọi người khó nghĩ nơi đây xưa kia là bãi chiến trường. Chỉ có màu hoa tím bằng lăng và những chảo truyền hình.
Đã vào cuối năm, người, xe trên phố đều hối hả. Tôi cảm ơn những phút thảnh thơi trên sườn đồi sau khung biệt thự mà người bạn văn nghệ tạo dựng được. Bỗng chuông Viber trên điện thoại reng êm. Một bạn hữu từ bên kia bờ đại dương sau lời chúc Tết nói những lời khá thẳng: Chúc các ông sẽ viết được nhiều nữa. Nhưng làm sao viết cho thế hệ trẻ mai sau và lới trẻ hôm nay đọc được. Chứ đừng cứ than vãn hay hoài niệm mãi. Mong thay!
Lời nhắc như nhát dao cứa. Tôi về đem câu nhắc nhở ấy đến cho nhiều bạn làm văn chương. Có người đang chăm bẳm dựng cốt truyện cho những cuộc thi mới phát động. Có người chuyên lục, xào những bài báo để biến thành bút ký để trả nợ cho những ngày được đi giao lưu, nghỉ dưỡng từ nguồn kinh phí mang danh đi thực tế. Người suốt ngày hí hố lên “phây”- (Face book) tự cho mình tự do nhất lập tức ngụy biện rằng ta viết cho muôn đời, trước sau đều có thể đọc, chứ việc gì phải đặt vấn đề cũ rích là “viết cho ai”!
Vô thường!
Tôi giao thiệp khá nhiều lứa cầm bút. Chuyên văn chương mà! “Xấu đẹp tùy người đối diện”. Câu đùa giỡn ngày xưa về những chàng hoặc nàng chuyên tham gia “tìm bạn bốn phương”, không ngờ là cách trả lời khéo nhất. Từ bao năm nay, tôi luôn nhắc mình không để lệ thuộc vào những yêu cầu của các phe nhóm cầm chịch việc đăng tải. Vậy thì nhân dịp hết năm, thử điểm qua vài tác phẩm của những người quen biết vậy.
“Dì Lucia”, tập truyện ngắn của Mang Viên Long, cùng tập thơ “Phục Hưng Tôi & Em” của Từ Hoài Tấn phát hành trong tháng 12-2013. Hai tác phẩm được các tác giả gửi gắm nhiều tâm trạng. Cả 2 đều là tác giả quen thuộc, nhiều triển vọng trước năm 1975. Dì Lucia gồm 13 truyện ngắn được Mang Viên Long viết cả trước và sau mốc lịch sử đáng nhớ (1975). Dưới mỗi truyện đều có ghi ngày hoàn thành. Truyện “Những Mùa Trăng Có Nhau” đã đăng trên Tuổi Ngọc, tạp chí dành cho tuổi mới lớn ở Sài Gòn năm 1972; Dì Lucia đăng trên tạp chí Bách Khoa tháng 11-1973. Còn “Điều Bất Ngờ Đã Đến” được viết năm 1985; “Dọc Theo Một Dãy Phố” được sáng tác vào tháng 12-2012.
Người ta dễ nhận ra một Mang Viên Long trước sau như một trong cách hành văn, cách chọn và diễn tả nhân vật. Mang Viên Long khác với một Võ Phiến chi ly khi diễn tả bên ngoài mà lắt léo khi suy diễn nội tâm của con người, sự việc. Anh cũng rất khác với Võ Hồng, vị thầy giáo đôn hậu, chi tiết nào cũng mang tình cảm hướng về cái đẹp. Đó là 2 nhà văn Miền Trung khá gần gũi, nên hình như anh thừa hưởng được sự tinh tế của cả 2 vị. Anh không nói thẳng về nỗi đau mình phải chịu đựng sau ngày “mất dạy”; không oán trách cũng không than thở. Chỉ cho nó trôi đi như dòng đời. Nhưng nếu để ý, người ta nhìn thấy sự mất mát đâu đó làm trái tim tiếc nuối. Trong truyện ngắn “Chim Bay Về Đâu” viết năm 1985, nhân vật cô giáo Thương bị gia đình chồng buộc phải tự nguyện ly hôn vì lý do lý lịch, cho con đường thăng tiến của chồng được thênh thang. Đầu đuôi là 2 anh trai của Thương “vượt biên”. Ai đã sống ở Miền Trung những năm sau ngày hòa bình mới cảm thông được sự dòm ngó, tác động đến “sinh mệnh chính trị” của những người thuộc gia đình có người vượt biên. Cô giáo Thương sau khi ký đơn ly dị, đã bồng con về sống với cha mẹ ruột. Nhưng mỗi tuần cô phải bồng con đến trình diện công an xã một lần! Cuối cùng nàng chọn cách lẳng lặng bỏ đi xứ khác ở. Bức thư để lại cho cha mẹ viết:
Ngày 23 tháng 10 năm 1978
Kính thưa Ba Má
Con đã đắn đo, suy nghĩ kỹ rồi, con không thể sống ở nơi đây được nữa, con phải đi đến một nơi xa, thật xa, để kiếm một việc làm,để nuôi con, để có thể giúp đỡ ba má, để khỏi phải chết mòn vì kỷ niệm.
Con có để lại chút ít tiền trong ngăn tủ, ba má hãy cứ lấy ra mà chi tiêu. Con sẽ xin làm bất cứ việc gì để sống, miễn sống xa nơi này. Con xin gửi cháu Hải ở lại với Ba Má. Rồi con sẽ trở về đón cháu khi đã có nơi ăn ở, việc làm ổn định.
………..
Đoạn cuối, Mang Viên Long diễn tả cảnh người thiếu phụ một mình ra khỏi nhà:
“Buổi sớm mai thật tĩnh lặng. Thương thoáng ngước nhìn lên bầu trời, những cánh cò trắng đang chao đi, vỗ cánh lặng lẽ, không biết sẽ dừng nghỉ nơi đâu? Thương chợt dừng lại. nàng quay nhìn quê nhà một lần nữa. Làng xóm đang ngủ thiếp. Vạn vật im ắng, hoang sơ, như một thuở đất trời vừa mới được tạo dựng. Thương nghĩ thầm: Trong cõi đất trời mênh mông lạnh buốt này, ta sẽ đi về đâu ?”
Chắc có người đọc truyện này sẽ thốt lên rằng “nỗi khổ đau quá lớn mà tác giả hiền quá” ! Thực ra, ở đoạn trước, tác giả đã cho người cha của Thương nói với vợ: “Bà tưởng tôi là gỗ đá hay sao? Nhưng bà phải hiểu rằng, trên cõi đời này, không có ai lột da sống đời được cả. Đêm nào bà cũng tụng kinh mà không nhớ lời Đức Phật dạy là: “Vạn vật đều vô thường và khổ đau” sao?"
Quả nhiên vạn vật đều vô thường. Người vượt biên năm xưa, nay trở về sẽ trở thành “Việt Kiều yêu nước”. Nhưng còn nhân vật Thương? Có lẽ số phận nàng cũng đã bình yên như tác giả. Trong những năm thất nghiệp, Mang Viên Long dựng quầy “sửa khóa, làm chìa”, đêm về anh yên bình viết văn. Từ 2003 anh liên tục xin “liên kết” xuất bản tác phẩm mới. Dì Lucia được NXB Hội Nhà Văn cấp phép, là tác phẩm thứ 18, là tập sách thứ 13 in sau 1975. Sách được tác giả tự phát hành, nhưng nghe đâu cuốn nào cũng thu hồi được đủ tiền in!
Búp vẫn còn non ?
Khác với Mang Viên Long, các bài thơ đưa vào “Phục Hưng Tôi & Em” đều được Từ Hoài Tấn sáng tác trước 1975. Ngoài nhiều tập thơ in chung, năm 2003 và 2012 anh đã xuất bản 2 tập thơ riêng nhưng không để nhiều dấu ấn. Ngược lại, những bài sang tác trước 1975 lại được độc giả đón nhận. Chính nhiều bạn bè, thân hữu ở trong nước và nước ngoài đã giúp anh thực hiện tuyển tập thơ này. Một cách hoài niệm chăng? Hỏi cũng là trả lời.
Có mặt trong tuyển tập “Bông & Giấy”, Từ Hoài Tấn từng được xếp vào các tác giả “hậu hiện đại Việt Nam”. Nhưng đọc Phục Hưng Tôi& Em, người ta lại thấy giọng thơ phá cách của anh đã có từ xưa, như trong bài:
trên những búp non báo hiệu
Nơi ấy, nơi tất cả những khổ đau đã mọc thành cây cổ thụ và hoàng hôn không bao giờ dời đi
Mọi người sống và chết
Dưới trời cô đơn
Nơi ấy, nơi những bàn tay rời rã đưa lên không kịp chào
Giữa hai chuyến xe tốc hành về vực thẳm
Những người yêu nhau trong một thời đại cuối cùng
Không bao giờ nữa
Không bao giờ nữa
Nơi ấy, nơi những chùm hoa đầy giọt độc
Là thức ăn từng ngày của mọi người
Hãy vui sướng hãy ca hát
Hãy xum xoe hãy đùa giỡn
Trong bóng tối của lưỡi hái khổng lồ
Cái chết không ngừng bủa xuống
Cùng với lời kêu gọi
Cùng với lời ca ngợi
Những chùm nho thành sủng
Nơi ấy, có những điều nghe không được nói không được
Và phải bịt chặt hai lỗ tai phải khâu lại mồm mép
Con mắt được chế tạo sẵn trưng bày ở các cửa hàng
Cùng những hình nhân qua lại trong lồng kiếng
Nơi ấy không có gì để nói
Nhưng
Trên những búp non vừa mới thấy đêm qua
Trong khu vườn của loài hoa tội ác
Như báo hiệu một điều gì
 (1969)
Qua Từ Hoài Tấn, tập thơ này cho thấy mọi phân định, gán ghép về trường phái đều khiên cưỡng. Sau trường thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, nhiều nhà thơ biết nhìn sự vật với cặp mắt sắp đặt sự vật. Cái bí của các nhà thơ tự nhận là đang “đương đại” là đã không thấy hết dòng chảy thơ ca Miền Nam 1954-1975. Phải chăng búp thơ năm nào nay vẫn còn non?
 “… Phê bình đã bỏ quên thơ Miền Nam sau 1954- đây là mảng rất quan trọng. Thơ hiện nay vẫn nằm trong lãnh địa mà thơ Miền Nam cũ tạo ra… Thơ hôm nay đang cố vươn lên thơ Miền Nam trước đây và thơ chống Mỹ.”
 Nguyễn Thụy Kha
 (trích từ Tạp chí Văn học số 1-1994)
Trong những ngày tất niên Quý Ngọ, tôi muốn trích những dòng mà nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha ở đất Bắc đã viết từ 20 năm trước để tạm dừng chuyện “Dọc Đường”.

 Võ Chân Cửu (Lâm Đồng)

Chép lại từ  http://www.huongquenha.com/2014/01/hoai-niem-xuan-xa-bai-cua-vo-chan-cuu.html