Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

Thơ Trần Hữu Dũng

1.
Rượu sẵn sàng

Ngày ngày tôi uống thứ rượu độc
Chưng cất từ nỗi buồn dân tộc
Thứ rượu man rợ
Từ một phiên bản lập trình sẵn.

2.
Lys trắng

Nắng tháng Ba, ngập vườn hoa lys trắng
Chim họa mi hót trên mái nhà thờ
Còn tôi với tình yêu tắt lịm
Giữa đêm trăng mộng mị
Sung sướng tự hủy mình
Như con thiêu thân.

3.
Chịu đựng

Chịu đựng lúc nhỏ
Chịu đựng lúc mới lớn
Chịu đựng lúc về già
Thời này qua thời khác
Chuyện nầy qua chuyện khác
Mặc kệ tình yêu, khao khát, thú vui cuộc sống
Cái lỗ đen vũ trụ hút tôi vào
Và tôi tan biến vĩnh viễn.

TRẦN HỮU DŨNG
vanchuongviet.org

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Ngày 20-3-1966

Ngày 20 tháng 3 năm 1966 ở làng quê - An Truyền, tập thơ mỏng viết tay : Cơn mê 66 ra đời với bút hiệu mới : Từ Hoài Tấn. Chỉ là ngẫu nhiên thôi nhưng đã đeo đẳng qua mấy mươi năm rồi - 45 năm.
Và ngày 20-3 hàng năm là ngày Từ Hoài Tấn.

Ghi nhớ lại chút kỷ niệm.
20-3-2011

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

Thơ TRẦN VÀNG SAO


Nhà thơ Trần Vàng Sao (phải) - Ảnh: Hoàng Nam (tuanvietnam.net)

Những ngày tôi còn nhỏ ở Vỹ Dạ

(Trích)Thêm Ảnh


1. Cổ tay chị Miên rất đen
chị đeo chuỗi cườm tấm không đủ hột
ba chết đi để hai đứa mồ côi
chị ở Đông Xuyên em ở Vỹ Dạ
ngày kỵ cha thấy mặt nhau chị em mỗi đứa đứng mỗi góc
chị dựa cột nhà hai con mắt đỏ hoe
em mặc áo đen dài như người lớn
muốn chặt đầu tây một thằng

2. Tháng mười tháng mười một sông không có nước lên
chưa hết mùa mưa to nước đục mắt cá
những bọt nước đen mắc đầu ngọn cỏ
khúc củi rều trôi ngang
tôi ngồi bên này
nắng nửa dòng sông bên kia
thả ngọn lá tre trôi ra biển cho nổi trên nước mặn
trời xa không biết mấy
trời gần ở dưới đọt cây
không nghe ai hát một câu cho buồn

3. Tuổi thơ đến với đời giữa đồng bắt gió nhốt trong áo
tôi không biết ở sau lưng có con mắt đang nhìn soi gương thấy tôi nhăn mặt làm quỷ dọa tôi nuốt hột thầu đâu vô bụng
sợ mọc cây chết dại
cá không ăn muối cá ươn

4. Ngày nắng ngày mưa không nhớ được
cơn dông buổi chiều mưa tới buổi tối
đưa tay vuốt nước trên mặt không kịp
con mắt đỏ cay
ngó không thấy rõ mặt người
cứ thẳng đầu vuốt mặt mà đi
ngược gió nên mát trong tóc
con chim trên cây kêu tiếng rảnh rang
lượm hòn đá ném xuống vũng nước bên đường
không có điều chi buồn

5. Nhà tôi ở Vỹ Dạ
hàng xóm bà con thấy mặt nhau hàng ngày đứng bên này hàng hóp ngã nón
sang bên kia hàng hóp mượn gạo
(loong tộn loong bằng)
tôi có biết buồn chi không
đầu hôm súng nổ ở cầu Ông Thượng
chúng tôi cứ chia phe đánh giặc
xóm trên xóm dưới
không có đứa nào chết như ba tôi bị tây bắn ở An Hòa
về nhà tôi giấu súng bắn hột bì lời dưới chiếu
ngủ không rửa chân
không có đứa nào thiệt thù để giết

6. Nửa đêm thức dậy thắp đèn đi quanh vườn
không biết ban ngày có để quên chi
hộp diêm không và con rạm gãy càng đã chết
sợi chỉ buộc ngang…

10. Ngồi lâu một mình không có chi chơi
tôi bỏ hết những cục đá vào bọc
đi ra đồng vác mặt lên trời
giữa trưa thằng con ai thiệt dại đi dang nắng
tôi nghe nói to ở sau lưng
mai đau mạ nấu cháo hành
tôi ném mấy cục đá vào bụi câycon chi đập cánh bay ra…

13. Chó sủa đầu hôm xóm trên
sáng mai có người nằm chết giữa
lính đồn cầu Ông Thượng không đi tuần sớm nữa
đợi đến trưa vác gậy đâm bụi tre
ngó chi mấy việc của người lớn
tôi cười ngó gãy cả mụt măng…

17. Tôi ngó hết chung quanh mình
qua con đường dốc xuống một cái cầu
đám rước đi qua Phu Văn Lâu không thổi kèn đánh trống
áo xanh áo đỏ
áo thụng áo to
mặt người mặt giả mặt thật mặt nạ đất mặt nạ giấy
đi như tù đi trên đất đi như tù không nói không khóc
đi như tù hai tay không xích
tôi buồn vì con bửa củi không chịu ăn gỗ mục
đã chết trong hộp diêm
sáng mai đưa đi chôn ngoài cây khế
một cái đầu con gái ngó qua hàng rào
phì nước miếng làm ông kẹ nơi miệng
(ai cũng chết như hôm qua có người chết
không ai chôn ở ngoài đồng -
lính trong lô cốt trên đình bắn ra)
cái đầu con gái mất sau cửa sổ còn lại một cái cổ trắng đeo chuỗi cườm
tôi chạy vào nhà thả con chim có hột cườm nơi cổbay đi

18. Tôi không nhớ hết những ngày đã qua mưa tháng năm tháng bảy ngoài sân
bong bóng nổi bong bóng chìm
mẹ tôi không đi lấy chồng
cơm cục chấm cơm rỡi
ngọn lá tre xanh trôi ngược dòng nước
giọt mưa không chìm
.…

Trần Vàng Sao

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Cao Huy Khanh - VIỆT NAM: HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011: NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


Kỳ 63 – 14.3. 2011

Phạm Công Thiện

PHIÊU LƯU CUỘC ĐỜI, PHIÊU LƯU TƯ TƯỞNG
Nhà văn, nhà nghiên cứu tư tưởng sinh 1941 tại Mỹ Tho – Mất tháng 3.2011 tại Mỹ (71 tuổi).

Có năng khiếu ngoại ngữ từ nhỏ, nhờ đó tiếp thu các dòng tư tưởng, triết học thế giới – cả phương Tây lẫn phương Đông thời cổ điển lẫn hiện đại - từ rất sớm. Từø đó bắt đầu bước vào con đường sáng tạo viết nhiều chuyên luận văn chương triết lý, cả làm thơ viết văn, in một số tác phẩm văn thơ, triết học gây tiếng vang trong thập niên 60. Nhanh chóng nổi tiếng, được xem đã đem lại một luồng sinh khí mới trong nền văn hóa miền Nam.
Tuy gia đình theo đạo Thiên Chúa nhưng lại có cảm tình nghiêng về đạo Phật nên nghiên cứu nhiều về Phật học. Năm 1964 gặp khủng hoảng tinh thần nên bỏ ra Nha Trang tu đạo Phật mang pháp danh Thích Nguyên Tánh.
Được một thời gian thì bỏ về Sài Gòn đi dạy học rồi được sự bảo trợ của Hòa thượng Thích Minh Châu gia nhập ĐH Vạn Hạnh (của Giáo hội PGVN Thống nhất) mà hòa thượng là hiệu trưởng làm giảng sư triết, trưởng khoa của trường, tham gia phụ trách tạp chí “Tư tưởng” của giáo hội.
Bỗng nhiên đến năm 1970 nhân một chuyến tháp tùng hòa thượng đi dự hội nghị Phật giáo quốc tế ở Pháp đã lặng lẽ… rút khỏi đoàn “trốn” ở lại Paris luôn!
Từ đó sống một cuộc đời nghệ sĩ lang thang khắp nơi qua nhiều nước từ Israel đến Đức. Sau đó ở lại Pháp thời gian lâu nhất, cởi bỏ áo tu lấy vợ (người Huế) tại đây, dạy triết học ĐH Toulouse. Năm 1983 chuyển qua Mỹ, ban đầu cư trú Los Angeles dạy Viện PG, qua 2005 chuyển về Texas đến khi mất.
Trong suốt quảng thời gian lang bạt kỳ hồ khắp nơi trên đất khách quê người đã mở rộng giao du với nhiều giới trí thức nghệ sĩ quốc tế, “thể nghiệm” nhiều cách sống khác nhau. Như thể qua đó muốn thực hiện một cuộc trường chinh độc hành đi tìm chân lý tư tưởng của một công dân thế giới chưa biết đâu là chỗ dừng chân, đâu là đích đến như tên một tập sách “Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” 1988.
Một trường hợp điển hình đi tìm lối thoát cá nhân trước thực tại bế tắc trên quê hương chiến tranh máu lửa luôn, một mối ám ảnh nhức nhối trong tâm can, trong sáng tác:
“Tay còn ôm giữ tình yêu
Tôi về phố động những chiều hư vô.
Đời đi trên những nấm mồ
Đau tim em hát cơ hồ khăn tang.
Phố chiều tôi bước lang thang
Nuôi con sông nhỏ mơ màng biển xanh…”
Về nghiên cứu, học thuật thì đó là nỗ lực khai phá, truy tìm một dòng tư tưởng VN có thể giúp con người VN vượt thoát khỏi bóng ma chiến tranh thảm khốc điêu linh từng giờ từng ngày không ngưng tàn phá quê hương. Từ đó mở ra con đường cứu rỗi của đạo Phật.
Công trình tìm kiếm chân lý cuộc sống này được thực hiện bằng con đường phiêu lưu bản thân – cả cuộc đời lẫn tư tưởng – từ nổi loạn đếùn tu học, đến tự giải thoát trở lại với thân phận con người bình thường tiếp tục hướng đếùn mục tiêu nhắm đạt được tự do tuyệt đối cho bản ngã.
Từ đó ít ra cũng đã có những kinh nghiệm, thu hoạch để viết tiếp và in hơn 10 tác phẩm ở hải ngoại: “Sự chuyển động toàn diện của tâm thức trong tư tưởng Phật giáo” 1994, “Triết lý Việt Nam về sự vượt biên” 1995, “Làm thế nào để trở thành bậc Bồ tát?”, “Tinh túy trong sáng của đạo lý PG” 1998…
Song song đó vẫn bàng bạc niềm thương nhớ quê hương xa vời:
“Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây…”
Kết quả hành trình giong ruỗi tìm kiếm chân lý suy tư của một nhà tư tưởng VN chạy trốn ám ảnh thảm họa chiến tranh cuối cùng đạt được là sự trở về lại với đạo Phật – Thiền miên viễn thâm sâu thể hiện qua thái độ chấp nhận ngày chia tay cõi trần không bao giờ hết bi thương hòa trộn hạnh phúc nhân gian, chấp nhận “nhập định rồi ra đi nhẹ nhàng”. Ra đi bây giờ cũng là chuyến ra đi sau cùng cũng là cuộc phiêu lưu tối hậu bất tận.
Như tuyên ngôn làm tựa đề tập thơ cuối cùng “Trên tất cả đỉnh cao là im lặng”, như những chứng thực tư tưởng từ máu xương, hơi thở cuộc sống đời mình hòa quyện trong đó:
“Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô liêu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn….”
(bài “Đi”)

631 - Ngô Hữu Đước
TỈ PHÚ CỤT TAY
Nông dân sinh khoảng 1967 tại Bình Định. Sống ở Đồng Nai (2011).

Cuối năm 1979 mới học lớp 6 trường làng ngày nghỉ ra đồng phụ việc cha mẹ thì bị trúng nổ một trái đạn B40 vùi lấp dưới mô đất sau chiến tranh làm cụt mất cánh tay phải.
Dù vậy vẫn cố gắng tập viết bằng tay trai để theo học tốt nghiệp cấp THPT. Nhưng ở quê, nhà nghèo lại thân thể không lành lặn nên không kiếm được việc làm, vì thế quyết tâm “Nam tiến” chọn Đồng Nai làm nơi trú thân kiếm việc làm từ năm 1988.
Bắt đầu vào làm công nhân nông trường cao su rồi dần dà dành dụm tiền bạc mua đất – hoặc mua thiếu trả góp - tách ra làm riêng. Từ 9 sào đất hoang từ từ mở rộng ra gần 4 hécta chuyên trồng cà phê, cây thuốc lá, bắp, tiêu kết hợp chăn nuôi và cả trồng lan, cây kiểng bán sỉ nữa. Cả năm thu về hàng tỉ đồng.
Đã lấy vợ có 3 con với ước vọng bây giờ luôn nhắc nhở các con cố gắng học hành thật tốt hơn cha đã lỡ một đời thiếu học, từ đó mới mong đưa khoa học kỹ thuật tân tiến vào nghề nông kếù tiếp sự nghiệp cha từng đi lên không phải từ 2 mà chỉ bằng một bàn tay trắng.

632 - Trần Mạnh Tuấn
“THƯƠNG BINH VÀNG”
Thương binh sinh 1953 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2007).

Năm 1971 tình nguyện vào bộ đội đi miền Nam chiến đấu.
Năm 1973 trên chiến trường Quảng Trị bị thương nặng gãy 2 cột sống và lún sọ nên được chuyển ra miền Bắc chữa trị. Suốt 4 năm trời đi qua nhiều bệnh viện được chẩn đoán chấn thương sọ não liệt nửa người chưa kể đã cắt 1,5m ruột. Giải ngũ thương binh thương tật 81%.
May mắn trong thời gian nằm viện gặp được một cô giáo quê Hải Phòng thương cảm tình nguyện kết hôn. Để lo cho gia đình (sinh được 2 gái), vợ phải nghỉ dạy đi bán buôn đủ kiểu đủ loại hàng mới lo đủ nuôi chồng nuôi con.
Bản thân mình cũng cố phấn đấu vượt qua mặc cảm bệnh tật bằng cách tham gia tập luyện thể thao người khuyết tật. Từ đó trở thành vận động viên “Thương binh vàng” vì từ năm 1997 đã liên tiếp giành nhiều huy chương vàng thi đấùu thể thao người khuyết tật trong nước và quốc tế, cả môn bơi lội lẫn bắn súng, đua xe lăn.
Bất ngờ năm 2006 tai ương lại giáng xuống người vợ mắc phải bệnh ung thư vú. Người chồng chỉ còn biết khóc thầm dằn vặt tại sao một người chỉ còn 19% cơ thể lành lặn lại như mình không được “đổi sự sống cho cô ấy?”
Dù sao cũng còn bám víu vào hy vọng người vợ qua phẫu thuật 2 lần xa trị mới tương đối hồi phục “sống được với gia đình ngày nào tốt ngày đó”.

633 - Trần Ngọc Duy
CON NUÔI CỦA ANH HÙNG
Bộ đội hải quân sinh 1966 tại Quảng Trị. Sống ở Đà Nẵng (2008).
Tháng 3.1975 trong cuộc biến động giải phóng miền Trung, cha mẹ đưa 6 anh chị em chạy lánh
nạn vào Đà Nẵng chờ đi tàu biển vào miền Nam. Nhưng tại cảng Đà Nẵng trong cảnh hỗn loạn, mình và đứa em gái đã bị lạc mất cha mẹ.
Sau đó 2 ngày em gái cũng xuống được tàu vào Cam Ranh gặp lại cha mẹ, riêng mình vẫn còn bị rớt lại ở Đà Nẵng. Phải hơn một tuần sau mới theo tàu đến được Cam Ranh thì bấy giờ cha mẹ và anh em đã lại lên tàu ra Phú Quốc. Một thân một mình đành đi ăn xin sống qua ngày, không biết tìm cha mẹ nơi mô.
Một thời gian được một đơn vị bộ đội thương tình đùm bọc nuôi ăn rồi khi đơn vị chuyển đi thì bàn giao lại cho hội phụ nữ địa phương. Từ đó làm con nuôi vài ba nhà sống lây lất qua ngày. Đến năm 1978 được giới thiệu với một sĩ quan chính ủy hải quân nhận làm con nuôi đưa về Đà Nẵng.
Vị cha nuôi sĩ quan này là Anh hùng Lực lượng vũ trang nên bắt đầu từ đó mới được chăm sóc đầy đủ, đổi tên theo họ cha nuôi là Trần Ngọc Duy (tên cũ Lê Văn Duy). Năm 1986 tiếp bước cha nuôi vào hải quân thể theo nguyện vọng của ông trước khi qua đời. Năm 1994 lấy vợ, thăng quân hàm đại úy.
Cuộc sống ổn định rồi, sự nghiệp thăng tiến nhưng trong lòng vẫn không nguôi nỗi nhớ gia đình cũ nên năm 2000 từng về Huế tìm tin tức cha mẹ anh em cũ song không kết quả vì thực tế họ đã ở luôn TPHCM từ lúc lạc mất nhau.
Mãi đến năm 2008 qua chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của VTV mới gửi kỷ vật duy nhất còn giữ là một bức ảnh cũ thời nhỏ nhờ đài truy tìm giùm. Không ngờ cùng lúc cha mẹ cũng nhờ đài như vậy nên việc “kết nối” thành công sau 33 năm đôi bên mất tích nhau.

634 - Trần Thị Tiếp
MỘT NẮM ĐẤT TRÊN BÀN THỜ
Nông dân sinh khoảng 1948 tại Thanh Hóa. Sống ở Thanh Hóa (2007).

Năm 1968 vừa lấy chồng thì chồng lên đường vào Nam chiến đấu. Mang thai được nửa năm thì sẩy thai, tiếp liền theo đó là tin chồng đã hy sinh trên chiến trường Quảng Trị năm 1969. Vẫn ở vậy chờ ngày nhận di cốt chồng để thờ cho trọn nghĩa phu thê.
Nhưng mãi đến năm 2005 mới có vài thông tin về chồng từ đồng đội cũ của chồng và từ ngườøi dân địa phương. Mới cùng các đồng đội ôm tấm di ảnh chồng lồng kính lên đường vào Quảng Trị tìm hài cốt chồng. Nhưng dù mất bao công sức truy tìm – kể cả nhờ thầy cúng làm lễ “gọi hồn” – vẫn không tìm thấy di hài liệt sĩ chồng mình trong các nghĩa trang nơi đây.
Cuối cùng đành lấy một nắm đất trên chiến trường xưa nơi chồng đã hy sinh mất xác đem về để lên bàn thờ mà cúng vọng hàng năm.
Câu chuyện đã được một đạo diễn Pháp đưa vào bộ phim tài liệu “Những linh hồn phiêu bạt” hay “Tìm hồn” thực hiện tại VN năm 2005.

635 - Trần Thị Tuyết Nga
“MỘT THOÁNG VIỆT NAM”
Doanh nhân sinh 1944 tại miền Nam. Sống ở TPHCM (2011).

Thuộc gia đình cách mạng tầm cỡ, trước 75 từng hai lần sống và chiến đấu ở vùng đất thép Củ Chi, sau đó được đưa đi du học Đông Aâu.
Sau 75 trở về TPHCM ấp ủ mộng kinh doanh, nhờ mối quan hệ hồi đi học nước ngoài nên là một trong những người đầu tiên mở đường hợp tác làm ăn với đối tác nước ngoài. Nhưng gặp thời thế chưa thuận lợi khi chủ trương đổi mới kinh tế vẫn còn gặp nhiều trở lực bảo thủ ách tắc nên liên tiếp thất bại, thậm chí có khi còn suýt bị lâm vào vòng lao lý!
Đến năm 1991 từ một chuyến về thăm lại chiến trường xưa Củ Chi mới chuyển hướùng kinh doanh, nảy ra sáng kiến xây dựng vùng đất khô cằn mang nhiều dấu tích chiến tranh này thành một khu du lịch – văn hóa lớn kết hợp giới thiệu cảnh quan, sản vật của 64 tỉnh thành cả nước với các làng nghề truyền thống. Dự án mang tên “Một thoáng Việt Nam”.
Suốt 18 năm trời ròng rã đã âm thầm vận động, tổ chức thực hiện công trình quy mô này bằng cách mua lại vùng đất hoang của dân, đổ gần nửa triệu mét khối đất để san bằng 22 hecta đầøm lầy, hố bom tràn ngập nơi đây. Lấy đó làm cơ sở khu du lịch, lần lượt thiết kế, xây dựng mô hình các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, làng nghề khắp nước tại đây giống như một đất nước “VN mini”. Du khách đến đây tham quan qua đó có thể đi thăm thú khắp nước chỉ trong vài tiếng đồng hồ.
Trải qua nhiều gian lao trắc trở – có lúc “khốn đốn, nhục nhã” - do lao theo một công trình quy mô lớn mang tính phục vụ cao mà lại không có đủ tiềm lực tài chính, không bảo trợ “ô dù” trong thời buổi ai cũng chạy theo lợi nhuận, thương mại hóa. Vì vậy mãi đến năm 2009 công trình mới hoàn thành phần chính bắt đầu mở cửa đón khách.
Tuy nhiên tính về lâu dài, công trình vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do tham vọng quá lớn, ý hướng phát triển văn hóa (dân tộc) quá cao tới mức có thể phi thực tế trong khi thực lực tiền bạc thiếu thốn (vốn liếng đổ vào đến nay chưa tới 100 tỉ đồng) do hiệu quả lợi nhuận mang lại hạn chế không kêu gọi được nhà đầu tư. Bởûi vậy phát sinh nợ nần phải kêu cứu TPHCM hỗ trợ song chưa biết giúp được tới đâu.
Dù vậy, đã bỏ ra hầu như cả nửa đời người (không lập gia đình) để làm việc có ích như công trình này nên vẫn luôn giữ vững ý hướng cao đẹp, tôn trọng nguyên tắc sống của một gia đình truyền thống yêu nước mẫu mực: “Khó quá không làm nổi thì nghỉ chứ không được hư, không được làm bậy.”

636 - Trần Thị Viết
NGƯỜI KHÓC “NƯỚC MẮT SỐNG” hay NGƯỜI SỐNG THỌ THỨ NHÌ CẢ NƯỚC
Nông dân sinh 1892 tại Long An. Sống ở Long An (2011).

Là Bà mẹ VN Anh hùng sinh được 8 trai 2 gái thì đã có đến 7 con trai (và 1 cháu nội) đều là liệt sĩ chống Pháp và chống Mỹ, có lần năm 1973 cả hai con trai đều tử trận trong cùng một ngày. Chồng từng là nghĩa quân phong trào Cần vương chống Pháp thất bại, mất năm 1961. Con gái út còn sống cũng đã gần 80 tuổi.
“Gia đình kháng chiến” nặng ký nên trước 75 từng bị chế độ cũ bắt giam và cũng từng quy y vào chùa một thời gian để nguyện cầu cho các con được sống còn. Mỗi người con hy sinh để lại vợ và các cháu đều đượïc mình đem về nuôi nấng nên người.
Sau 1975 khi đất nước hòa bình dù đã hơn 80 tuổi vẫn khăn gói đi khắp nơi để tìm mộ con, kết quả cũng tìm được mộ ba con đem về quy tập ở nghĩa trang liệt sĩ huyện song vẫn còn 2 người con mất tích chưa tìm được hài cốt. Đến khi ngoài trăm tuổi hàng tuần vẫn chống gậy đến nghĩa trang chăm sóc mộ con.
Những khi nhớ chồng con, một mình nằm võng khóc lặng lẽ không nên tiếng mà nước mắt cứ chảy thành dòng -- dân gian gọi đó là “nước mắt sống”.
Đến năm 2011 đã 121 tuổi ta trở thành người VN lớn tuổi thứ nhì còn sống sau cụ bà Trần Thị Nguyệt 122 tuổi ở Thừa Thiên – Huế. Còn tương đốùi minh mẫn, trí nhớ còn khá tốt, tai nghe được, có thể vịn mà đi được, mỗi bữa ăn được lưng chén cơm (lúc 115 tuổi mới lần đầu… đi bệnh viện khám bệnh!). Có đến hơn 40 cháu nội ngoại và khoảng 450 chắt chít đến thế hệ thứ sáu.
Thỉnh thoảng Mẹ – người sống qua 3 thế kỷ - vẫn còn nhớ thều thào những lời hát ru con Nam bộ cách đây cả thế kỷ:
“… Thương anh quyết chí em thương hoài
Bảng treo mặc bảng thơ bài mặc thơ…
Anh đi em mới trồng hoa
Anh về hoa nở được ba trăm nhành.
Một nhành lá chín bông xanh
Bán ba đồng một để dành có nơi.
Bây giờ anh mới thảnh thơi
Em cậy anh tính thử vốn lời bao nhiêu…”

637 - Trần Thiện Thanh

XIN GỬI TRO CỐT VỀ MẸ
Nhạc sĩ sinh 1944 tại Phan Thiết – Mất 2005 ở Mỹ (62 tuổi).

Một văn nghệ sĩ tài hoa trướùc 75 ở miền Nam vừa viết nhạc vừa tự trình diễn ca khúc của mình rất ăn khách, giọng ca (Nhật Trườøng) từng được liệt vào “Tứ trụ nhạc sến” cùng Hùng Cường, Duy Khánh, Chế Linh.
Nhưng không chỉ sáng tác nhạc “sến” – nhạc vàng nổi tiếng mà bên cạnh đó vẫn có những ca khúc tình cảm nghiêm túc, nghệ thuật tuy cả 2 loại nhạc này dù chênh nhau về chất lượng song vẫn xoay quanh 2 đề tài tình yêu đôi lứa và nhạc lính ca ngợi quân đội VNCH.
Về nhạc “sến” là những “Chuyện hẹn hò”, “Hàn Mặc Tử”,” “Hoa trinh nữ”, “Lâu đài tình ái”, “Tình thư của lính”, “Tình có như không”… ø Nhạc “không sến”, tình cảm nhẹ nhàng vừa phải gồm “Bảy ngày đợi mong”, “Không bao giờ ngăn cách”, “Khi người yêu tôi khóc”, “Mùa đông của anh”, “Biển mặn”, “Trên đỉnh mùa đông”…
Đặc biệt nổi bật một số ca khúc giá trị viết về một “anh hùng” quân đội VNCH hay một trận đánh của VNCH như “Anh không chết đâu em”, “Người ở lại Charlie”, “Rừng lá thấp”, “Chiều trên phá Tam Giang”… Bởi ngoài đời là hạ sĩ quan ngành tâm lý chiến làm Đài Phát thanh quân đội VNCH.
Vì thế sau 75 không bị đi cải tạo dài hạn song bị cấm tiếp tục hoạt động âm nhạc. Đến 1984 lệnh cấm trên được giải tỏa nhưng từ chối “tái xuất giang hồ”, tỏ rõ quan điểm không muốn dính líu gi đến chế độ mới.
Đến 1993 đi Mỹ theo diện bảo lãnh ODP. Tại đây lấy vợ là một nữ ca sĩ, sinh được một con trai.
Tuy nhiên trên xứ sở mới lại tự nguyện rút lui vào im lặng, ít tham gia biểu diễn mà cũng không còn sáng tác nhiều có giá trị xúc cảm như xưa nữa. Rồi năm 2004 đã tổ chức một buổi trình diễn “từ biệt khán giả sau 40 năm ca hát” mà nhiều người cho là “quá sớm”. Bản thân thì tâm sự “không muốn hát nữa”, còn bạn bè có người giải thích có thể do ông “không còn gì để cống hiến” nữa.
Một năm sau thì qua đời vì ung thư phổi. Với di nguyện để lại là gửi tro cốt của mình về cho bà mẹ già 82 tuổi vẫn còn sống ở Bảo Lộc. Và một số tác phẩm sau 75 viết ở hải ngoại mang nặng nỗi buồn thế sự thua cuộc chưa công bố rộng rãi như “Người bên lề cõi sống”, “Đôi tiếng tự do”, “Từ nửa vòng trái đất”, “Ở giữa muộn phiền”…

638 - Trần Tiến Vững
NGƯỜI ĐI KHÔNG VỮNG MÀ CỨ ĐI
Thường dân sinh 1947 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2006).

Đi Thanh niên xung phong trên chiến trường Quảng Bình từ năm 1965. Đến 1968 về Hà Nội lấy vợ sinh được 6 con.
Làm công nhân nhưng sức khoẻ ngày càng suy sụp khiến phải nghỉ việc.
Từ đó sinh ra bệnh tâm thần phân liệt - suốt ngày bỏ đi lang thang tận đâu đâu, miệng cứ lẩm bẩm điều gì không ai biết. Nhưng đi không vững vàng gì, đi dáng dấp xiêu vẹo chỉ chực té vì còn mắc thêm bao thứ bệnh khác trong người cả bệnh gan lẫn bệnh phổi. Và thường xuyên té ngã thật, có khi ngã cầu thang gãy xương sườn, có khi ngã cả vào nồi canh bị bỏng nửa người!
Bệnh như thế nhưng không có tiền chạy chữa thuốc men nên bệnh ngày càng lậm vì cả nhà 6 miệng ăn gồm thêm 2 con nhỏ, còn 4 con lớn đã lập gia đình ở riêng đều nghèo khó chẳng giúp đỡ gì được. Tất cả chỉ biết trông cậy vào người vợ bán bún ốc mỗi ngày kiếm được 15.000 đồng, còn bản thân đã mất hết giấy tờ không làm được chế độ nên chỉ được phường hỗ trợ 100.000 đồng/tháng.

639 - Trần Vàng Sao
CẦU CỨU BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Nhà thơ tên thật Nguyễn Đính sinh 1941 tại Huế. Sống ở Huế (2011).
Với bút danh mang ý nghĩa màu cờ nước rõ ràng đứng về phía cách mạng (gia đình nông dân, cha là liệt sĩ chống Pháp), thời đi học từng tham gia hoạt động nội thành ở Huế sau bị lộ phải rút lên núi. Lúc đó được biết đến qua bài trường ca “Bài thơ của một người yêu nước mình” (1967).
Vào chiến khu tiếp tục chiến đấu rồi bị thương được đưa ra Hà Nội điều trị năm 1970. Và đây là bước ngoặt bi đát của đời mình vì đến khi đối diện trực tiếp với chế độ cộng sản ở ngay ở thủ đô thì… thất vọng! Bởi chủ nghĩa trên lý thuyết và thực tế khác hẳn nhau tới mức cảm thấy cách xa nhau gần như một trời một vực.
Từ đó sinh ra bất mãn lại thêm cái tật “vạ miệng” nên bị nghi kỵ rước lấy sự bạc đãi, thậm chí còn bị theo dõi truy bức, tịch thu bản thảo, bắt giam truy xét. Vì thế khi miền Nam giải phóng xin được về lại quê nhà Huế góp phần xây dựng lại quê hương đổ nát sau chiến tranh thì bị tổ chức.. khước từ!
Bất cần, một mình tìm đường “tự về” Huế. Nhưng tại đây lại gặp phải sự đón tiếp lạnh nhạt (cảnh giác?) không cho phép làm gì, cùng lắm cũng chỉ làm một chân chạy vặt ở đài phát thanh rồi chuyển về làm “lon ton” cấp xã! Rồi bị cho về hưu non.
Thế thời phải thế, đành chấp nhận sống ở ẩn an phận với tâm lý “kinh cung chi điểu” sợ bị “nhòm ngó”. Được mô tả là “người biết sợ chứ không phải người sợ” nên “suốt ngày chỉ ru rú ở nhà, đơm tôm bắt cá sống qua ngày, thủ phận một ông nông dân chính hãng. Ai đến chơi thì đến chứ chẳng dám đến nhà ai.”
Nhờ có năng khiếu vẽ có lúc vẽ minh họa cho tạp chí Cửa Việt của bạn bè đồng điệu ở Quảng Trị kiếm nhuận bút nuôi con qua ngày đoạn tháng nhưng sau đó tờ này cũng bị dẹp luôn nên… đói là cái chắc!
Trong cảnh cùng quẫn như vậy sinh “đại” bất đắc chí nên năm 1984 mới bộc phát làm một bài trường ca khác “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” rồi nhân thời Đổi mới năm 1988 được báo Sông Hương in trong đó có những đoạn bi ai phẫn nộ cùng cực như:
“Tôi tuổi Tỵ
năm bốn mươi ba tuổi
thường không có một đồng trong túi
buổi sáng buổi chiều
thứ hai thứ ba thứ bảy chủ nhật
trong nhà ngoài sân nuôi với hai đứa con
cây cà cây ớt
con chó con mèo
………
mã cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
………………..
nói thật lúc này tôi muốn được say rượu
hoạ may thấy một đồng thành hai ba bốn đồng…”
Nhưng thời Đổi mới chưa kịp đến Huế thế là lại bị báo đài địa phương “đánh” cho một trận tơi tả nữa! Từ đó “sợ” không dám đưa thơ đăng ở đâu nữa. Tuy nhiên từ đó trở thành nổi tiếng như một văn nghệ sĩ “bất đồng chính kiến”, được bằng hữu văn nghệ cả nước lẫn thế giới tìm cách giúp đỡ gia cảnh đỡ lâm vào cảnh tàn mạt. Sau này thậm chí còn được mời vào Hội Nhà văn VN song không chịu… viết đơn (trong nước chưa hề in tác phẩm nào, chỉ ở Mỹ năm 1984 có in riêng một tập, đến năm 2009 được thân hữu ở TPHCM in một tập thơ vi tính chuyền tay)
Nhờ đó phần nào, càng về sau cuộc sống dễ thở hơn đôi chút.
Trong thời gian lui về làm ông cụ non này, căn nhà của mình (nhờ đất của cha mẹ để lại tại Vỹ Dạ) biến thành một “câu lạc bộ tạp pí lù” với đủ loại bạn bè tứ xứ giang hồ trong nước ngoài nước lui tới ngồi uống rượu nói chuyện tầm phào trên trời dưới đất “vô hại” đỡ buồn. Trong số này có bạn thật mà cũng có bạn “giả”, có người tò mò mà cũng có kẻ muốn ăn theo tiếng tăm “ngoại đạo” của nhà thơ không kể các điệp viên ngầm Nhà nước!
Nhưng nhờ vô công rỗi nghề tự nhiên bỗng nổi hứng quay qua vẽ tranh truyền thần… Bồ Đề Đạt Ma – chỉ duy nhất loại tranh này - hẳn xem như đó là một liều thuốc an thần giúp mình theo chân Bồ tát tìm quên thế sự. Dù không học vẽ trường lớp ngày nào song lại vẽ “Sư” rất đẹp, rất sắc sảo có thần khiến tiếng một đồn mười ai cũng đến xin tranh và mình sẵn sàng tặng không đúng phong thái Bồ tát!
Có người xin tranh vì xem đây là một cái “mốt” của giới trí thức nghệ sĩ bấy giờ phải được nhà thơ nổi tiếng “đối lập” này tặng mới đúng mác, có kẻ xin về treo trong phòng như kiệt tác nghệ thuật song cũng có người treo để… ếm bùa (ông Phật này mặt mày dữ thần lắm)!
Có lẽ ấy cũng là một ý nghĩa thâm thúy mà nhà thơ họa sĩ tự phát muốn gửi đến thiên thu: Nhờ ngài Bồ Đề Đạt Ma đuổi bớt tà ma ngạ quỷ chớ bén gót tới cửa nhà mình nữa!

640 - Trần Văn Bản
TAY TRẦN BỐC HÀI CỐT ĐỒNG ĐỘI hay LIỆT SĨ SỐNG LẠI 28
Bác sĩ sinh 1945 tại Hải Phòng. Sống ở TPHCM (2011).

Nguyên bộ đội thương binh hạng 3/4 trên chiến trường miền Nam, 2 lần bị thương và là người duy nhất còn sống sót sau chiến tranh trong 29 người cùng nhập ngũ một đợt ở Hải Phòng. Vì thế năm 1968 từng bị giấy báo tử… lầm về quê khiến gia đình đã lập bàn thờ!
Sau chiến tranh chuyển ngành học ra bác sĩ vẫn đau đáu ước nguyện đi tìm hài cốt đồng đội đã hy sinh để đem về lại cho gia đình trên mảnh đấùt quê hương họ. Đến năm 1989 về làm Hội Chữ thập đỏ ở quận Tân Bình – TPHCM mới thực hiện được mong muốn đó: “Chiến tranh qua đi, được sống đã là hạnh phúc. Còn sức tôi còn đi tìm đồng đội. Người đã chết cho người được sống. Mình phải có trách nhiệm đi tìm đồng đội.”
Ban đầu phải dựa vào sự vận động giới thanh niên địa phương, một việc không đơn giản vì công tác đi tìm dấu tích tử sĩ rất gian nan, chưa kể những thành kiến, mê tín. Khi tiến hành công việc cũng đầy khó khăn: Phải chở nhau đi trên xe Honda, phương tiện giao thông thuậân tiện nhất thời đó, mỗi chuyến đi được mình chuẩn bị với kinh nghiệm của môt cựu chiến binh như trước mỗi trận đánh với hành trang mùng mền, thuốc chống muỗi, bản đồ, lương thực…
Từ năm 1983 công việc tiến hành bài bản hơn nhờ sự tiếp tay của một số đồøng đội cũ tổ chức nhiều chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ và trải qua 30 năm “cơm nhà áo vợ” đã tìm được hơn 2.000 bộ hài cốt liệt sĩ. Tự tay quy tập trên 600 đồng đội về nghĩa trang, nhiều khi phải ngược xuôi Bắc Nam tìm đến nhà liệt sĩ báo tin đã tìm được hài cốt. Mỗi hài cốt tìm thấy phải làm thủ tục xin mang đi, được lập một hồ sơ tư liệu đầy đủ để “bàn giao” cho thân nhân sau này. Sau đó gửi thư liên lạc với thân nhân liệt sĩ rồi đích thân đem “trả” hài cốt tận quê, thậm chí có khi còn phải mở thêm một cuộc truy tìm khác đối với thân nhân nay cũng bỏ quê đi nơi khác rồi.
Đặc biệt tự mình bốc mộ bằng tay trần “mới cảm nhận được đâu là hài cốt đâu là rể cây”. Và vì “Lúc này tôi là một người lính đi tìm bạn nên dù bạn giờ chỉ còn là một nắm đất vẫn muốn tay bắt mặt mừng với bạn”.
Ngoài ra còn vận động, tổ chức nhiều hoạt động từ thiện xã hội khác như tặng vốn cho thương binh nghèo, xây Nhà Tình nghĩa, tặng ghế đá cho bệnh viện… Nhưng vẫn chưa thỏa lòng: “Số liệt sĩ tìm thấy vẫn quá ít ỏi so với số bà mẹ và ông bố đang ngày đêm mong mỏi tìm được con…”
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011

Tưởng Niệm Phạm Công Thiện



Đoạn ghi từ biệt GaGa (1) thắp cây hương cho Phạm công Thiện
Tác giả : ĐINH CƯỜNG

En ce monde bouleversé je ne vis plus que dans le souvenir
(Paul Klee)

Khi Nguyễn xuân Hoàng từ San José
điện thoại báo tin Phạm công Thiện đã chết
tôi đang ăn múi cam mà nghẹn
buổi chiều mưa mù trởi, lại tiếng còi tàu ứa nước mắt
loanh quanh tìm lại kỷ niệm
những năm xưa mịt mùng xa tắp
Thiện đi xe hơi con nhà giàu ở Mỹ Tho
(sau này phá sản lên xây nhà ở Finom bên đường đi Đà Lạt)
lên Sài Gòn thường ghé thăm tôi ở Tân Định
đêm tối xuống ra nhà may Can của Ninh Chữ (2)
đường Tự Do, có căn gác nhỏ lên đó ngồi chơi
rồi qua phòng trà Tự Do cách một ngã tư
có cả Tuấn Huy mà Thiện đã viết
lá thư mở đầu Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (3)

Huy, suốt đời tôi chắc chắn không bao giờ tôi quên được
đôi mắt ướt lệ của một nàng ca sĩ mà chúng mình
đã nhìn thấy vào một đêm mưa tầm tã trong một
phòng trà mờ tối ở Saigon …
Những giọt nước mắt của Thanh Thuý giọng hát mù sương (4)
Huy nhớ không, Tuấn Huy tác giả Ngày vui qua mau
bây giờ đang ở Costa Mesa, California
người bạn luôn thủ những viên thuốc ngủ và thích ngồi nhìn lung
xuống dòng sông Thiện nhắc trong lá thư
như nhắc đến Trịnh khắc Hồng, người bạn luật sư trẻ tuổi
đã mất năm nào, lá thư ghi NhaTrang, tháng 6 năm 1963
và tôi đã vẽ bìa cho nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ
một con ngựa xám đang tung vó giữa trời
khi bị con rắn năm sinh của Phạm công Thiện cắn, Thiện khoái chí


Cuốn sách tôi mua lại được nơi hàng sách cũ
trước nhà thương Từ Dủ
trong phần cuối, thư gửi cho Nietzsche
Sau khi đã phá hoại đến cùng cực… Đi vào im lặng
Chào Dionynos Philosophos

Trên tất cả đỉnh cao là lặng im (5)
Thư quán Hương Tích in ở Sài Gòn
Thầy Tuệ Sỹ nhờ tôi đem về mấy quyển
giao cho Thiện, chỉ có một người liên lạc được
với Thiện ở Houston …còn thì lặng im

Bây giờ thì
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều (6)

Ngọn lửa tịch mịch đã tắt
nhớ xưa trên căn gác nhà Thanh tuệ ở Lý thái Tổ
Bùi Giáng gặp Nguyễn đức Sơn và Phạm công Thiện
cả ba mặt trời như muốn nổ tung
làm Bửu Ý phải can, tôi thì nhìn xuống con hẽm
chờ kêu mua mấy chén chè xôi nước
các ngài ăn cho ngọt giọng rồi cười

Ôi làm sao nhớ hết thời xa xưa ấy
thời Thiện ở dưới căn phòng nhỏ tầng hầm
đường Yagut, mê mãi viết Saroyan
Đà Lạt nay tên đường vẫn vậy tôi ghé qua
muốn chụp tấm ảnh đưa về Thiện xem mà không kịp nữa
Ơi Hoài Khanh đang còn ở Biên Hoà tóc bạc phơ
nhớ đêm giáng sinh nào lên Đà Lạt thăm Thiện
Ơi Hoàng trúc Ly khuất mặt những câu thơ Thiện ngợi ca
bởi Thiện là thi sĩ là hoạ sĩ lạ lùng kia đã đi qua rồi
đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (7)

Thiện đã về Thiện đã tới.

Virginia, March 10.2011
Đinh Cường

1-“ông tự đặt tên là GaGa
gọi cô gái nhỏ là BinBin
chiều ba mươi Tết làm thơ lạ
gà tre nhỏ cùng bông mồng gà“
(4 câu trong bài thơ Thư Cho Cô Nhỏ Mùng Một Tết, Việt Báo Xuân – California 2011)
2- Nhà thơ Ninh Chữ tên thật Tạ văn Ân, sinh năm 1938 taị Hà Nội, mất sau 1975 taị Sài Gòn. 4 tập thơ đã xuất bản: Tuổi đời 1962, Miền lưu đày 1963, Tầm gửi 1964, Ngôn ngữ 1968.
3- An Tiêm xuất bản Sài Gòn 1965.
4- …Xin chiều mưa biên giới hỡi Thanh Thuý xin chiều mưa biên giới
Phù hộ tôi đêm nay. Xin chiều mưa biên giới… ( Phạm công Thiện –
Bay đi những cơn mưa phùn, Phạm Hoàng Xuất bản, Sài Gòn1970, trang195)
5- Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn, Thư quán Hương Tích, 2009
6- Trên tất cả đỉnh cao là lặng im( bài Đi đọan 2 trang22)
7- Trần Thi xuất bản California 1988

Nguồn: hopluu.net

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Vĩnh biệt Phạm Công Thiện




NVTPHCM- Phạm Công Thiện sinh ngày 01.6.1941 ở Mỹ Tho nay thuộc tỉnh Tiền Giang, đã qua đời vào ngày 08.3.2011 tại thành phố Houston, Texas, Hoa Kỳ. Ông là giáo sư, nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu triết học nổi tiếng từ trước năm 1975 ở Sài Gòn; tác giả của 2 tập thơ Ngày sanh của rắn và Trên tất cả đỉnh cao là im lặng cùng nhiều công trình nghiên cứu như: Nguyễn Du- đại thi hào dân tộc, Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử, Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, Hố thẳm của tư tưởng, Ý thức bùng vỡ, Tinh tuý trong sáng của đạo lý Phật giáo,… Năm 2009, tập thơ Trên tất cả đỉnh cao là im lặng của Phạm Công Thiện được NXB Văn Hoá Sài Gòn ấn hành ở Việt Nam.
Đối với nhiều người, Phạm Công Thiện trước hết là một nhà thơ tài năng, độc đáo. Ông làm thơ không nhiều, nhưng thơ ông thấm đẫm chất thiền, triết lý nhân sinh và nhiều chiều kích vũ trụ thể hiện qua ngôn ngữ thơ bay bổng, lạ lẫm vừa giống vừa khác với những nhà thơ cùng thời với ông.
Chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả chùm thơ của Phạm Công Thiện- một thi sĩ Việt vừa đi vào cõi vĩnh hằng. (PH)


Đi

Đã đi thì đã đi rồi
Thượng phương trùng điệp thấy gì nữa đâu
Hạ phương ngày tháng bể dâu
Sắt son tình cũ phượng cầu túy hương
Có còn gì nữa mà thương
Buổi trưa nằm ngủ thấy nường năm xưa.

Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô liêu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn
Đại Huyền biến ngưỡng triêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao
Án nga nga nẵng bạch nào
Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim

Năm nàng thiên nữ tôn nghiêm
Trùng quan ngũ sắc ứng điềm tán không
Án Đa La tịch mịch hồng
Mười phương xuất hiện những đồng sinh thiên
Bát Nhã là gái thiên tiên
Khoan thai cởi áo mây hiền trên cao
Gió lùa thơm tóc tơ đào
Thập bát Không Định tiêu dao tiếng đàn
Trời mưa chim ngủ trên ngàn
Sắt son tình cũ nước tràn sang sông

Đã đi rồi có đi không
Thượng phương trùng điệp cỏ hồng thúy hương
Đi đâu mà lại lên đường
Hạ phương còn gặp cô nường năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Sắt son triều ngưỡng tình xưa hiện về
Phượng cầu ngũ lĩnh sơn khê
Một bông hồng nở bốn bề lặng im
Năm nàng tiên đậu vào tim
Âm nhập dương khởi lim dim xuất thần

Nhập định tam muội tần thân
Trở về động cũ như lần gặp xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Đền thiêng triệu ngưỡng người xưa kiếp nào
Tình bay lên nóng trăng sao
Gió lùa thơm tóc cô nào năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Thương phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch bỏ đời biệt tăm.


Ngày Sanh Của Rắn
(trích)

I
tôi đi đông chìm
trời âm u thung lũng khô
nhiều mây chim bay không nổi

tôi đi
dưới kia sụp đổ
núi cấm nổ tôi ra
cửu long ca từ tây tạng

tôi về
tôi hiện
đèn tắt trời gió tắt trăng
chim lạ
kêu tiếng người
hố thẳm ra đời
tôi bay trên biển

II
tôi nằm cho rã chiếu cạp điều
nước chảy lên vùng phố tịch liêu
tôi nhớ một lần cây quế mọc
tôi đứng gọi hương trọn buổi chiều

III
mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
cây khế đồi cao trổ hết bông

IV
trời mưa nữu ước cây mọc
nhớ hương trời mưa ngày tháng
nhớ hương đường hoang mái vắng
nữu ước chỉ còn hương trong giấc ngủ
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn hương trong giấc ngủ
anh chỉ còn máu để đổ vào tim hương
đổ vào tám tách cà phê đen anh uống mỗi đêm

tại greenwich village
tại làng thi sĩ
tại đường khói bay
tại hương trong giấc ngủ
tại chiều ba mươi tết ở việt nam
bây giờ anh xa hương đến mấy đại dương xanh
mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời hương khóc
hương còn ca hát
hương còn phơi áo giữa phố buồn
hương còn cười
mười năm rồi cây quế vẫn mọc trên đời anh
trên mắt anh
môi anh
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế
giữa hồ
mọc giữa hồ quế hương
tóc anh mọc dài
che chở hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh
lúc chim chiều đi mất
mưa trên phố đêm
trên quán cà phê ý đại lợi
trên chiến tranh
của quê hương
của quế hương
còn anh

V
rạng đông tôi xin thề thức dậy ba giờ sáng
đợi kinh đào chảy ngược
cửa nhỏ đóng kín
những chiếc cầu tuổi dại
mười sáu năm tôi thức trong đời
mười sáu con kinh đào không bao giờ chảy ngược
đứng ngang cầu pont-neuf
nhìn sông seine tôi thấy cửu long
paris đuổi mất mây mộng hoang đường
đập vỡ cơn điên trên triền đá sương
tôi trốn giặc đời
tắm trong hồn hương
trái đu đủ
trong khu vườn xưa
con rắn nhỏ

VI
tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt

VII
tôi nuốt nọc đen giữa đường guillaume apollinaire
từ xóm saint-germain-des-prés
mọc lên giáo đường hang động
cà phê biến hồn đầu thai
hoá thành một triệu con ma đen
nhảy múa trên núi lửa đầu tôi
tôi mặc đồ xanh
và mang đồng hồ da đen
tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên
trong sáu diêm quẹt còn rớt lại
tôi gọi hương và tôi chết giấc
tôi chạy lên trời làm rắn thâu đêm
máu đổ mưa đen
ồ cây mồng tơi
của thời trẻ dại
tôi gọi thầm
rắn cuộn tròn
tương lai

VIII
mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông

IX
rắn trườn vỡ trứng chim rừng
tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm
khuya buồn tủi nhục môi em
mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ
tiếng ru chín đỏ điện thờ
hoang vu tôi đứng đợi chờ chim kêu
tay còn ôm giữ tình yêu
tôi về phố động những chiều hư vô
đời đi trên những nấm mồ
đau tim em hát cơ hồ khăn tang
phố chiều tôi bước lang thang
nuôi con sông nhỏ mơ màng biển xanh
nửa đêm khói đốt đời anh
yêu em câm lặng khô cành thu đông
lời ca ru cạn dòng sông
trọn đời chạy trốn mống vồng cầu điên
bỏ mình nước chảy đồi tiên
theo con chim dại lạc miền thiên hương
về đâu thương những con đường
lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa

X
mùa xuân bay thành khói
tôi ca hát một mình
suốt đời không biết nói
nước chảy tràn con kinh
quá khứ bay lên trời
biến thành cánh chim non
tôi quì hôn lá mới
đau khổ trắng linh hồn
hư không đổ ra khơi
kỷ niệm trôi qua cầu
bãi chiều chưa người tới
tình nhỏ quên từ lâu
xuân bay trắng núi đồi
tôi nằm ngủ mơ chim
bỗng hét lên trong tối
ngồi thức dậy bảy đêm
trời cuối năm gác trọ
đèn tắt suốt đêm dài
con chim mười năm nhỏ
bay về đậu nơi đây
hơi thở giết thời gian
bướm nằm chết thang lầu
tiếng chim ru ngày tháng
máu chảy về sông sâu
suốt đời không biết nói
tôi ngồi thức một mình
đốt thuốc lên nhìn khói
đêm rạng điềm hư linh


Hãy ca hát đi và đừng nói nữa
Singe! Sprich nicht mehr!

Trang giấy trắng sống trăm ngàn thế kỷ
Có gì trong tơ sợi nga my
Lời nói ngang dọc đan hình
Vũ trụ nở ngài trong hắc đạo
Mòng tơ se trời cho óc não
Mật gan bắn máu ven rừng
Vành nước đen linh hiện không ngừng
Tôi còn sống mấy giờ chơi nữa
Mửa máu ra dập tan ngọn lửa
Xanh màu xanh ôi chết đợi mình
Không nữa đâu linh
Nhắn đường đi băng qua sơn đạo
Cái trà my bay lên ngoài đảo
Ôi còn chi thôi về dưới nga my
Phi bản chất vô luân nguyên hạo
Toàn thể nguyện thề chung thí
Ngựa hí
Đi về đi
Ngồi không động đậy
Hình tượng trong đầu
Ngồi lâu nín thở
Gõ đầu tay vào trong bích thảo
Hồn không bay vì hồn ở trong mương
Bạch dương năm nhuận
Sống không cần hứng
Khô cho khô màu đỏ ban trưa
Nằm ngó lên ngó xuống như rùa
Thời dĩ vãng leo lên đầu cây ngủ
Bói kinh kệ trong cơn mưa tàn rữa
Ôi em ơi xanh lên biển xanh đùa
Con gà gáy vu đồng ngã ngửa
Nhìn mặt trăng báo triệu thua rồi
Về đi chưa
Không ai hỏi
Tôi trả lời
Nghe không rõ
Buổi chiều dưa leo
Tiếng trẻ con kêu gọi cái về
Bắt tréo chim heo


Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Cao Huy Khanh - VIỆT NAM : HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 – 2011:NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


Kể từ tuần này trích đăng lại Hồ Sơ Hậu Chiến 1975 - 2011 của Cao Huy Khanh

từ trang của Văn Viết Lộc.

Kỳ 62 – 7.3. 2011 (Trích đăng từ 1.1.2010)

621 - Donna Jean Johnson
TÌM CHA TRÊN ĐẤT MỸ

Sinh tại Quy Nhơn khoảng năm 1974. Sống ở Mỹ (2009).
Trước 75 mẹ lấy lính Mỹ ở Quy Nhơn, sinh được một chị gái thì cha bỏ về Mỹ để lại 3 mẹ con (mẹ đang mang thai mình).
Khoảng năm 1989 cùng mẹ và chị đi Mỹ theo diện con lai Mỹ.
Trên đất Mỹ đã bỏ ra hơn 20 năm làm đủ cách để truy tìm tông tích cha đẻ, một việc rất khó vì hầu hết ông bố Mỹ đều đã có gia đình “nội địa” cả trước hoặc sau khi đến VN. May mắn là kếùt quả cuối cùng cũng đã tìm được ông. Một kết quả có hậu rất hiếm hoi thực hiện được đối với đa số con lai Mỹ dù đã được đưa về quê cha.

622 - Nguyễn Khải
“TÙY BÚT CHÍNH TRỊ”


Nhà văn tên thật Nguyễn Mạnh Khải sinh 1930 tại Hà Nội – Mất 2008 ở TPHCM (79 tuổi).
Mẹ là vợ sau một quan chức thời Pháp nên 1954 bố và gia đình vợ trước di cư vào Nam, để mẹ và 2 anh em ở lại miền Bắc. Trướùc đó đã vào bộ đội làm y tá tham gia kháng chiến đánh Pháp.
Sau đó nhờ có học thức và văn tài nên chuyển sang thành nhà văn quân đội. Từ đó sự nghiệp thăng tiến với những tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết về đề tài gắn liền với các chủ trương xây dựng nông thôn mới dướùi chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc được đề cao như “Mùa lạc”, “Xung đột”…
Sau 75 vào Sài Gòn tìm lại ông bố và anh chị em khác mẹ đều là những nhân vật của chế độ Sài Gòn, cả quan chức lẫn chính trị gia có máu mặt. Lấy tư liệu, cảm hứng từ thực tế này để viết vở kịch “Cách mạng” và truyện vừa “Gặp gỡ cuối năm” gây tiếng vang thời đó. Rồi ở lại sống luôn tại TPHCM.
Được cử làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn VN, bầu làm đại biểu Quốc hội (một khóa). Năm 1988 giải ngũ hàm đại tá để về hưu ở nhà tiếp tục chuyên viết văn.
Trong giai đoạn cuối đời bắt đầu thực hiện một cuộc tự kiểm về đời mình, cả cách sốâng lẫn nghiệp văn chương. Đặc biệt thể hiện những trăn trở về thời cuộc, tự mổ xẻ dằn vặt hoài nghi về chế độ mà mình đã suốt đời phục vụ (vợ cũng xuất thân bộ đội). Về cả bản thân vốn xưa nay bị xem là một con người sống khôn ngoan, thực dụng, biết tiến thối trên đường đời, chỉ muốn yên thân, an phận ngại “đụng chạm” dù được giao cương vị xã hội trọng vọng. Từ đó còn dẫn đến cái nhìn bi quan khi đánh giá về sự nghiệp viết văn của mình: “Cái tài sản tinh thần thâu gói một đời ấy chỉ là một cái kho chứa đủ tạp nham chẳng có một chút giá trị gì”!
Kết quả của quá trình “xét lại” bản thân đó là 2 tập sách đậm chất hồi ký “Thượng đế thì cười” và “Đi tìm cái tôi đã mất” được chính mình tự mệnh danh là “tùy bút chính trị”, một cách đặt tên khá táo bạo, mới mẻ vào thời này. Qua đó tự bộc lộ bản chất mình trong tư cách một nhà văn lẫn một con người có địa vị trong xã hội, bày ra để cho mọi người muốn phán xét sao tùy ý: Có “một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn, một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa 2 con người ấy không bao giờ ngã ngũ” (Dương Tường).
Dù sao sự phản tỉnh đó vẫn đáng ghi nhận, trân trọng bởi sự can đảm tự bóc trần mình mà vẫn giữ được sự liêm sỉ đồng thời thực tế, trung thực với con đường mình đã chọn như những dòng di chúc viết 10 năm trước khi mấtï: “Mươi năm trở lại đây tôi đã có ý thức điều chỉnh lại cách sốâng của mình, cố gắng sống thật tử tế, thật đàng hoàng. Bớt đi một nửa những cái chưa tử tế cũng là tốt rồi. Tôi tự đánh giá là một cây bút nhẫn nại trong cái nghề của mình chứ không phải là một cây bút tài hoa, có tài bẩm sinh. Nếu không có cuộc Cách mạng Tháng tám và 2 cuộc kháng chiến thì tôi chỉ là một kẻ vô danh chứ không thể làm được gì nên chuyện. Cho nên chế độ chính trị hiện nay dẫn có bao nhiêu thiếu sót, có bao nhiêu chuyện đáng buồn, đáng giận tôi vẫn gắn bó máu thịt với hôm nay.”
Một trường hợp về già như Chế Lan Viên bức xúc trước tình hình chế độ, xã hội tiêu cực ngày càng nặng nề phức tạp buộc phải đặt lại vấn đề về thần tượng chủ nghĩa xã hội, chợt muốn “đổi ý”, “sang ngang” nhưng đã muộn. Tuy nhiên với cách hành xử có mức độ để không mang tiếng “phản bội” lý tưởng, phản bội chính mình khác với không ít trường hợp nhiều đồng chí của mình.
Nhà văn kể cả nhà văn danh giá có chức vị được chế độ ưu đãi cũng vẫn là con người trần thế “bị thịt” đâu phải ông thánh nên dù sao sớm muộn cũng là chuyện phôi pha rồi sẽ quên đi, sẽ rơi vào quên lãng. Còn giá trị để lại ở đây – “công” hay “tội”? -- vẫn là một nhà văn có tư duy sâu sắc, lý tính sắc bén, đề tài gắn liền thời sự, văn phong cô đọng mẫu mực với nét hiện đại trong cấu tứ, bố cục tác phẩm đặc biệt ở thể loại truyện vừa khá mới mẻ thời này.

623 - Nguyễn Xuân Nghĩa
ĐỘI TRƯỞNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CỤT 2 TAY

Sinh viên sinh 1988 tại TPHCM. Sống ở TPHCM (2011).

Sinh ra đã không có 2 cánh tay do ảnh hưởng CĐDC từ cha nguyên bộ đội đánh Mỹ bị nhiễm. Mới được 4 tuổi thì cha lại bị tai nạn giao thông qua đời, mẹ ở vậy nuôi 3 con.
Lớn lên không khuất phục số phận, tập làm mọi việc bằng 2 chân thay cho 2 tay. Mê máy tính nên tập cả mấy ngón chân… bấm bàn phím. Vậy mà vẫn vào đại học được, cùng lúc học cả ĐH Mở (khoa Côngnghệ thông tin) và ĐH Luật TP.
Không chỉ thế, còn rất nhiệt tình với các công tác xã hội. Vì thế được bầu làm đội trưởng đội công tác xã hội phường, từ đó đã vận động xin học bổng, mua xe đạp cho học sinh nghèo trong xóm…
Năm 2007 đượïc bầu chọn là Công dân tiêu biểu của TPHCM.

624 - Thái Ngọc San
TRẢ THẺ ĐẢNG

Nhà thơ, nhà báo sinh 1947 tại Quảng Bình – Mất 2005 ở Huế (59 tuổi).

Từ 1966-1969 trốn lính từ miền Trung vào Sài Gòn. Bị bắt lính 3 lần đều đào ngũ khiến có lúc bị chế độ cũ bắt làm lao công đào binh chuyên làm việc thu dọn xác chết trên chiến trường.
Tiếp tục bỏ trốn rồi về TP Huế tham gia hoạt động cách mạng trong lực lượng sinh viên học sinh tại đây. Nổi tiếng với những bài thơ văn ca ngợi cách mạng, chống chế độ Mỹ – Ngụy.
Đến 1972 bị lộ nên “lên núi” tức rút vào chiến khu. Từ đó được đưa ra Bắc rồi đưa ra nước ngoài đại diện tuyên truyền cho Mặt trận Giải phóng Miền Nam.
Sau 75 trở về Huế ban đầu làm công tác Mặt trận, sau đó được bố trí về làm chuyên môn làm thư ký tòa soạn tạp chí Sông Hương mới ra đời. Làm rất tốt công việc đó từ việc góp phần tạo cho Sông Hương một bản sắc và tính chiến đấu riêng đến việc khuyến khích, phát hiện những tài năng văn chương trẻ bằng tất cả tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết hướng đến xây dựng một xã hội mới công bằng, tốt đẹp như lý tưởng cách mạng:
“Trong tôi hưng phấn cứ tràn đầy
Tôi muốn ôm cả nhân loại trong tay
Như ôm em với tình yêu ngọn lửa.”
(“Khát vọng” – tậïp thơ duy nhất in 1985)
Tuy nhiên đến năm 1988 xảy ra sự cố báo Sông Hương đấu tranh để đổi mới không được sự đồng ý của lãnh đạo địa phương khiến xảy ra mâu thuẫn đôi bên từ đó đưa đến hệ quả thay đổi lãnh đạo báo cũng như một số thành viên sáng lập từ đầu dứt áo ra đi (Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Chỉ… ) trong đó có mình.
Một trường hợp xung đột giữa bản chất người nghệ sĩ – trí thức trong sáng mà thẳúng thắn, gan lì với phạm trù chính trị khó thể dung hòa hay thỏa hiệp vì như thế là tự đánh mất mình.Tan vỡ lý tưởng cách mạng đầu đời, thất vọng trước thực tế chế độ không như mơ ước nên quyết định trả lại thẻ Đảng!
Nhưng không thẻ Đảng vẫn tiếp tục đóng góp, cống hiến trên cương vị mới làm đại diện của báo Thanh Niên ở Thừa Thiên – Huế để một lần nữa lại dấn thân vào một cuộc đấu tranh khác: Dùng vũ khí báo chí để chống tiêu cực xã hội đang phát triển thiên hình vạn trạng trong chế độ mới, bảo vệ và giúp đỡ tầng lớp dân nghèo… Với tính cương trực, dũng cảm “uy vũ bất năng khuất” sẵn có:
“Hãy làm việc làm việc
Với tất cả sức mình
Bằng trái tim
Trung thực
…………………………..
Coi chừng vỏ giả dối
Của ngôn từ
Chất phù du
Của bọt nước

Coi chừng bệnh lười nhác
Thói xu thời
Và sự ngọt bùi
Đôi khi là cây dao hai lưỡi

Hãy bước đi thẳng đầu gối
Sòng phẳng với mọi người
Việc gì phải sợ hãi!”
(Thơ dán trên bàn làm việc)
Sự nghiệp bắt đầu một bước ngoặt khác đang tìm đường chiến đấu tiếp mà chưa đến nơi như thế thì một tai nạn giao thông bi thương đã cướp mất một người bạn chí tình của giới văn nghệ sĩ xứ Huế. Ngậm ngùi chia tay ước mơ lý tưởng ấp ủ thì nhiều mà hiện thực chưa thấy được bao nhiêu đành để cho dang dở giữa chợ đờøi:
“Tôi biết thời gian sẽ chẳng đợi tôi
Nên tôi cứ đi và đi mãi
Sợ mai kia đôi chân mỏi
Những buồn vui sẽ chết với cuộc đời.”

625 - Thủy Smith
SƯU TẦM KỶ VẬT CHIẾN TRANH TỪ LÍNH MỸ

Công dân Mỹ gốc Việt\õ. Sống ở Mỹ (2011).
Trước 75 sinh ra ở Sài Gòn từ mẹ người Campuchia sống chung với một người lính Mỹ. Đến 1975 theo cha về Mỹ.
Lớn lên vào nghề làm khóa dây lưng kiếm sống. Tuy vốn gốc Campuchia nhưng vẫn nhớ nhiều kỷ niệm thời thơ ấu ở VN nên luôn xem mình là người VN.
Từ đó qua kinh nghiệm của người cha lính Mỹ trở về với di chứng mối ám ảnh chiến tranh VN mới có sáng kiến lập ra một trang web tập hợp những cựu binh Mỹ như cha mình để cùng nhau chia sẻ tâm tư, nguyện vọng giúp họ vượt lên mặc cảm tội lỗi. Được hơn 700 cựu binh Mỹ hưởng ứng tham gia.
Sau đó tiến tới thành lập tổ chức mang tên mình để mở cuộc vận động sưu tầm kỷ vật chiến tranh VN mà nhiều người lính Mỹ còn lưu giữ để tìm cách gửi trả lại về VN cho chủ nhân hoặc gia đình, thân nhân họ. Mỗi lần như vậy đều đích thân mang kỷ vật về VN tổ chức trao lại.
Từ những chuyến đi đó còn tổ chức thêm các cuộc vận động cựu binh Mỹ đóng góp giúp đỡ trẻ em nghèo kém may mắn từ những gia đình nạn nhân chiến tranh ở VN.

626 -Trần Quang
RA ĐI MUỘN MÀNG, TRỞ VỀ MUỘN MÀNG

Diễn viên điện ảnh sinh 1942 tại Lào. Sống ở TPHCM (2011).

Trước 75 được xem là nam diễn viên điện ảnh số 1 miền Nam đoạt nhiều giải thưởng qua các bộ phim nổi tiếng, ăn khách như “Vết thù trên lưng ngựa hoang”, “Điệu ru nước mắt”…
Làm quen rồi yêu một nữ đồng nghiệp Nhật Bản, đôi bên chuẩn bị làm đám cưới vào tháng 7.1975 thì xảy ra biến cố 30.4.75 làm dự định bất thành, cuộc tình cũng tàn phai theo thời cuộc!
Sau 75 vẫn ở lại ngay từ đầu tiếp tục tham gia đóng phim ở chế độ mới với một số bộ phim được hoan nghênh như “Tội lỗi cuối cùng”, “Con thú tật nguyền”, “Vết thù năm tháng”… Về sau còn tham gia viết kịch bản và làm đạo diễn phim.
Nhưng đến năm 1992 lặng lẽ chia tay điện ảnh và quê hương theo vợ qua Mỹ định cư.
Trên đất Mỹ có đi học thêm về nghề điện ảnh với ý muốn làm phim Việt tại đây nhưng điều kiện quá khó khăn nên không thành. Đành quay qua làm vài nghề khác trong đó có cả nghề tiếp khách ở sòng bạc.
Tuy cuộc sống ổn định, đời sống vật chất thoải mái nhưng trong lòng vẫn trăn trở nỗi buồn không được làm nghề, không được theo nghiệp điện ảnh mà đam mê đã ăn vào máu rồi: “Ở nơi tưởng chẳng thiếu thứ gì tôi biết rằng mình đang thiếu thứ gì đó rất quan trọng, nỗi nhớ nghề quay quắt. Bởi vậy muốn tìm về con đường ngày xưa đã đi tôi chỉ mong tìm lại chính mình…”
Từ đó năm 2007 quyết định về nước ở luôn dù phải chấp nhận vì thế mà từ bỏ cả gia đình yên ấm lâu nay trên đất Mỹ: “Đó là sự đánh đổi, hy sinh mà tôi chấp nhận”.
Trở về thuê một căn phòng nhỏ sống cô đơn một mình với nhiều dự án làm phim ấp ủ mong tìm lại dư âm một thời hạnh phúc nghề nghiệp dưới cả 2 chế độ. Nhưng có thể do thời thế đã đổi thay – cả điện ảnh cũng đổi thay - quá khứ đã qua một đi không trở lại nên đã hơn 3 năm qua vẫn chưa thấy tái xuất giang hồ xứng đáng như hằng mong ước.

627 - Trần Thị Nguyệt
NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG SỢ MA

Quản trang sinh tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2008).

Thời chống Mỹ vào bộ đội đi mở đường Trường Sơn.
Sau chiến tranh, năm 1981 bị sốt rét ác tính nên xin ra quân.
Sau 2 năm dưỡng bệnh đã tương đối khỏe lại. Một hôm tình cờ đi ngang qua nghĩa trang liệt sĩ huyện Vĩnh Linh quê mình mới được lập bấy giờ còn sơ khai chỉ là một bãi đất hoang nằm chơ vơ nơi đồng không mông quạnh không người chăm sóc trông lạnh lẽo hoang vu quá thấy “thương các anh” nên về làm đơn xin tình nguyện làm người trông coi nghĩa trang. Từ đó hàng ngày sáng đạp xe lọc cọc từ nhà lên cách xa hàng chục cây số làm cỏ, phụ giúp mai táng hài cốt liệt sĩ đến tối mới lại một mình đạp xe về nhà.
Năm 1984 lập gia đình sinh được 2 con gái nhưng khi con vẫn còn nhỏ thì chồng bỏ ba mẹ con đi theo vợ nhỏ. Thế là một mình vừa vất vả nuôi 2 con vừa phải lo công việc nghĩa trang không ngày nào vắng mặt. Có nhiều ngày bận việc giúp đỡ thân nhân liệt sĩ đi tìm mộ ở lại luôn nghĩa trang cả đêm cùng họ nên nổi tiếng là “bạn của ma”!
Bởi như tâm sự, chính công việc đó lại giúp mình khuây khỏa nỗi buồn tình cảm, thế sự: “Hàng ngày gần gũi phần mộ các anh, tôi như được an ủi vỗ về xoa dịu nỗi đau riêng”.
Hai con nay đều ăn học đàng hoàng sắp ra trường. Khi rảnh rang con lại lên nghĩa trang giúp đỡ đần mẹ một tay, để nghe lời mẹ dạy: “Điều mẹ mong muốn hơn cả là con phải sống cho tử tế. Bao năm qua sống ở nghĩa trang này với bao anh hùng liệt sĩ ở đây, với bao câu chuyện của những người đi tìm mộ liệt sĩ đã dạy cho mẹ làm người tử tế con ạ.”

628 - Trần Thị Như Hoa
THƯƠNG HIỆU NƯỚC MẮM BÌNH ĐỊNH

Doanh nhân sinh 1953 tại Bình Định. Sống ở Bình Định (2007).

Năm 1968 vào bộ đội đánh Mỹ.
Năm 1976 phục viên thương binh 3/4 và lấy chồng cũng là bộ đội chuyển qua chiến trường Campuchia.
Năm 1984 chồng xuất ngũ về làm công nhân còn mình vào nghề buôn bán lẻ nhưng gặp thời buổi kinh tế cả nước khó khăn ngập mặt mà sinh đến 4 con nên cả nhà lâm vào cảnh túng thiếu ngặt nghèo. Đã vậy mình lại mắc bệnh dính ruột phải mổ 2 lần nên cảnh nhà đã khó càng khó hơn khiến chồng sinh ra đổi tính nết bỏ việc bỏ cả 5 mẹ con đi theo người đàn bà khác có tiền bạc chu cấp hơn.
Còn lại đơn thân độc mã đi làm bất cứ việc nặng nhọc nào cũng không từ nan, đều từ nghề biển truyền thống của xứ đất cát Bình Định – gánh cát, gánh cá thuê, phơi cá khô, nhặt đầu cá phế thải đem bán… -- để nuôi 4 con.
May sao đồng đội cũ biết được tìm cách cho vay ít vốn làm ăn, liền chọn nghề đã làm quen lâu nay là nghề nước mắm – cũng là một trong các nghề “ruột” của dân Bình Định – ban đầu là đi buôn nước mắm. Từ đó lân la học nghề làm nước mắm tiến đến tự sản xuất nước mắm để bán. Phải trải qua sáu năm trầy trật gian nan mới tạm thành công bướùc đầu.
Từ đó chuyên tâm phát triển nghề mới này, năm 1998 mởù rộng cơ sở sản xuất, năm 2001 chính thức mở thương hiệu nước mắm “Như Hoa Tam Quan” (Tam Quan tên huyện nhà). Nhanh chóng trở thành một thương hiệu uy tín tiến tới xuất khẩu, một thương hiệu gắn bó với con em bộ đội Bình Định một thời là đồng đội cũ như một cách bộ đội trả nghĩa bộ đội.

629 - Trần Thị Thanh Hương
TỪ BÀ MẸ NUÔI BẤT ĐẮC DĨ THÀNH MẸ NUÔI KHÔNG CHỒNG

Nhà hoạt động từ thiện sinh khoảng 1948 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Hải Phòng (2011).

Năm 1966 tình nguyện đi thanh niên xung phong chống Mỹ, được điều ra chiến trường Quảng Trị rồi ra Bắc.
Đinh mệnh đưa đẩy cô gái chưa chồng từ năm 1972 trong thời gian lăn lộn chiến trường lại trở thành… bà mẹ nuôi ngoài ý muốn khi được các đồng đội nhờ nuôi giùm 2 đứa trẻ rồi ra đi không về. Thế là một mình nuôi 2 cháu bệnh tật vì ảnh hưởng CĐDC trên đất Bắc từ đó đến ngày lập lại hòa bình.
Trên quê người cả 3 “mẹ con” lưu lạc từ nơi này qua nơi khác, từ Hưng Yên, Hải Dương cuối cùng trôi giạt đến Hải Phòng năm 2003 tìm một miếng đất hoang ngoài đồng dựng lều tranh nuôi 2 con khôn lớn. Từ đó như “mệnh trời phải thế” đã vận vào thân, tiếp tục sứ mạng làm mẹ bất đắc dĩ bằng cách dần dà tìm cách xin địa phương lập một trung tâm nuôi con bộ đội bị nhiễm CĐDC mang tên cơ sở “Thiện Giao”. Nuôi dạy hơn 100 em khôn lớn, cho học nghề ra đời.
Vì thiên chức làm mẹ những đứa trẻ “không bao giờ lớn” đó mà chấp nhận hy sinh cuộc đời riêng, không thể lấy chồng vì người yêu nào cũng đòi mình phải từ bỏ những đức con “không máu mủ” ruột thịt gì. Nếu không thì cũng nghi ngờ có ai lại “làm mẹ” không công như thế?
Gần cuối năm 2010 gặp cơn bão số 1 tàn phá, cả cơ sở toàn dựng bằng lán tre đổ sập lại phải chạy vạy khắp nơi xin trợ giúp xây đỡ một căn nhà cấp 4 cho các em trú đỡ. Cùng lúc bị chẩn đoán… mắc bệnh ung thư!

630 - Trần Thị Thiết
RA NƯỚC NGOÀI HIẾN THẬN CHO EM


Thường dân sinh 1969 tại VN. Sống ở VN (2007).
Sống ở quê với chồng và bốn con bỗng nhiên năm 2004 được em trai ở Canada kêu gọi thống thiết qua Canada để hiến thận cho em mắc bệnh cần ghép một quả thận từ hơn một năm nay mà không có. Thế là tất tả lên đường đến xứ sở xa lạ để lại chồng con ở làng.
Nhưng sau khi hiến thận cứu sống em thì đến phiên mình bị biến chứng mắc loại bệnh lở chốc (psoriasis) khắp người biến thân thể thành ra “trầy vi tróc vảy” thân tàn ma dại trông rất ghê người khiến có mặc cảm không dám ló mặt ra ngoài! Trong lúc đó visa sắp hết hạn phải quay về nước, nơi mà theo các chuyên gia vốn là xứ khí hậu nhiệt đới nóng bức càng rất khó chữa bệnh này.
Cuối cùng đích thân Chánh án Toà án Liên bang Canada – một phụ nữ – phải ra lệnh cho cơ quan Di trú gia hạn giấy phép ở lại cho chị trị bệnh khỏi mới về nước, nếu không thì “thật hết sức bất thường và bất công” cho chị.
(Còn tiếp)