Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay

  •   A. A. Sokolov
1. Lời mào đầu
Lịch sử di tản của người Việt Nam đến các nước khác mà từ đó đã hình thành cộng đồng của người Việt Nam ở nước ngoài, tính được gần một thế kỷ. Tuy nhiên, sự xuất ngoại ồ ạt từ Việt Nam là một hiện tượng tương đối mới.
Cho đến nay chưa có sự thống kê chính xác về số lượng người Việt Nam hiện đang sống ở nước ngoài. Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam, có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống trong gần 90 nước trên thế giới, hơn nữa, khoảng 80%  tại các nước phát triển về mặt công nghiệp1. Phần lớn Việt kiều chọn Hợp chủng quốc Hoa kỳ và Canada làm nơi sinh sống, tiếp theo là các quốc gia Âu châu - Pháp, Đức, Ý, Hà Lan và Áo.
Số còn lại tìm nơi định cư tại châu Á - ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, hay một số nước Châu Phi và Nam Mỹ.
Việc người Việt Nam lưu vong trên thế giới đã diễn ra qua một số đợt và gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trước năm 1975, người Việt Nam chỉ mới lẻ tẻ di trú ở một vài nước. Những di dân đầu tiên dời khỏi nước Việt Nam hồi đó còn là thuộc địa, họ chủ yếu sinh cơ lập nghiệp ở Pháp với số lượng không lớn. Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ yếu vào những năm 1960-1970, các nhóm sinh viên từ miền Nam Việt Nam đến học ở Mỹ, Canada, Nhật, Ý và các nước tư bản khác theo kế hoạch trao đổi hoặc theo học bổng cũng như bằng tiền riêng của cá nhân. Một số sinh viên đã vĩnh viễn ở lại tại các nước đó.
Hiện nay một số lượng người Việt Nam đông nhất - gần 1 triệu người - đang sinh sống ở Mỹ. Xứ sở này được coi là một ví dụ về sự phát triển xã hội đa chủng tộc theo kiểu di trú. Trong số các nhóm tộc người vốn là bộ phận cấu thành  của Hợp chủng quốc Hoa kỳ hiện nay, người Việt Nam là một trong số những nhóm tộc người trẻ nhất. Sự hình thành của nhóm này bắt đầu từ nửa sau những năm 70 của thế kỷ XX, và gắn liền với một số đợt lưu vong chủ yếu từ các vùng ở miền Nam Việt Nam2
2. Điểm qua quá trình phát triển
Những giai đoạn hình thành của văn học Việt Nam ở hải ngoại.
Thời kỳ những năm 1975-1980 gắn liền với sự khởi đầu của việc gây dựng văn học của những người di tản Việt Nam ở nơi đất khách quê người.
Sau năm 1975, đa số các nhà văn miền Nam Việt Nam đã dần dần định cư ở Mỹ, Pháp, Châu Úc, Canada và các nước khác.  Đợt di tản đầu tiên gồm có những  người đại diện tiêu biểu nhất của văn học  nghệ thuật  miền Nam Việt Nam trước 1975. Đó là Mặc Đỗ, Nhật Tiến, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Duyên Anh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Thanh Nam, Túy Hồng, Nguyễn Tường Bách, Thế Uyên, Linh Bảo Nguyễn Thị Vinh,  Phan Lạc Phúc, Du Tử Lê, Viên Linh, Kiệt Tấn, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Duy( nhạc sĩ), Võ Đình( nhà văn và họa sĩ), Tạ Tỵ( họa sĩ và nhà phê bình), Đinh Cường(họa sĩ),  Khánh Ly( ca sĩ).
Nữ văn sĩ Mai Kim Ngọc từng kể lại rằng  những bước đi chập chững của mình  trong văn học được thực hiện ở trại tị nạn.
Hồi ấy, chúng tôi không nghĩ đến văn học… và có lẽ  đồng bào tôi cũng chưa nghĩ đến văn học. Tất cả những viết lách tôi thấy là những chuyện rất thiết thực, những bản tin chỉ dẫn nội quy của trại, những cẩm nang cho những người sắp rời trại về cách sinh hoạt trong một thành phố Mỹ, những chuyện đi xe buýt, chuyện gọi điện thoại, chuyện mua bán tại siêu thị vân vân và vân vân. Tóm lại những chuyện thuần túy thực dụng và cấp thời, chính xác và ngắn gọn như ngôn ngữ của những hoàn cảnh cấp cứu... Tuy tất cả những gì viết ra không phải là văn học, nhưng rất nhiều tác phẩm chúng ta đã viết với mục đích thực dụng, vẫn có giá trị văn học, không trực tiếp thì gián tiếp. Khi rời khỏi đất nước, ít ai trong số người đó nghĩ tới chuyện rồi đây sẽ sống ra sao. Lẽ cố nhiên, lúc đó chả còn đầu óc đâu mà nghĩ tới văn chương nữa. Nhiệm vụ chủ yếu đối với chúng tôi là sống được cái đã, bởi lẽ phải bắt đầu tất cả từ con số không?6
Những người Việt Nam đến Mỹ, ngoài gánh nặng tình cảm vốn gắn liền với việc chạy trốn khỏi quê hương xứ sở, còn phải trải nghiệm một cú sốc mạnh mẽ về văn hoá khi họ tiếp xúc với một hiện thực mới mẻ, xa lạ và khó hiểu. Xin dẫn ra đây một trích đoạn nữa cho thấy rõ tâm trạng của những người di tản:
Sự việc là thuở mới đặt chân đến Mỹ, chúng ta sống như trong một khoảng chân không văn hóa và tình cảm. Xung quanh chúng ta là một khung cảnh khác, luật pháp khác, phong tục khác, ngôn ngữ khác. Những ngày đầu ra khỏi trại, tiếng mẹ đẻ của chúng ta chỉ  còn dùng được giữa vợ chồng con cái. Ra khỏi cái vòng phấn nhỏ ấy7, tiếng Việt phải bỏ lại.
   Và tất cả cảnh sống ấy xa lạ không hẳn chỉ vì ngôn ngữ…Những người trong chúng ta thông thạo Anh ngữ ngay từ ở Việt Nam lại còn bàng hoàng hơn khi thấy các chương trình ăn khách trên các kênh TV, người Mỹ sinh hoạt với những quá trình hoàn tòan khác lạ, ta không hề dự phần… Họ xử án, họ vinh danh hay lăng mạ lãnh tụ của họ, họ giải trí họ vui họ buồn hoàn toàn khác chúng ta…
   Và ta nghĩ đến tâm sự riêng tư của mình. Cái vui cái buồn, cái làng xưa với bờ tre xanh với con sông nhỏ, với rừng dừa ven biển, với câu hát giọng hò…”8
Mặc dầu có sự khởi động của đời sống văn học, không mấy ai trong số các Việt kiều tin tưởng vào sự thành công của sự nghiệp mà họ đã gây dựng. Những lời sau đây của nhà văn Võ Phiến trong phần mở đầu cuốn Thư gửi bạn  (1976) là sự xác nhận cho những tâm trạng ấy;
Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa” Ông giải thích “ Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc.” Viết với Võ Phiến lúc này chỉ là  để thỏa mãn một “ nhu cầu lẩm cẩm”9
Bước ngoặt trong tâm trạng của giới văn chương đã diễn ra muộn hơn.
Thời kỳ thứ hai của văn học Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu vào năm 1980 và trùng hợp với sự xuất hiện của các "thuyền nhân" Trên các trang của tờ tạp chí "Văn", nhà văn Vũ Khắc Khoan đã nhấn mạnh: "những người này - những "thuyền nhân tị nạn" - bằng sự xuất hiện của mình đã khuấy động văn học và nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại, đã thúc đẩy sự vận động của nó tới một giai đoạn mới trong sự hình thành và phát triển."12
Nếu phần lớn dân tị nạn thuộc đợt thứ nhất gồm những người có mối quan hệ nhất định với Mỹ thì những người ở đợt di tản thứ hai phải tự đi tìm cách dời khỏi Việt Nam. Sau khi đến một quốc gia này hay một quốc gia khác ở Đông Nam Á, họ phải chờ đợi khá lâu để nước thứ ba cho phép họ chuyển đến. Và cái quy chế ấy của người tị nạn cũng như việc có được nó đã gây ra ở họ một cú sốc tinh thần sâu sắc, điều này, lẽ tất nhiên, đã được phản ánh trong sáng tác văn học sau này của họ.
Thời kỳ thứ ba(1982-1990), đã đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển tương đối ổn định của văn học Việt Nam ở hải ngoại. Số tác giả mới và số lượng sách được xuất bản đã gia tăng, những nhà xuất bản chuyên nghiệp đã ra đời, và đã xuất hiện một đời sống văn học thực thụ - phong phú và đa dạng. Có thể nói rằng thời kỳ này là thời kỳ thuận lợi nhất và có kết quả nhất trong lịch sử văn học Việt Nam ở hải ngoại.
Vào những năm đó số lượng tiểu thuyết được công bố còn ít. Tác phẩm đáng kể nhất trong thể loại này là bộ tiểu thuyết sử thi 5 tập Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác. Truyền thống của tiểu thuyết (theo cách hiểu của Châu Âu về thể loại này) trong văn học Việt Nam còn khá non trẻ. Để viết được những tác phẩm có quy mô như vậy cần phải có kinh nghiệm sống phong phú và tài năng, do đó, nhiều nhà văn lưu vong có thể bộc lộ mình rõ nét nhất trong các tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ.
 Với sự lưu ý tới tất cả những nhân tố đó, thể loại truyện ngắn về mặt lô gích đã trở thành thể loại dẫn đầu trong văn học Việt Nam ở hải ngoại. Hầu như tất cả các nhà văn mới đều là những cây bút truyện ngắn, trong số đó trước hết cần phải nêu lên những tên tuổi: Thế Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hương v.v....
Vào thời kỳ phát triển tiếp theo, thời kỳ thứ tư (1990-1995) nhịp độ phát triển văn học Việt Nam ở Mỹ đã chậm lại và  ngày càng ít những tác giả mới xuất hiện, ngày càng ít những tác phẩm hay và có giá trị về mặt nghệ thuật được công bố.
Trong giới báo chí hải ngoại, vấn đề về tình trạng đình đốn trong đời sống văn học nghệ thuật của cộng đồng người Việt ở hải ngoại được bàn luận sôi nổi. Và rất nhiều người đã đi đến nhận định cho rằng căn nguyên của nó là những biến đổi chính trị đã diễn ra ở Việt Nam và trên thế giới nói chung. Sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa kỳ vào năm 1995, nước Việt Nam cộng sản dần dần hoà nhập với thế giới đã buộc văn học Việt Nam ở hải ngoại phải thay đổi.
Được bắt đầu từ năm 1995 và được tiếp tục cho tới ngày nay, thời kỳ thứ năm trong sự phát triển văn học của cộng đồng người Việt định cư ở Mỹ và ở một số nước khác nhìn chung gắn bó chủ yếu với những vấn đề sau đây:
- Tiếp tục duy trì văn học Việt Nam bằng tiếng mẹ đẻ và bảo tồn những cơ sở văn hoá- văn học Việt Nam đã hình thành tại các nước cư trú hiện nay.
- Sự hoà nhập của các tác giả Việt Nam vào đời sống văn học của nước mà họ đang sinh sống (đối với những người viết bằng tiếng Anh ở Mỹ, Canada và úc, bằng tiếng Pháp ở Pháp v.v....)
- Sự hồi hương (trở về Việt Nam) của các tác giả viết bằng tiếng Việt.
3. Những khuynh hướng chủ yếu của sự phát triển văn học Việt Nam ở hải ngoại
Hoài niệm và hội nhập
Nếu thử nêu lên vắn tắt tình hình văn học Việt Nam ở hải ngoại thì đó là sự phân chia rạch ròi của các nhà văn ra làm hai khuynh hướng mà quan điểm tư tưởng- nghệ thuật và sáng tác được định hướng vào quá khứ hay vào hiện tại. Từ khoá đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng đầu là hoài niệm, còn đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng thứ hai là hội nhập. Văn học Việt Nam ở hải ngoại được hình thành và tiếp tục tồn tại chính là trong cái hệ toạ độ ấy.
Trong những năm đầu tiên định cư trên đất Mỹ (1975-1979), hoài niệm đã trở thành chủ đề chính trong nhiều tác phẩm của các tác giả Việt Nam mà nét nổi bật là nỗi đau ly tán với quê hương xứ sở, sự cô đơn và sự vô vọng đối với tương lai. Những tình cảm ấy được thể hiện dễ dàng hơn trong thơ so với văn xuôi. Những sáng tác đầu tiên của các tác giả thuộc khuynh hướng này - như Thơ của Cao Tân và "Đất khách" của Thanh Nam -- đã xác nhận điều đó.
Những tình cảm tương tự của những người tị nạn xa xứ cũng được ghi lại trong văn xuôi - trong truyện ngắn và tùy bút của Võ Phiến ( Thư gửi bạn , Nguyên vẹn), của các tác giả khác như Tuý Hồng, Trùng Dương, Thanh Nam. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan của những năm đầu lưu vong, khi việc ra báo định kỳ và hơn nữa, việc xuất bản sách mới chỉ có những bước đi đầu tiên thì chính thơ ca với hình thưc thích hợp về mặt thể loại và hình tượng đã cho phép thực hiện một cách kịp thời nhất một nhiệm vụ khó khăn là thông báo cho những người đồng hương xa xứ về nỗi đau khôn nguôi của mình đối với cố hương.
Dần dần, nét lạc quan đã trở lại với thơ ca hải ngoại, phạm vi những vấn đề do các tác giả đề cập tới được mở rộng và (điều này rất tiêu biểu) trình độ tư tưởng- nghệ thuật của tác phẩm được nâng cao rõ rệt. Niềm tin vào sức mình đã trở lại với mọi người. Cuộc sống của họ ở xứ lạ bắt đầu có ý nghĩa, và điều đó thực ra đã được phản ảnh trong văn học.
Những thay đổi ấy thể hiện rõ nét nhất trong truyện ngắn của Hồ Trường An, tiêu biểu nhất trong số đó là Hợp lưu. Trong những truyện ngắn của mình, tác giả mong muốn truyền đạt nhịp độ và tâm trạng của cuộc sống mới, ở đó nỗi buồn và tiếng cười xen kẽ bên nhau, sự chiêm nghiệm trầm tư và sự hào hứng lao động "như Tây" vì hạnh phúc và sự phồn vinh tương lai của mình ở Mỹ ngày càng có hiệu quả. Nhờ những tác phẩm ấy, như nhận xét của một số nhà phê bình văn học, thái độ đối với quá khứ được ý thức một cách hợp lý hơn, còn thái đội đối với hiện tại và tương lai thì trở nên điềm tĩnh hơn.

Hiện thực dân tộc, hồi ký và tư liệu lịch sử
Ngay từ đợt di tản thứ nhất, trong văn học Việt Nam ở hải ngoại đã hình thành khá rõ ba dòng: 1. Dòng văn chương phong tục (một số nhà nghiên cứu đề nghị dùng các thuật ngữ hiện thực dân tộc  (etnorealisticheskij) hoặc văn hoá dân tộc  (etnokul'turuyj), 2. dòng hồi ký và 3. dòng tư liệu-lịch sử
Dòng đầu tiên gồm đại đa số tác giả là người miền Nam Việt Nam. Cốt truyện trong sáng tác của họ (chủ yếu là thể loại truyện ngắn) gắn liền vói cuộc sống hàng ngày của tầng lớp dân nghèo và trung lưu trong những năm dưới chế độ thuộc địa của Pháp (Hồ Trường An, Xuân Vũ, Ngô Nguyên Dũng, Huyền Châu, Nguyễn Văn  Ba), trong thời kỳ tồn tại của chế độ Việt Nam cộng hoà trước ngày 30/4/1975 (Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hùng) cũng như trong những điều kiện của chế độ xã hội chủ nghĩa mới sau khi nước Việt Nam thống nhất (Nguyễn Đức Lạp, Võ Kỳ Điện, Nguyễn Văn Sâm). Bên cạnh sự phong phú của  những chi tiết sinh hoạt rực rỡ, giàu hình ảnh của cuộc sống quá khứ ấy, họ đã sử dụng rộng rãi "ngôn ngữ hội thoại", điều đó rõ ràng góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của văn học Việt Nam ở hải ngoại, trước hết đối với việc giải quyết những nhiệm vụ sáng tác về mặt tư tưởng- nghệ thuật và triết học.
Dòng hồi ký trong văn học Việt Nam ở hải ngoại được hình thành cùng một lúc với việc cuộc sống của họ dần dần ổn định về mặt kinh tế ở Tân thế giới. Những cuốn sách này đã ghi lại quá khứ mới đây của nhiều nhân vật cao cấp trong chính quyền Sài Gòn cũ các tướng lĩnh (Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Chánh Thi, Huỳnh Văn Cao, Trần Ngọc Nhuận v.v...) các chính khách (Bùi Diễm, Nguyễn Tiến Hưng, Trần Huỳnh Châu) và các văn nghệ sĩ (Phạm Duy, Duyên Anh, Nhã Ca). Tất cả những cuốn sách ấy chứa đựng (chăc chắn là ở mức độ khác nhau) tư liệu phong phú về các sự kiện và những cách đánh giá cá nhân rất đáng chú ý đối với độc giả bình thường, nhất là đối với các nhà nghiên cứu các nhà nghiên cứu các nhà lịch sử, các nhà xã hội học, các nhà nghiên cứu văn học v.v...
Trong những cuốn sách của mình, các tác giả ấy thường chỉ ghi lại hoặc kể lại các sự kiện; kinh nghiệm sống và sáng tác của họ chưa vươn tới tầm khái quát cao mang tính chất triết lý nghệ thuật cũng như chưa được tạo dựng để đưa họ trở thành các nghệ sĩ ngôn từ.
Có mối liên hệ trực tiếp với dòng hồi ký là những tác phẩm viết về đề tài lịch sử. Cho đến tận ngày nay, nội dung chủ yếu của văn học Việt Nam ở hải ngoại là quá khứ vốn có thể được lý giải và được phản ảnh thông qua số phận cụ thể của từng con người riêng biệt cụ thể cũng như dưới dạng tác phẩm sử thi đồ sộ.
Một cống hiến không thể phủ nhận vào văn học Việt Nam là những cuốn tiểu thuyết Mùa biển độngSông Côn mùa lũ  của Nguyễn Mộng Giác, Người đi trên mây của Nguyễn Xuân Hoàng, Giấc mộng của Nguyên Sa v.v... Cũng phải nhắc tới những tác giả như Thích Nhất Hạnh và Nghiêm Xuân Hồng là những người viết về các vấn đề tôn giáo triết học. Sách của họ, mặc dầu mang tính chuyên biệt nhất định, có giá trị nghệ thuật cao và được phổ biến rộng rãi giữa các độc giả.

4. Những véc tơ của sự phát triển văn học Việt Nam ở hải ngoại
 Khác với các tác giả được định hướng về mặt quan niệm và sáng tác vào những vấn đề của quá khứ (về họ đã được nói tới ở phần trên), khuynh hướng hội nhập trong văn học Việt Nam ở hải ngoại dần dần chiếm những vị trí đáng kể trong những quá trình xã hội và sáng tác đang diễn ra trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Và hiện tượng này có tính chất lô gích. Thế hệ đầu tiên của những người di tản vốn được định hướng vào những gia trị văn hoá truyền thống của Việt Nam và trước hết vào tiếng Việt, ngày một già đi, trong khi đó các thế hệ tiếp theo (thế hệ thứ hai và nhất là thế hệ thứ ba) ngày càng được Mỹ hoá và hầu như không gắn bó tương lai của mình với Việt Nam (mặc dầu ngay cả ở đây cũng có những ngoại lệ).
Nếu chú ý tới sự thống kê thì đa số tác tác phẩm viết về kinh nghiệm hội nhập của người Việt Nam vào cuộc sống Mỹ là do phụ nữ viết. Đó là Vị Khuê, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Phan Thị Trọng Tuyền, Vi Quỳnh Hương, Nguyễn Thị Ngọc Nhung v.v... Trong số các nhà văn nam giới viết về vấn đề này có Võ Phiến ("Thư gửi bạn "), Nguyễn Bá Trạc ("Ngọn cỏ bồng", "Chuyện một người di cư nhức đầu vừa phải") Võ Đình ("Xứ sấm sét", "Sao có tiếng sóng") v.v...
Trong sáng tác của mình, các tác giả viết về những vấn đề thông thường đối với bất cứ một cộng đồng di tản nào, nhất là ở những giai đoạn hình thành đầu tiên của nó. Đó là sự tan vỡ của cuộc sống yên ổn trước đây, những khó khăn của thế hệ những người di tản đầu tiên do sự khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ nên không thể hoà nhập nhanh chóng vào hiện thực Mỹ, sự cô đơn của người già, sự suy thoái hoá về đạo đức, hiện tượng lớp trẻ rút khỏi "cộng đồng người Việt", sự tan nát của gia đình, sự phân hoá xã hội sâu sắc trong nội bộ cộng đồng di tản v.v...
Mặc dầu trong đa số tác phẩm, sự thích nghi và hội nhập của người Việt được miêu tả với sắc thái bi quan - thông qua những dằn vặt lớn lao về đạo đức và những khó khăn vật chất, tuy thế vẫn có những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn, cây bút văn xuôi Hồ Trường An từng được nhắc tới ở phần trên, trong thiên truyện ngắn "Hoà hợp" đã lạc quan tiếp nhận cuộc sống mới mà ông ta và những người đồng hương của mình đành phải bắt đầu ở Mỹ. Trong truyện ngắn "Gió đêm" Trần Thị Kim Lan viết về sự hiểu biết lẫn nhau giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau. Trong những truyện ngắn của mình, Mai Kim Ngọc nhìn chung thiên về việc đánh giá một cách tích cực đối với cuộc sống của người Việt trong những đièu kiện xã hội - văn hoá mới.
Đa số những người di tản thuộc thế hệ đầu tiên không thể hoà nhập vào văn hoá của nước bản địa. Trong khi đó thì thế hệ thứ hai hoặc thế hệ thứ ba- những người dời khỏi Việt Nam từ hồi còn nhỏ hoặc đã sinh ra trên đất Mỹ, học trường bản địa - dễ dàng hoà nhập vào xã hội, và nền văn hoá mới. Đã xuất hiện những tác giả trẻ chỉ viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Những cuốn sách của họ tái hiện lại các cốt truyện Việt Nam có lẽ với chủ ý dành cho độc giả nước ngoài.
Kinh nghiệm hội nhập vào cuộc sống trở thành đề tài chủ yếu trong các tác phẩm (phần lớn là truyện ngắn) của các nhà văn thuộc thế hệ thứ hai viết bằng tiếng Việt và bây giờ đã từ 40 tuổi đến 50 tuổi trở lên. Ở Mỹ đó là Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Nam, Ngọc Khôi, Hoàng Mai Đạt, Dương Như Nguyện, Vũ Quỳnh N.H. Đỗ Kh., Bùi Diễm Âu, Võ Đình, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Hương, Nguyễn Danh Bằng; ở Pháp đó là - Thuỵ Khê, Trần  Vũ, Mai Ninh, Thuận; ở Canada, đó là - Nam Giao; ở Úc đó là - Hoàng Ngọc Tuân và Nguyễn Hưng Quốc; ở Đức đó là - Lê Minh Hà v.v... Trong tác phẩm của họ có ít cốt truyện về cuộc sống trước đây ở Tổ quốc, bởi lẽ họ đã ra đi từ hồi còn nhỏ và đối với họ, Việt Nam không phải là cái cảm nhận được và cái mong muốn như đối với thế hệ cha anh của họ. Bởi vậy họ viết về cuộc sống hiện tại của mình, dù đó là Mỹ, Pháp hoặc Nhật, xuất phát từ tình hình thực tế của cái thế giới hiện đại bao quanh họ. Họ rất tự tin, thoải mái trong việc thể hiện tình cảm và bộc lộ những nhận định. Sáng tác văn học không phải là cái chủ yếu trong hoạt động thực tiễn của họ, họ không đóng vai trò chủ chốt trong đời sống văn học của cộng đồng người di tản, tất cả những nỗ lực của họ đều hướng tới sự thành đạt trong xã hội mới. Khác với các nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên, đối với nhiều người trong số họ, văn học chủ yếu là sự tiêu khiển, sự giải trí về mặt tinh thần mà không phải là nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Hơn nữa, họ đang ở trong một tình thế đặc biệt - họ cần phải đi tìm độc giả của mình vốn, cũng như họ, thuộc về cái thế hệ mà họ có thể chia sẻ những suy nghĩ và tình cảm của mình thông qua các tác phẩm viết bằng tiếng Việt.
Không phải tất cả các nhà văn này nhất quán đi theo con đường đó - viết bằng tiếng Việt. Một bộ phận không nhỏ đã hoặc sẽ nhanh chóng chuyển sang tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác với tư cách là công cụ sáng tác và giao tiếp, bởi lẽ sự lựa chọn này giúp họ hoà nhập vào dòng chảy chung của văn học ở nước họ định cư và vào văn học thế giới nói chung. Nói một cách hình tượng, họ đang tìm sự cân bằng giữa hai thế hệ - thế hệ thứ nhất, lớn tuổi hơn và thế hệ tiếp theo sau họ, trẻ hơn, vốn hoàn toàn hướng tới sự hội nhập vào môi trường mới và ngôn ngữ mới. Cùng với thế hệ đầu tiên, họ sẻ chia lòng yêu mến tiếng Việt, nhưng không xẻ chia gánh nặng tình cảm đối với quá khứ. Cùng với thế hệ thanh niên, họ tiếp nhận một cách thực tế và thực dụng cuộc sống mà hiện nay họ phụ thuộc, nhưng tuy thế trong văn học họ bị ngăn cách bởi rào cản ngôn ngữ- bởi tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức. Hiện ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam đã hình thành cả một đội ngũ nhà văn đồng thời thuộc về hai nền văn hoá - văn hoá Việt Nam và văn hoá của nước mà nhà văn định cư. Ở Mỹ, một tác giả tiêu biểu nhất của văn học Việt Mỹ- là Andrew Lam-  một nhà chính luận nổi tiếng và một cây bút chuyên viết truyện ngắn bằng tiếng Anh cũng như Monich Trương, Aimee Phan, Lan Cao, Kien Nguyễn, Lê Thị Diễm Thuý, Dao Strom, Nguyễn Minh Bit, Mộng Lan v.v... Kim Lefevr và Linda Le đã viết những áng văn xuôi rất hay bằng tiếng Pháp. Những tác giả thuộc khuynh hướng này đã thu hút được sự chú ý của những nhà xuất bản sách và giới phê bình, đã nhận được các giải thưởng quốc tế.
5. Tương lai thuộc về độc giả (thay phần kết luận)
Tác phẩm văn học còn sống khi nó được mọi người đọc. Nếu không có độc giả thì văn học ắt bị lãng quên. Bậc trưởng lão của văn học Việt Nam ở hải ngoại là Võ Phiến đã nhiều lần nói rằng ở chốn xa xứ, văn học Việt Nam viết bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) không thể tồn tại lâu dài được nếu không có mối liên hệ với cội rễ của nó, tức là với Việt Nam. Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc đã biểu thị tình trạng đó một cách bi đát hơn:
" Lưu vong thường được mở  đầu bằng một bi kịch chích trị hoặc một bi kịch kinh tế nhưng kết thúc bằng bi kịch văn hoá. Càng ngày tôi càng thấm thía một điều : Sống và viết ở hải ngoại không phải chỉ là sống và viết ở hải ngoại. Khi nhà văn rời quê hương để ra định cư và sáng tác ở một chỗ ở và một bàn viết mà còn thay đổi một thế giới với  mối liên hệ chằng chịt phức tạp để  rồi  - một cách tự giác  hay không -  dần dần thay đổi cách nghĩ, cách cảm từ đó cách viết và cuối cùng, không chóng thì chầy, thay đổi cả căn cước (identity) của chính hắn với tư cách nhà văn nữa" 12
      Để không bị lâm vào tình thế của sự lựa chọn cơ bản như vậy, nhiều nhà văn Việt Nam ở hải ngoại đem tương lai tác phẩm văn học của mình gắn liền với công chúng độc giả ở Việt Nam, song điều đó không đơn giản. Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy rằng sách báo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì có thể dễ dàng tìm thấy trong các thư viện và hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả  người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở Việt Nam, và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là nguyên nhân ý thức hệ.
Nhà thơ Ba Lan nổi tiếng Milos Forman, giải thưởng Nobel, nhiều năm sống lưu vong ở My và cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận của nhà văn lưu vong: "Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi", tức là nhà văn đó và tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được với độc giả của mình ở trong nước. Song vào những năm gần đây tình hình trên thế giới đã thay đổi: đã xuất hiện Internet vốn vượt qua những khoảng cách khổng lồ và những biên giới quốc gia. Hiện nay tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học Việt Nam ở hải ngoại đã tới được Việt Nam. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở Việt Nam còn có sự kiểm duyệt khắt khe và sự giám sát của nhà nước đối với Internet vốn có thể cung cấp thông tin và sự tiếp cận với các tác phẩm văn học. Nổi tiếng hơn cả là hai tờ tạp chí mạng - Talawas (người phụ trách là nhà văn nữ có tên tuổi Phạm Thị Hoài hiện sống ở Đức) và Tiền Vệ (người phụ trách là nhà phê bình văn học nổi tiếng Nguyễn Hưng Quốc, hiện sống ở Úc) Nhiều tờ tạp chí in ấn ("Hợp lưu", "Văn học", v.v.) cũng có mạng riêng.
Đường lối chính trị của các nhà lãnh đạo CHXHCN Việt Nam hiện nay là tiếp tục phát triển sự hội nhập của nước này với cộng đồng thế giới. Những thay đổi diễn ra trong chính sách nhà nước đối với Việt kiều vốn cần phải trở thành nhịp cầu vững chắc giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài đã chứng tỏ điều đó. Chính sách mới này mà ý nghĩa chủ yếu là coi Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, được ghi trong bản Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 26/3/2004.
Ở Việt Nam hiện nay rõ ràng có sự chú ý tới sáng tác văn học của kiều bào đang sinh sống ở hải ngoại. Điều này được thể hiện trong một số bài viết hiếm hoi trên báo chí cũng như trong việc xuất bản sách của chính các Việt kiều.
Nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc, một trong những cây bút hàng đầu của văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ, cho rằng :
" …một tác phẩm viết bằng tiếng Việt, dù của bất cứ ai, viết bất cứ ở đâu, vào bất cứ thời gian nào, miễn là nó hay, thì đều là tài sản chung của dân tộc Việt Nam.. Những người Việt Nam  ở nước ngoài trong mấy chục năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được. Đó là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, và điều này chẳng có gì phải bàn cãi. Cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại làm nên diện mạo của văn học Việt Nam ngày nay.
Sẽ cực kỳ thiếu sót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết đến văn học Việt Nam hải ngoại. Vấn đề có lẽ chủ yếu  là ở những chỗ này: Sự đóng góp đáng kể nhất của bộ phận văn học này đối với văn học Việt Nam hiện đại là ở chỗ nào và triển vọng của nó ra sao?
 Theo tôi bộ phận văn học này phản ánh số phận của một bộ phận quan trọng trong dân tộc ta mà những người viết trong nước khó có khả năng tiếp cận, hiểu và viết được. Thiếu nó thì văn học chúng ta sẽ khuyết đi một mảng rất lớn và rất quan trọng của khuôn mặt  con người Việt Nam trong thời sóng gió hung bạo của lịch sử dân tộc như chúng ta đã và đang trải qua... Văn học Việt Nam  do vậy sẽ què quặt"13
 Hiện nay, vấn đề chủ yếu, theo nhà văn, là ở chỗ "phải làm thế nào cho cả hai bộ phận đó của văn học (trong nước và ngoài nước) "thông thương " được với nhau, phá dỡ những trở ngại vô lý giữa hai bộ phận của một cơ thể  văn học thực ra thống nhất " 14
Trong thời gian gần đây, Trung tâm Văn hoá và ngôn ngữ Đông Tây, các công ty "Phương Nam" và "Nhã Nam", các nhà xuất bản của nhà nước, đã có những nỗ lực tích cực trong việc xuất bản ở Việt Nam tác phẩm của các tác giả Việt Nam ở hải ngoại. Trên con đường này cũng có những trở ngại nhất định, đó chính là : 1. Thiếu sự chuẩn bị cho các tác giả Việt Nam để tiếp thu nội dung và những đặc điểm về phong cách nghệ thuật trong các tác phẩm của các tác giả hải ngoại, những tác phẩm này rất khác với sách của các nhà văn CHXHCN Việt Nam, và 2. Sự giám sát ngặt nghèo từ phía các cơ quan nhà nước đối với các tác phẩm "có những vấn đề  chính trị " 15 Hiển nhiên, điều thứ hai thường trở thành yếu tố quyết định đối với số phận tác giả lưu vong trên Tổ quốc lịch sử của họ.
Tuy vậy, những ví dụ về việc công bố tác phẩm của các nhà văn lưu vong Việt Nam trên Tổ quốc lịch sử của họ mỗi ngày một trở nên nhiều hơn. Chẳng hạn, giáo sư Nam Dao hiện sống ở Canada, rất có uy tín trong giới khoa học và trong cộng đồng hải ngoại của ông. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, ông đã tích cực giúp đỡ Việt Nam, sau năm 1975, ông thường xuyên về nước. Ông là tác giả của những tập thơ và những tập truyện ngắn cũng như của những cuốn tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết lịch sử. Vào những năm gần đây, ông có hai cuốn tiểu thuyết được in ở Việt Nam - "Trăng nguyên sơ" và "Đất -- trời".
Cây bút văn xuôi Đỗ Kh. thường xuyên sống ở Mỹ. Ở Việt Nam nhà xuất bản Văn hoá thông tin đã cho ra mắt độc giả cuốn " Ký sự đi Tây". Cuốn sách này bán rất chạy và mới đây đã được tái bản.
Năm 1998, bộ tiểu thuyết sử thi gồm 4 tập "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác được xuất bản tại Việt Nam. Tác phẩm này kể về một thời oanh liệt khi nhà Tây Sơn và Nguyễn Huệ trị vì đất nước. Tác giả viết bộ sách này tại Việt Nam, trước khi di tản sang Mỹ.
Vào những năm gần đây, tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam khác đang sống ở hải ngoại đã đến với bạn đọc trong nước: văn xuôi của Mai Ninh ("Ảo đăng"), khảo cứu triết học "Tư duy tự do" của Phan Huy Đường, khảo cứu lịch sử "Thần, người và đất Việt" của Tạ Chí Đại Trường, chuyên luận khoa học "Tôn giáo và xã hội hiện đại" của Cao Huy Thuần. Tại thành phố Hồ Chí Minh có in tập thơ của nhà thơ nổi tiếng Du Tử Lê hiện đang sống ở Mỹ.
Cần phải nói riêng về thế hệ nhà văn trẻ. Phan Việt có nghề chính là nhà xã hội học, hiện sống và làm việc ở Mỹ. Chị được trao giải nhì cho tập truyện ngắn Phù phiếm truyện  tại cuộc thi "Văn học tuổi 20" do báo Tuổi trẻ" và Nhà xuất bản Trẻ (thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức.
Nữ văn sĩ Thuận hiện sống ở Paris. Cuốn sách đầu tiên của chị  Made in Việt Nam được xuất bản ở Mỹ. Trong ba năm gần đây, chị cho in một số tiểu thuyết  China town, Paris, 11 tháng 8, T. mất tích. Tác phẩm sau cùng này được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng vào năm 2005. Hai năm sau, một nữ văn sĩ Việt kiều khác là Đoàn Minh Phượng cũng nhận được giải thưởng tương tự về cuốn tiểu thuyết "Và khi tro bụi". Ở tuổi 20, chị đã dời khỏi Việt Nam để sang Đức. Ngoài ra, chị còn là đạo diễn và nhà sản xuất những bộ phim Hạt mưa rơi bao lâu, và Tết Nguyên tiêu.
Rõ ràng là văn học Việt Nam ở hải ngoại rất khó sống nếu thiếu công chúng độc giả ở Việt Nam. Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế và văn hoá vốn càng ngày càng có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phải góp phần thúc đẩy việc bắc những nhịp cầu vững chắc giữa văn học ở trong nước và văn học ở ngoài nước, mà điều đó đến lượt nó, sẽ xúc tiến quá trình phục hồi sự công bằng lịch sử- trả lại cho các nhà văn Việt Nam và những tác phẩm của họ ở hải ngoại cho Tổ quốc lịch sử của mình./.
.....................................
Về tác giả A.A. Sokolov, Phó giáo sư tiến sĩ sử họcViện Phương Đông Viện Hàn lâm khoa học Nga
Đã có trên 100 công trình gồm các bài báo và cuốn sách viết về Việt Nam
--Từ điển Việt Nga đã in ba lần trong đó có hai lần ở Việt Nam
--Hội thoại Nga Việt – Hội thoại Việt Nga đã in 5 lần trong đó 2 lần tái bản ở Việt Nam
--Quốc tế Cộng Sản và Việt Nam Chuyên khảo – Đã dịch và in ở Việt Nam 1999
-- Những người Nga ở Việt Nam ( đang dịch)
-- Nhật ký du lịch Việt Nam của Công tước K.A. Viazemski
Đã dự và đọc tham luận tại nhiều hội thảo về văn hóa Việt Nam, trong đó có bài Văn hóa và văn học VN trong điều kiện tòan cầu hóa đã in trên tạp chí Thông tin khoa học xã hội 2010.
Chú giải
1/ Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đã với người Việt Nam ở nước ngoài //www.mofa.gov.vn/vi/vdquantam/ns 041215094400, ngày khai thác 21-12-2008. Theo những tài liệu khác, số người Việt Nam ở hải ngoại là hơn 3 triệu người.
2/ Chi tiết hơn, xem : Một số khía cạnh kinh tế- xã hội của việc hình thành cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ// Nước Việt Nam truyền thống. M. 2008, T3, tr 162-186
6/ Mai Kim Ngọc. Vài cảm nghĩ về văn học hải ngại// Tạp chí Văn học (California) 1995, số 109, tr. 4,6.
7/ Ở đây muốn nói đến những loại tị nạn được lập ra trên lãnh thổ Hoa kỳ: tại các bang California,  Arcanzas, Florida, Pensilvania.
8/ Mai Kim Ngọc. Vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại  (tldd), tr 12
9/ Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc Hai mươi năm văn học Việt nam hải ngoại. Tuyển tập Hai mươi năm văn học Việt nam hải ngoại 1975-1995 Chủ trương Trương Đình Võ Nhà xuất bản Đại Nam California 1995, tập 1, tr 15
12/ Nguyễn Hưng Quốc. Sống và viết như người lưu vong// Văn học Việt Nam từ điểm nhìn hậu hiện đại. California. Văn nghệ, 2000. Tr 222-234
13/ Phỏng vấn đài BBC 31/07/2003. Dẫn theo: Nguyên Ngọc. Văn học, nội lực, trong ngoài// hoiluan.vanhocvietnam.org, ngày khai thác  13.03.2008.
14/ Sđd
15/ Hoàng Hưng: Nghĩ về hội nhập giữa những người Việt Nam cầm bút//hoiluan.vanhocvietnam.org, ngày khai thác  05.02.2008.
Người dịch: Lê Sơn
Nguồn: Jugo - Vostochnaja: Azija aktual'nye problemy razvitija/ deologija, istorija, kul'tura, polilika, ekonomika Vypusk XI (Ju.VA, 2007-2008). M. Institut Vostokovedenija RAN, 2008, Str 233-254.
Đông Nam Á, những vấn đề cấp thiết của sự phát triển. ý thức hệ, lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế. Tập XI 2007-2008. M. Viện Đông phương học trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAN) 2008, tr 233 - 254

http://www.vanhoanghean.com.vn

Không có nhận xét nào: