Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Trao đổi với nhà thơ Cao Thoại Châu

 
 
Vài nét về nhà thơ Cao Thoại Châu:
* Nhà thơ Cao Thoại Châu, tên thật Cao Đình Vưu.
-Sinh Năm 1939, tại Giao Thủy, Nam Định, Bắc Việt. Vào Nam năm 1954.
-Tốt nghiệp đại học Sư Phạm Sài Gòn. Cựu giáo sư các trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa, Kontum, Pleime và Tân An. Khởi viết năm 1963 trên các tạp chí Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Thái Độ… -Hiện sống tại Long An Việt Nam.
* Tác Phẩm đã xuất bản:
- Bản Thảo Một Đời (Thơ 1991)
- Rạng đông một ngày vô định (Thơ năm 2006)
- Ngựa Hồng (Thơ 2009)
- Vớt lá trên sông. (Tạp văn, 2010)
- Vách đá cheo leo (Tạp bút, 2012)
- Mời em uống rượu (Thơ trước 1975, đang in)


LƯƠNG THƯ TRUNG (LTT):
Kính chào nhà thơ Cao Thoại Châu,
Trước hết xin phép được gọi thi sĩ bằng Thầy, vì nhiều lẽ. Thứ nhất là nếu gọi bằng ông thì quá xa lạ, làm cho cuộc trao đổi mất vui; còn nếu gọi bằng anh thì thiệt tình tôi không dám vì tự đáy lòng của một đứa học trò tỉnh lẻ Long Xuyên những năm 1957-1963, như tôi, tôi thấy có chút gì áy náy lắm; chi bằng xin phép được gọi thi sĩ bằng Thầy là hợp đạo nghĩa nhất vì quan niệm miền quê Long Xuyên-Châu Đốc học trò tụi tôi là rất kính trọng các nhà mô phạm, quý vị giáo sư và các Thầy Cô giáo các cấp dù mình có học hoặc chưa học với các Thầy Cô ấy ngày nào. Nên xin Thầy cho phép vậy!
Thứ đến, được biết , bắt đầu sự nghiệp dạy học của Thầy thì ngôi trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) là nhiệm sở đầu tiên Thầy ghé lại. Thầy có thể chia sẻ thêm với bạn đọc và học tró cũ của Thầy về những ngày xưa thân ái ấy không?
CAO THOẠI CHÂU (CTC):
Tôi vào nghề năm 1963 khi mới 22. Trường dạy đầu tiên là trường Thủ Khoa Nghĩa tại Châu Đốc tỉnh An Giang, khi ấy có tên khác là Châu Phú, đường phố hẹp nhà nhiều tầng thật quá hiếm. Và tại thị xã này tôi bắt đầu thực sự tiếp xúc với vùng đất gọi là Lục tỉnh hay miền Tây, với lối sống, ngôn ngữ mà thực sự trước đó tôi chỉ biết có Sài Gòn, nơi dễ hòa tan mọi thứ. Còn tại nơi tôi vừa đến, tôi như cục đường thả vào ly nước nhưng không tan ngay mà cứ rõ nét ra giữa đường và nước như một sự bơ vơ những chiều biên giới.
Cái tuổi 22 vào thời kỳ đó dường như chưa được chuẩn bị chín mùi cho một người làm thầy. Một trải nghiệm của tôi là, dù ở tuổi ấy nhưng nếu đã hay đang yêu thì người ta “chững chạc” hơn, ổn định hơn, ứng xử ra tấm ra món hơn. Còn tôi, chỉ những học là học không một bạn gái nào cho nên khi vào nghề tôi rơi ngay vào mâu thuẫn phải làm một người lớn khi tuổi còn chưa trưởng thành. Gần một năm đầu nhìn, tiếp xúc với nữ sinh cứ lấn cấn như với một… thiếu nữ!
Ở trường ấy và nhất là địa phương ấy, vào thời ấy, một người nói giọng Bắc là điều bất lợi; là một người có máu văn nghệ sẽ cộng chung bất lợi thêm vào. Tổng số này sẽ tăng hơn khi tôi không tự nhủ phải tuân thủ những quy định tủn mủn bởi không hề có ý tiến thân trong thang bậc của nghề.
Học sinh của tôi khi ấy không hiểu sao chúng đều to cao khỏe mạnh, lác đác những cái hũ chìm và ống khói, nghịch ngơm và đang bị “nhuộm” màu Sài Gòn, rõ nhất là mê làm thơ viết truyện! Một lần, tôi cùng một nhóm những Phạm Yến Anh, Hà Văn Nghĩa, Láng, Trạc… cùng với một vài người đã rời trường như Ngy Do Thái, Song An Châu… ra một giai phẩm! Hình như đó là “Thế kỷ mới” gì đó. Tôi lo phần tìm người vẽ bia và in ấn tại Sài Gòn. Cũng còn quá trẻ, tôi gánh phần này mà quên rằng in từng ấy cuốn báo phải có tiền! Không hiểu bằng cách nào tôi in thiếu được ở một nhà in nhỏ và quen, sách lấy ra, phần gửi về Chân Đốc, phần giữ lại Sài Gòn và tôi đã làm việc không mấy thầy giáo nào dám làm là dẫn theo một số học sinh, xin vào các trường Sài Gòn để… bán! Lỗ to và tôi mang nợ với ông chủ nhà in cả năm sau mới trả hết! Cái ranh giới thầy trò lúc ấy hình như đã bị gạt sang một bên, không phải vì tôi yêu chuyện viết lách mà chỉ vì… tôi chưa trưởng thành! Và tôi phải trả giá!
Thành cái gai trong mắt một số người. Cuối cùng, chỉ hai năm sau đó người ta bẻ cái gai ấy…Những ngày ở Châu Đốc quả là một thời giống như cổ tích…

LTT:
Vâng, rồi khi nào Thầy bắt đầu chìm vào cõi thơ văn? Khi về Châu Đốc, lúc bấy giờ Thầy đã có thơ văn đăng trên các tạp chí văn học nghệ thuật ở Sài Gòn chưa? Ngoài ra, trong bài thơ Bài Giảng Khai Trường có hai câu:"Chúng ta bây giờ như những mộ bia / Ghi đầy đủ những người đã chết…" có phải là bài thơ của buổi Thầy dự ngày khai trường đầu tiên của mình ở trường Thủ Khoa Nghĩa không?
CTC:
1/ Trước khi xuống Châu Đốc tôi đã có thơ đăng ở các nhật báo với bút danh khác,tức là chỗ không thể tiến xa.
2/ Bài thơ anh nêu tôi làm ở Pleiku năm 1970 tức đã xa Châu Đốc mấy năm rồi.

LTT:
Thầy còn nhớ kỷ niệm nào về bút danh “Cao Thoại Châu”?
CTC:
Ở trường Thủ Khoa Nghĩa này tôi có bút danh như ngày nay và bài thơ đầu tiên ký bút danh ấy. Cái duyên là, một lần tôi làm thơ ký TN, vô tình mấy học trò đến lúc bản thảo để trên bàn. Một cô học trò đệ Tam coi nhưng không nói gì về thơ mà nói về bút danh, cách gợi ý xa xôi của cô làm tôi nhận ra mình đang ở đâu (Châu Đốc), chữ lót tên cô học trò và họ Cao của tôi… trong một phút bất chợt hình thành bút danh dùng hết đời tôi. Thật hên, với bút danh này thơ tôi được các báo đăng như người đã thành danh! Châu Đốc đã cho tôi một món quà vô giá như thế đó.
Chỗ ngồi của nhà giáo thời chiến
Tuổi hai mươi bước vào nghề giáo
Dẫm lên chông gai những lối mòn
Thầy nhủ thầm mình làm nhân chứng
Cho sự chán chường chạy khắp châu thân

Quê các em có núi có sông
Có máu chảy loang từng cánh đồng
Có trận tuyến trên nhiều cây số
Các em đào dần khoảng trống trong tim

Thầy dạy các em tình yêu sông núi
Yêu đồng bào tổ quốc quê hương
Nhưng trót giấu đi bề ngang bề rộng
Và trọn bề sâu của nỗi cô đơn

Các em say mê con người sáng tạo
Mê áo cơm và Thượng đế trên trời
Thầy dậy các em về lòng dũng cảm
Làm người chân thành mãi mãi không thôi

Rồi một đêm khoác áo ra đường
Với nỗi sầu với phẫn nộ như điên
Đạn vẫn nổ ầm phá tung đêm lạnh
Máu vẫn chảy hoài trên mỗi bản tin

Bảng với phấn và Thầy tự nhiên vô dụng
Và bơ vơ giữa bóng tối xây thành
Các em sau này lớn lên mỗi đứa
Đứng nơi nào trong cuộc chiến tranh ?

Cao Thoại Châu
Châu Đốc 1963.

LTT:
Ở trên Thầy có kể:"Học sinh của tôi khi ấy không hiểu sao chúng đều to cao khỏe mạnh, lác đác những cái hũ chìm và ống khói, nghịch ngơm và đang bị “nhuộm” màu Sài Gòn rõ nhất là mê làm thơ viết truyện!” Thấy có nhắc đến những Phạm Yến Anh, Hà Văn Nghĩa, Láng, Trạc… cùng với một vài người đã rời trường như Ngy Do Thái, Song An Châu… Rồi sau này Thầy có tên trong bút nhóm nào khác không? Các bút danh như Phạm Yến Anh, Ngy Do Thái có phải do Thầy đặt tên cho học trò của mình không?
CTC:
Tôi chỉ có 1 mình, không bao giờ có bút nhóm nào hết cả. Tôi và các em ấy chỉ tụ lại có một lần đó thôi. Các bút danh ấy hoàn toàn do các em tự chọn.

LTT:
Kể ra cũng đã hơn sáu mươi năm vui thú cũng như lăn lộn với nàng thơ, nếu phải nhìn lại những đoạn đường, Thầy thấy vào những thời khắc nào thầy làm thơ hứng thú nhất? Và nếu phải tự đánh giá các tác phẩm của mình như nhà văn Nguyễn Hiến Lê tự nhận định các tác phẩm của ông, Thầy sẽ nhận định các tác phẩm của mình như thế nào?
CTC:
Tôi hiểu hai từ "thời khắc" của anh là giai đoạn, thời kỳ. Tôi không có một giai đoạn nào làm thơ hứng thú nhất bởi vì… lúc nào cũng hứng thú cả, Với tôi, đó là những khoảnh khắc "lên đồng"! Nhận định vế các tác phẩm của tôi? Nhường lại cho người đọc, tiện hơn!

LTT:
Dường như vài ba năm trở lại đây Thầy viết nhiều về văn xuôi như tùy bút, ký sự, tiểu luận; dĩ nhiên là một nhà thơ thành danh từ những năm 1960, Thầy thấy các trang văn xuôi của mình có là một cách viết mới hơn so với thơ không?
Ngoài ra, theo thiển ý của tôi, nhạc là phải hát, vọng cổ phải ca và thơ phải ngâm thì mới diễn đạt được hết những chất say đấm nồng nàn trong từng câu ca lời nhạc và các vần thơ mà các bậc nghệ sĩ đã để hồn mình vào các cung bậc thiết tha u trầm ấy. Và Thầy có thích nghe ngâm thơ không?
CTC:
Văn xuôi cũng như thơ của tôi, nhận định về chúng là việc làm của người đọc chứ không phải của tôi! Có thích nghe ngâm thơ.

LTT:
Là một người trẻ làm thơ giữa những năm chinh chiến, Thầy có bài thơ tình nào trong thời chinh chiến ấy không? Thầy nghĩ gì về thơ tình Miền Nam giữa những mùa binh lửa ấy?
CTC:
Mãi đến ngoài hai mươi tuổi- chính xác là lâu hơn thế- tôi mới có bài thơ tình đầu tiên cho mình. Đúng ra, trước đó cũng có được đôi bài nhưng là thơ tình “cóc gặm” của một cậu học trò thích lang thang hơn bám trường bám lớp. Thơ tình miền Nam trước 1975 là một mảng của tấm lụa là gấm vóc chứ không phải “hiện sinh chủ nghĩa” hiểu một cách bệnh họan là “yêu cho gấp và yêu bất kể chết ” như một số “nhà nghiên cứu” quy chụp đâu. Say đắm một cách đắm say, mới mẻ và kinh thánh, và khổ nỗi cũng có nhiều nỗi buồn thời đại quá, tôi vẫn nghĩ thế khi nhớ lại một thời thơ tình miền Nam.
Khi nhà thơ và cũng là người thầy của tôi, Nguyên Sa, tung ra hình ảnh này “Hôm nay Nga buồn như con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trong tay anh” là ông đã tham gia vào lớp người mở một khu vườn mới cho thơ tình giai đoạn đất nước vừa chia cắt, mà theo tôi là nhà thơ mang ở bên Tây về nóng hổi. Hình ảnh “chó ốm” trong hình dung thi ca là sự làm nũng của một cô gái được yêu và “ngái ngủ” phải chăng là chú mèo nấn ná không muốn ra khỏi vòng tay đầy hơi ấm của người vuốt ve nó? Và đó là hình tượng mới, “đời” hơn những gì cách điệu ước lệ trước kia.Có điều là khi gieo xuống Sài Gòn nó lại rất Việt Nam, nghĩa là rất thơ và rất… người! Trong trí nhớ tôi – một người đọc thơ mẫn cán và chuyên nghiệp- vẫn còn sự bồi hồi của một cảm xúc như tiếng gió reo nhè nhẹ rồi vù vù không thiếu phần cổ trang trong mô tả một nhan sắc “Em đi như vẽ trên đường nắng / Em nói như đàn trong miệng ai” của Hòang Trúc Ly, thì hai người thi sĩ này bên tám lạng bên nửa kí lô gram! Người con gái ấy chuyển động theo hướng “đi, nói” sao mà diễm lệ đến thế, không xao lòng nhận lấy những ba động mà được chăng? Mấy câu khác “Em giấu đi những nỗi lòng vỡ rạn / Anh cũng thề giấu hết gió mưa đi/ Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê/ Những ngõ vắng tối tăm anh giấu hết” ( thơ Hoàng Anh Tuấn) thì cũng là gió mới ở Tây về , nghe trái tim nhân bản vô cùng.
Sài Gòn những năm sau 1954 đang có một làn gió văn chương hiện sinh thổi vào, qua ngả giảng đường đại học hoặc do các tiệm sách lớn, và nơi tiếp nhận chính là văn chương tại chỗ. Người ta bắt đầu làm quen với cảm xúc mới mẻ này “Đời sống ôi buồn như cỏ khô/ Này anh, em cũng tợ sương mù/ Khi về tay nhỏ che trời rét/ Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ” ( Nhã Ca), thì đấy, không đấu tranh, không cuồng vội, chỉ là thơ và người thôi! Thơ tình miền Nam chào giã biệt một thời đại thi ca – thường gọi là Thơ Mới- mà không cần đến lễ lạc hoặc một sự hủy diệt nào, để ra riêng cho mình một cơ ngơi hiện đại.
Đất nước bị chia cắt thì than ôi, có những cuộc tình bị chia thành hai nửa “ Hai đứa mình hai bến sông sâu/ Dây thép gai giăng mắc ngang cầu/ Đôi tay anh cuốn tròn thương nhớ / Đôi mắt em buồn như mưa ngâu ”. Nếu tôi không quán xuyến được hết, thì theo tôi, “dây thép gai” lần đầu tiên có mặt trong thơ miền Nam là ở mấy câu này của Hoàng Khanh đăng trên báo khoảng năm 1958.
Chẳng bao lâu thì chiến tranh bùng phát ngày một khốc liệt và dai dẳng. Nó động đến từng gia đình và thanh niên bị cuốn vào cơn lốc đó, không có ngoại lệ cho những người cầm bút. Một cuộc chiến tranh mà cả những người không thích nó cũng phải mặc áo lính như một bổn phận công dân. Nguồn xúc cảm của thi ca không thể ở nhà khi tác giả ra đi và những lo âu, thậm chí những đổ vỡ trong các cuộc tình hiện dần trên báo.Những nhà thơ thời ấy họ rất thật tình và ngay thẳng, bom đạn và chết chóc đe dọa những mối tình đẹp và họ đã không nói khác đi- họ ngay thẳng và thật tình. “Anh trở về hàng cây nghiêng ngã/Anh trở về hòm gỗ cài hoa/Anh trở về bằng chiếc băng ca/Trên trực thăng sơn màu tang trắng” (…) “Mai anh về em sầu thê thiết/Kỷ vật đây viên đạn màu đồng/Cho em làm kỷ niệm sang sông/ Đời con gái một lần dang dở” ( thơ Linh Phương) như một tâm trạng chung của nhiều thanh niên cùng thời với tác giả. Có thể về trong hai cách đấy và có thể ( nay gọi là nhiều khả năng) người ở nhà nhận một kỷ niệm như viên đạn bắn cho không chết nhưng ngắc ngoải tan hoang! Tình yêu và hạnh phúc thường xuyên trong tình trạng khẩn cấp như một thành phố nào đó bị thiết quân luật!
Còn không thì lối về cũng chẳng hanh thông gì “ Tôi về ngơ ngác đôi tay/chân đi hồn rã áo bay lạ người/vẫn mình trên phố ngược xuôi/nghe trong cơn rộn tiếng đời héo hon /mai đây bỏ lại phố phường/bụi se cát mỏi trên đường tôi đi” ( thơ Lâm Chương) – ở đâu về và rồi đi đâu trong những năm tháng dang dở mộng chưa thành ấy?
Khi 26 tuổi tôi mất một mối tình cũng trong tình cảnh chung đó, nên tôi hiểu và trọng sự vội vã và cái quyền bị lung lay này “… em hỡi em/người anh yêu/anh có quyền hôn em lúc này/bởi ngày mai anh trở ra mặt trận/ở đó, anh không thiếu một thứ gì/kể cả máu/chỉ duy có thứ này/hãy viện trợ cho anh/đó là giọt lệ em xanh biếc…” nhà thơ bị mất một chân vì mìn nổ Luân Hoán đã viết như tiên tri thế ấy. Không thiếu một thứ gì, máu thì nhiều không kể xíêt giống như cái chết lởn vởn xung quanh, trong cảnh tượng đó, những “giọt lệ em xanh biếc” bỗng trở thành một thứ khát khao dù rằng lệ hay máu thì cũng là bi thương thôi. Tôi nghe một sự lẩn quẩn giữa hai dòng nước này của con người Thời chiến tranh là nền cho nhiều bài thơ tình mang dấu ấn của nó , có điều là tính hùng tráng hay bi tráng mà thôi.”Tặng cho em trái lựu đạn cay/Hạch nước mắt của thời đại mới/Thứ nước mắt không buồn không vui/Đang ràn rụa trên mặt anh chờ đợi/Tặng cho em cuộn dây thép gai/ Thứ dây leo của thời đại mới/ Đang leo kín tâm hồn ta hôm nay/ Đó là tình yêu anh, em nhận đi đừng hỏi/ Tặng cho em cuộc chiến tranh đang tàn/ Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ/ Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm/ Nơi vải xô không đủ để chít đầu con trẻ”. ( thơ Trần Dạ Từ). Những thứ dùng để hạ sát được nhà thơ mang làm tặng vật như tặng cho nhau một tâm trạng thừa mứa những vô vọng nghịch lý của một thời. Bài thơ này dường như thay lời muốn nói cho cảm quan nghệ thuật trước cuộc sống bị đắp bờ bao của phẫn nộ. “Tặng vật tỏ tình” không hùng tráng mà bi tráng thấy rất rõ- và chắc hẳn không ít người có thời đã coi như bài thơ viết cho mình, thậm chí “ứng” vào mình. Mấy câu khác của Hồ Minh Dũng “Còn ba năm nữa anh sẽ về/ Anh biết chắc không còn quê hương để ở/ Em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu Làm bằng nắp hòm người lính nghèo/ Chết ngoài mặt trận” nghe có vẻ như báo động một tương lai khi nhà thơ hết hạn kỳ đối diện với chết chóc, nhưng sao đó lại không là thơ tình viết bằng trái tim người làm thơ bị cuốn vào cuộc chiến?
Chiến tranh là hòa bình bị dán đè lên một mảnh giấy, ai cũng biết thế và ai cũng nuôi  trong lòng một hy vọng ngày mảnh giấy rơi xuống. Nhà thơ vốn là người bén nhạy hơn “ Và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng/Không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm/ Ba giờ sáng xuống Ngã tư quốc tế / Ăn một tô mì thơm ngát bình yên” ( Phạm Cao Hoàng). Thật tuyệt vời cho tô mì ăn vào phút đầu tiên của hòa bình! Nó như một niềm hân hoan bé mọn không ít lần bị hụt hẫng. Phải đã từng có mặt ngòai phố , đứng ở một gốc cây, sau một tảng đá, trong giờ giới nghiêm mới hình dung ra được ảo ảnh một phút giây hòa bình là thế nào.
Thơ tình thời chiến không phải là mảng chánh yếu trong thơ tình trước 1975 của thành thị miền Nam, nhưng tràn ngập trên các báo là thơ lọai ấy. Những bài thơ đấy như một sự bộc phát cá nhân, không một định hướng nào, một sự khích lệ cũng không. Người đọc thơ nhận ra cái đáng yêu của những nhà thơ phải ra trận, họ không là tráng sĩ ra biên cương, chỉ là những thân phận người thời chiến, một đôi khi chịu nhận thiệt thòi- một cuộc tình như nói ở trên, chẳng hạn- và họ chuyển hóa thành thơ với nguồn cảm hứng, những hình tượng còn tươi ( thay vì chế biến) là họ có lòng tự trọng và chân thật. Rồi “đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính/ mang trong đầu những ý nghĩ trong veo / xem cuộc chiến như tai trời ách nước” (thơ Nguyễn Bắc Sơn). Và, với tôi, đây là những câu thơ tình hay nhất của một thời đại trong thi ca miền Nam:
Người yêu tôi ở tận đồng bằng
Tôi đánh điện về nàng xin hỏi cưới
Ông già vợ chịu thằng trai tứ chiếng
Cho nàng theo cầm bước chân tôi
Nàng đứng đưa tay chờ đợi chân đồi
Tôi chạy xuống ôm chầm hôn tới tấp
Ðám cưới không nhà cao nhà thấp
Không áo quần lễ lạc xênh xang
Tôi quá nghèo chỉ bộ đồ xanh
Dăm thằng bạn quen nhau thời khốn khó
Nàng thì thào bên tôi cần gì thứ đó
Miễn tình anh vô lượng như thơ anh
(thơ Trần Hoài Thư )

Thơ tình thời chiến ở miền Nam trước 1975- hiểu gọn là thơ “Sài Gòn”- không có không khí hào hùng nhưng đó là một nét đẹp bởi nó chân thật, làm nên một giai đọan thi ca đáng lưu giữ và trân trọng, nó có tính lịch sử rõ ràng. Tuy nét đó là một nỗi buồn có phần bị động, khó lòng nói hết.

LTT:
Thầy thấy sao về dòng thơ hôm nay kể cả thể cách và ý tưởng so với thơ trước đây ở Sài Gòn, có khác nhau nhiều lắm không?
CTC:
Thi ca mang tính thời đại, tôi nghĩ thế. Thật khó có thể nghĩ gì theo nghĩa so sánh về thơ hôm nay và thơ trước hôm nay. Chỉ có thơ “thật’ và thơ “giả làm thật” thôi!

LTT:
Vâng, vậy có thơ "thật" và thơ "giả làm thật" nữa sao Thầy? Xin Thầy chia sẻ thêm một chút về hiện tượng này.
CTC:
Anh ơi, "Trung ngôn nghịch nhĩ", "Sự thật mất lòng"…mà "trái tai, mất lòng" thì…làm sao sống? Thế nhé!

LTT:
Khởi đi từ Châu Đốc và cũng để kết thúc cuộc trò chuyện này, xin Thầy cho biết sau 60 năm qua rồi, Thầy còn nhớ gì về Châu Đôc và có lần nào Thầy trở lại thăm Châu Đốc không?
CTC:
Tôi nhớ nhưng không trở lại nơi ấy vì lâu rồi, người năm xưa giờ chẳng còn mấy ai. Nếu còn thì đó cũng là những người “già” bị thời gian và thời thế làm cho già mà tôi lại chỉ thích người trẻ!

LTT:
Xin chân thành cảm ơn Thầy đã bó công sức và thời giờ chia sẻ cùng học trò cũ và bạn đọc về một khoảng đời dạy học và làm thơ của Thầy dài có tới hơn sáu mươi năm trôi qua rồi và kính chúc Thầy luôn luôn dồi dào sức khỏe, an vui, hạnh phúc.
Trân trọng kính chào Thầy.
CTC:
Cảm ơn anh LTT.

Lương Thư Trung Houston ngày 10 tháng 08 năm 2013

 Nguồn: http://damau.org/archives/29259

Không có nhận xét nào: